www.canhthep.com Please click
    Trang Chính   Diễn Ðàn   Hình Ảnh   Mới Đăng   Đọc Nhiều   Hội Ngộ   Thư Riêng   Hướng Dẫn   Việt Ngữ   Ghi Danh     Login 
    Welcome Guest  
  iMessenger
 Start up Instant Messenger! Instant Messenger
  Mới Đăng
• New! Phiên điều trần luận tội khiến phe Dân...
• New! Nữ Phi Công Gốc VNCH và Tham Vọng Một... Click to watch this video from YouTube
• Chó con có đuôi trên đầu ở tiểu bang Missouri, Mỹ
• Bao năm giải phóng như thế này phải không em?
• Trăn Trối
  Tin Tức 
• Bầu Cử HĐQT/CĐNV Tự Do tiểu bang Nam Úc Click to watch this video from YouTube
• Adelaide - Nam Úc Biểu Tình Chống Văn Hoá Vận CSVN Click to watch this video from YouTube
• Băng đảng "Việt Kiều Đỏ"...
• Hoa Kỳ muốn bắt sống thủ lĩnh của IS
• Cảnh sát tìm xe tải thứ nhì sau vụ 39 tử thi
  Bình Luận 
• New! Lão quái thay đổi hay phá bĩnh?
• New! Ngoại trưởng Mỹ: Mỹ đương đầu với...
• Jackie Chan, Một Công Cụ Tuyên Truyền Chính...
• Tổng thống Trump đánh ISIS
• Ác giả Ác báo
  Thông Báo 
• New! Ký Tên Thỉnh Nguyện Thư Tái Cứu Xét Hiệp... Last replied by TuDo
• HỘI TƯƠNG TRỢ KHÔNG QUÂN VNCH
• Kêu gọi tham gia ủng hộ cuộc biểu tình...
• Picnic 2019 - Hội KQ VNCH TB Washington
• PICNIC Hội KQ Đông Bắc Hoa Kỳ 2019
  Vì Nước 
• TỔ MẸ VC NẰM VÙNG. Last replied by phusinh Click to watch this video from YouTube
• Đứa Con Trai Lưu Lạc Của BS Quân Y Hy Sinh...
• Lisa Phạm 9/26/2019 Click to watch this video from YouTube
• 30 Câu Nói Đóng Đinh Chủ Nghĩa Cộng Sản... Click to watch this video from YouTube
• Nhà thơ Trương Chi
  Quân Sử 
• Tướng Lãnh VNCH Click to watch this video from CanhThepVideo
• Lịch Sử Hình Thành của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa Last replied by vnaf.kanga
• Sư Đoàn IV Không Quân (từ thuở sơ khai)
• Lịch Sử Và Nhân Chứng
• Mười Bảy Vì Sao của Không Quân VNCH
  Tiểu Sử 
• Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn - Đánh tới viên... Click to watch this video from YouTube
• Nguyễn Văn Đông & Một Thoáng Xuân Phai Click to watch this video from YouTube
• Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn
• Tướng (General) Ngoại Quốc Đầu Tiên Gốc Việt ?
• Nhà Thơ Trần Ngọc Nguyên Vũ ...Là Ai ?
  Tài Liệu 
• New! Lực Lượng Hải Tuần Và Phòng Vệ Duyên Hải Click to watch this video from YouTube
• F5 Freedom Fighter - The Great Plane Click to watch this video from YouTube
• Phù Hiệu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Click to watch this video from YouTube
• Vì Sao Mỹ Thà Bỏ Rơi VNCH Chứ Không Bỏ Nam Hàn! Click to watch this video from YouTube
• Cánh bay trong Không Quân VNCH
  Hoa Kỳ 
• New! Phiên điều trần luận tội khiến phe Dân...
• Đảng Cộng hòa sẵn sàng bảo vệ TT Trump...
• Nikki Haley hồi ký tiết lộ “Âm mưu lật...
• Đảng Dân Chủ đau đầu
• Tin vắn trong tuần NOVEMBER 9 – 2019
  Việt Nam 
• New! Bao năm giải phóng như thế này phải không em?
• New! Khốn khổ đổ nợ vì qua Mỹ làm chui,...
• Ma tăng “tỵ thế” Last replied by cadanduc
• Danh tính 39 nạn nhân trong vụ xe container...
• Mỹ thu hồi hơn 43,000 pound thịt gà ác...
  Phim Ngắn 
• New! Nữ Phi Công Gốc VNCH và Tham Vọng Một... Click to watch this video from YouTube
• 5 Vua Hề Về Làng 1974 Click to watch this video from YouTube
• Nắng Chiều (1973) Click to watch this video from YouTube
• Chỉ Có Ở Miền Bắc VN Click to watch this video from YouTube
• Chợ Lớn, Q.5, Gần Đại Thế Giơi Ngập Click to watch this video from YouTube Last replied by dbuikhac
  Quốc Hận 30/4 
• New! Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đồng Minh Việt Nam Cộng...
• Chuồng Người
• Bài Thơ Của Một Anh Thương Binh...
• Đại Tá Đinh Văn Đệ - NHỮNG KẺ ĂN CƠM...
• Những tên Việt cộng nằm vùng
  Anh Hùng VNCH 
• New! Lễ An Táng 81 Thiên Thần Mủ Đỏ Click to watch this video from YouTube
• Văn Tế 81 Chiến Sĩ Nhảy Dù Lâm Nạn Năm 1965
• DI VẬT CỦA NGƯỜI LÍNH BIỆT ĐỘNG QUÂN
• Kính tặng Phi Long 51 Đại Úy Trần Văn Phúc . Click to watch this video from YouTube
• LÁ THƯ PLEIME
  Chuyện Đời Lính 
• New! Trận An Lão và Đời Bay Bổng
• Ông Sáu Lèo và Sài Gòn 68
• Cuộc Gặp Gỡ Buổi Chiều Ở Bùng Binh Ngã Sáu
• Con Bướm Đen
• Lam Son 719 (part 1) Click to watch this video from YouTube
  Hùng Ca 
• New! Quân Nhạc Quân Lực VNCH Click to watch this video from YouTube
• Cố nghệ sĩ Thanh Nga trong vai Thái hậu... Click to watch this video from CanhThepVideo
• Hội Nghị Diên Hồng - Đoàn Trống La San Click to watch this video from YouTube
• Hùng Ca Sử Việt - Xuất Quân Click to watch this video from YouTube
• Đại Phá Quân Thanh Click to watch this video from YouTube
  Nhạc 
• Có Phải Con của MC Nguyễn Ngọc Ngạn Click to watch this video from YouTube
• LK Lê Uyên Phương Click to watch this video from YouTube
• Saigon Nhớ, Saigon Thương Click to watch this video from YouTube
• Thu Quyến Rũ - Sĩ Phú (Đoàn Chuẩn - Từ Linh) Click to watch this video from YouTube
• Người Ở Lại Đưa Đò Click to watch this video from YouTube
  Cảm Tạ 
• Thư Cảm Tạ của Gia Đình Cố Đại Tá Nguyễn Đình Giao
• Thư cảm tạ của Gia đình Nguyễn Văn Trường
• Thư Cảm tạ của gia đình Nguyễn-Văn-Trừ Hổ-Cáp 528
• Thư cảm tạ của Gia đình Bà Lê Đức Nga
• Thư Cảm Tạ của Gia Đình Cố Nhạc Mẫu 70A Đỗ Chương
  Gia Chánh 
• Gà đút lò.
• Trồng Rau Cần Nước Trong Vườn Last replied by tmh
• Món ăn Tàu kiểu Hồi Giáo ở Artesia
• Cơm Hến Click to watch this video from YouTube
• Cần xào thịt bò - Nhậu bá cháy luôn Click to watch this video from YouTube
  Truyện Ngắn 
• New! Thương nhớ một dòng Sông - Tha phương...
• Tha Phương – Lập Nghiệp ( Một )
• Người tù chung thân vượt ngục
• Một Bức Tường, Hai Khát Vọng
• TÔI PHỤC VỤ PHI ĐOÀN 225 Last replied by vnaf.kanga
  Tùy Bút 
• New! Niên Trưởng Nguyễn Văn Phẩm - Người...
• Người đạo tỳ khóc biển
• NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY
• Giấc mơ nước Mỹ: Hàng rào hoa
• Jeans - Tinh Thần Tiên Phong Và Tự Do
  Thể Thao 
• WOMEN'S WORLD CUP : NỮ CẦU THỦ MỸ MEGAN RAPINOE Click to watch this video from YouTube
• Tour de France 2018.
• 2016 - 2017 NFL Playoff Picture Last replied by IceMan
• Tranh giải Tennis với HAHKQVNCH - TCali Last replied by hung45htqs
• Monday Night Football 9-26-2011
  Sưu Tầm 
• New! Tìm Hiểu Ý Nghĩa Bức Linh Ảnh Đức...
• Tuổi Xuân Huy Hoàng, Tuổi Già Hiu Quạnh
• 45 Câu Nói Dưới Đây Của Người Do Thái,...
• Tình Người
• SỰ THẬT NƠI ĐÁY GIẾNG
  Ðọc Nhiều
•  Tổng Thống Ngô Đình Diệm 
•  NATO CÁM ƠN TT TRUMP 
•  Anh Hùng Không Quân Lý Tống 
•  Biệt Kích Dù 
•  Thư mời tham dự F5 "Không Gian Ngày Tháng Đó" 
Ðôi dòng ghi nhớ (Hồi ký chính trị 1963 - 1975)
   Diễn Đàn » Hồi Ký Post  Search    
Page 1 of 2Previous page 12 Next page    
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 14:06 Collapse   Print  
Dưới đây là hồi ký chính trị trong khoảng thời gia 1963 - 1975 của cựu đaị tá Pham Bá Hoa, tham mưu trưỏng Tiếp Vận của QLVNCH. Trong hồi ký này, chúng ta được biết thêm nhiều điều quan trọng trong chiều dài Lịch Sử VNCH chúng ta.



Lời trần tình

*****

Kính thưa quí vị,

Trước khi bắt đầu tôi rất đắn đo, vì muốn ghi lại sự kiện trung thực ít nhất cũng là trung thực với tôi về những gì mà tôi biết và những gì mà tôi làm, tất nhiên là khó tránh khỏi những đụng chạm đến quí vị, đặc biệt là với cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên, và cựu Ðại Tướng Nguyễn Khánh.

Riêng với cựu Ðại Tướng Khiêm và cựu Ðại Tướng Viên, là hai vị mà tôi luôn ghi nhớ nghĩa ân. Tôi không có một thân nhân hay một bạn bè nào quen biết khi vào quân ngũ tháng 5 năm 1954. Tháng 11 năm 1961, đang trong trách nhiệm Trưởng Ban hành quân/Phòng 3 Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, tôi được Ðại Tá Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang, cử giữ chức Chánh Văn Phòng. Tháng 10 năm 1965, tôi được Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cử giữ chức Chánh Văn Phòng. Nhờ vậy mà tôi có nhiều cơ hội tiếp xúc với nhiều vị Tướng Lãnh, nhiều giới chức trong các cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp, học hỏi được những căn bản trong tổ chức và quản trị.

Tôi biết có những vị gần như mai danh ẩn tích từ khi đến Hoa Kỳ sau ngày đất nước vào tay cộng sản 30 tháng 4 năm 1975, nhưng tôi xin phép được nhắc đến quí vị trong tập sách, và tôi chỉ nói đến quí vị ở khía cạnh quí vị là những vị lãnh đạo Quốc Gia, lãnh đạo Quân Lực, chớ tôi không nói đến những riêng tư của quí vị. Tôi xin tôn trọng phần riêng tư đó. Về những gì tôi viết vào đây, có thể có sự kiện nào đó mà quí vị cho là không chính xác, nhưng theo tôi, tôi thấy đã đủ thận trọng trong cách nhìn của tôi khi viết những trang sách nhỏ này. Biết đâu, có những điều mà tôi nói lên được sự thật liên quan đến quí vị mà nhiều chục năm qua chính quí vị cũng chưa biết đến, và cũng có thể tôi làm sáng tỏ được điều gì đó đối với dư luận dù rằng quí vị cho là có hay không có cũng chẳng sao.

Thế hệ chúng ta đã học nhiều bài học quí báu từ trong lịch sử, và vận dụng vào bổn phận công dân trong trách nhiệm bảo vệ quốc gia. Rồi đây, những thế hệ sau chúng ta, cũng cần đến lịch sử mà thế hệ chúng ta sẽ là một phần quan trọng trong đó, và quí vị là thành phần quan trọng hơn hết trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975.

Lịch sử một dân tộc không thể tự nhiên mà có. Muốn có được lịch sử, tôi nghĩ, sau chặng đường phục vụ quốc gia dân tộc, mỗi người trong bất cứ lãnh vực nào của xã hội, cần viết lại trên giấy trắng mực đen về những hiểu biết xác thực của mình trong từng phạm vi trách nhiệm lúc đương thời, và viết với một trạng thái tâm hồn thật bình thản. Từ đó, những nhà viết sử gom góp lại, chọn lọc, phân tách, đánh giá, và tạo nên những dòng sử qua từng giai đoạn thăng trầm của đất nước. "Tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian", không phải người này tạo cho người kia, hay ngược lại, mà mỗi người trong xã hội tự tạo cho chính mình qua những nghĩ suy, những phương tiện diễn đạt, và trong những môi trường hành động.

Tôi không dám nghĩ đây là một sử liệu, nhưng tôi cố gắng ghi chép đúng theo trí nhớ của tôi, để các sử gia may ra tham khảo được đôi điều trong khoảng thời gian nghiêng ngả của đất nước, mà thuở đó, quyền lực nằm trong tay quí vị. So với ấn bản lần 1, lần 2, và lần 3, ấn bản lần 4 này có vài sắp xếp lại về cách trình bày và bổ túc thêm một số chi tiết, vì 1.600 trang giấy học trò mà tôi lén lút viết lại trong thời gian bị giam ở trại tập trung Nam Hà trên đất Bắc, lén lút gởi về gia đình cất giữ, và khi đoàn tụ với gia đình tôi vẫn tiếp tục viết, đến nay tôi đã nhận đầy đủ từ Việt Nam gởi sang. Cùng với những sự kiện mà cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng từ năm 1970 đến năm 1975, và cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1965 đến năm 1975, hai vị cho tôi biết thêm nhân khi vợ chồng tôi đến Virginia hồi đầu tháng 9 năm 2003, thăm hai vị và gia đình, và trong những năm sau đó.

Xin quí vị vui lòng, và trân trọng kính chào quí vị.

Houston, Texas, Hoa Kỳ, tháng 8 năm 1994,
Viết xong ngày 15 tháng 8 năm 1994.
Bổ túc lần 1, mùa Thu năm 1995.
Bổ túc lần 2, mùa Thu năm 1998.
Bổ túc lần 3, mùa Ðông năm 2001-2002.
Bổ túc lần 4, mùa Ðông năm 2003-2004.
Bổ túc lần 5, mùa Ðông năm 2005-2006.
Bổ túc lần 6, mùa Xuân năm 2007.
Cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa

Lời nói đầu

*****

Trong bối cảnh quốc tế sau thế chiến thứ hai 1939-1945, do ảnh hưởng lớn lao của hai siêu cường Hoa Kỳ với Liên Xô, đã tạo thành khối các quốc gia Tự Do và khối các quốc gia Cộng Sản. Bên cạnh đó là những quốc gia nhỏ về thế lẫn lực, cố ngồi lại với nhau và hình thành khối thứ ba thường gọi là khối Trung Lập.

Trong khung cảnh gia đình, mức thu nhập hằng tháng hằng năm không đủ chi tiêu dù là tối thiểu, phải nhờ đến sự giúp đỡ của thân nhân thân quyến hay bạn bè bằng hữu. Mà khi nhờ vả thì ít hay nhiều cũng phải chịu ảnh hưởng của người ấy về mặt này mặt khác. Với hình ảnh đó ở cấp bậc quốc gia cũng vậy, còn cộng thêm những phức tạp về chính trị quốc gia quốc tế nữa. Xin nhớ rằng, trong bang giao quốc tế không có vấn đề tình cảm mà chỉ có vấn đề quyền lợi quốc gia là trên hết. Vì vậy, khi đã vay mượn hay xin xỏ của nước nào, phải chịu ảnh hưởng về những sinh hoạt của nước đó đối với quốc gia mình, thậm chí có những chính sách của họ không liên hệ đến mình mà mình vẫn phải ủng hộ, và khi đã chịu ảnh hưởng thì ý nghĩa của Trung Lập không còn nữa.

Khi nhìn nhận như vậy, rõ ràng là các quốc gia trong khối thứ ba nói trên không có khả năng Trung Lập. Do đó mà sự hình thành của khối thứ ba này chẳng qua là gượng ép, nếu không nói là do sức ép từ thế lực bên ngoài để tăng thêm thế chính trị cho họ. Tôi muốn nói đến một thế đứng chính trị: "hoặc khối Tự Do hoặc khối Cộng Sản". Còn tuyên bố Trung Lập mà quốc gia chỉ trông vào viện trợ hay trợ giúp nhân đạo để tồn tại, đó là tính chất dối trá trong lãnh đạo đối với đồng bào, và khi lãnh đạo dối trá thì không xứng đáng lãnh đạo đồng bào của họ nữa. Lãnh đạo cộng sản Việt Nam là một trong những nhóm lãnh đạo đó.

Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đứng hẳn vào khối Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo. Ðó không phải là cách chọn lựa lý tưởng, nhưng khi phải chọn lựa giữa hai điều xấu, ta phải chọn điều xấu ít. Nhưng chịu ảnh hưởng những chính sách của Hoa Kỳ là một việc, mà bản lãnh chính trị của những vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa trong việc tận dụng tối đa những chính sách đó vào mục đích tăng thêm hay ít ra cũng phải bảo vệ quyền lực và lợi ích quốc gia, lại là việc khác. Ðó là cốt lõi của lãnh đạo.

Lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa chúng ta kể từ giữa năm 1954, đã lần lượt trong tay các vị: Ông Ngô Ðình Diệm, Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Kỹ sư Phan Khắc Sửu, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Giáo sư Trần Văn Hương, và Ðại Tướng Dương Văn Minh (lần hai). Nhiệt tình của những vị lãnh đạo trên đây đối với quốc gia dân tộc dù nhiệm kỳ của hai vị sau cùng cộng lại chỉ hơn một tuần lễ, đều đáng được ca ngợi, nhưng vị nào đã để lại tiếng thơm muôn đời hay lời sỉ nhục lưu mãi trong sử sách, truyền mãi trong dân gian, xin tùy quí vị quí bạn. Xa hơn nữa là phán xét của lịch sử.

Với quyển sách này, tôi xin ghi lại những lệnh mà tôi nhận, những việc mà tôi làm, và những gì mà tôi nghĩ, qua những lệnh và những việc làm đó trong các biến cố chính trị từ năm 1963 đến cuối năm 1966. Rồi năm cuối cùng của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà lãnh đạo nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chiếm trọn Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, ký ức và tài liệu mà tôi ghi chép lúc đương nhiệm, còn lưu giữ được đôi điều. Vì giới hạn trong phạm vi trách nhiệm nên không có được tính cách tròn vẹn của mỗi biến cố, nhưng hy vọng là nội dung này có khả năng giúp quí vị quí bạn nhận ra những nét trung thực khi lần theo mỗi sự kiện trong từng biến cố.

Cũng xin nói thêm rằng, tôi chưa từng viết văn, cũng không biết viết văn, nên văn chương ở đây rất luộm thuộm. Kính mong quí vị quí bạn vui lòng xem nội dung quyển sách này như là một chuyện kể, nhớ đâu kể đó.

Và bây giờ kính mời quí vị quí bạn vào chuyện kể . . .
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 14:07 Collapse   Print  
- một -

Ðảo Chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963

*****

Ngày 8 tháng 5 năm 1963, Phật tử thành phố Huế biểu tình trước đài phát thanh đòi được treo cờ Phật Giáo trong ngày Phật Ðản, đã bị đàn áp bằng bạo lực gây thiệt hại nhân mạng, nhưng hành động bạo lực này có dư luận nghi vấn là không do chánh quyền địa phương thực hiện.

Vài ngày sau đó, Thượng Tọa Thích Tịnh Khiết, vị lãnh đạo tối cao của Phật Giáo đã gởi bản Tuyên Ngôn lên chánh phủ, trong đó, Phật Giáo đòi được hưởng chế độ ngang hàng với Thiên Chúa Giáo. Chánh phủ đã bắt giam nhiều chức sắc lãnh đạo của Phật Giáo tại nhiều nơi, nhất là tại Huế.

Trung tuần tháng 6 năm 1963, Thượng Tọa Thích Quảng Ðức, trụ trì một ngôi chùa nhỏ vùng Phú Nhuận, Sài Gòn, đã tự thiêu tại góc đường Lê Văn Duyệt và Phan Ðình Phùng, trung tâm thủ đô Sài Gòn, trước các ống kính của rất nhiều nhà báo Việt Nam và ngoại quốc. Rồi sau đó, lần lượt thêm bảy tám vụ tự thiêu nữa tại các tỉnh. Không khí chính trị sôi sục với những cuộc mít tinh biểu tình của đông đảo sinh viên học sinh, đồng bào -nhất là đồng bào Phật tử- lác đác có cả quân nhân viên chức và cảnh sát nữa. Nhiều phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình ngoại quốc -nhất là Hoa Kỳ- đến Việt Nam ghi nhận và đánh giá tình hình.

Thiết quân luật.

Trước khi hết giờ làm việc chiều ngày 20 tháng 8 năm 1963, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, gọi tôi vào văn phòng:

"Tối nay, chú với mấy chú văn phòng làm việc tại đây. Chú cho mấy chú luân phiên về dùng cơm rồi trở lại ngay. Chú cần hỏi gì thêm không?"

"Có cần ngủ lại đây không, thưa Thiếu Tướng?"

"Có thể không cần. Sẽ có lệnh sau"

Ðây là lần đầu tiên kể từ khi cầm quyền ngày 7 tháng 7 năm 1954, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ra lệnh Bộ Tổng Tham Mưu ban hành lệnh thiết quân luật trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn để Cảnh Sát cùng mật vụ bao vây các chùa, tìm bắt Thượng Tọa Thích Trí Quang, vị sư được xem là lãnh đạo Phật Giáo. Nhưng Thượng Tọa Trí Quang đã vượt rào vào khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ và được phép tạm trú nơi đây.

Thế là, từ đòi hỏi trong bản Tuyên Ngôn không được giải quyết, đến các vụ tự thiêu để phản đối chánh phủ, rồi đến vụ nhà cầm quyền vây bắt hụt Thượng Tọa Thích Trí Quang, dần dần đẩy Phật Giáo đến cuộc tranh đấu vừa ôn hòa vừa bạo động tại hầu hết các tỉnh miền Trung và một số tỉnh miền Nam, đã làm cho tình hình chung của Việt Nam Cộng Hòa trở nên tệ hại hơn hết, kể từ sau Hiệp Ðịnh Ðình Chiến Genève tháng 7 năm 1954.

Ðó là phản ứng quyết liệt của giáo hội Phật Giáo và nhiều Phật tử trên toàn quốc.

Với một tình hình như vậy, đã làm cho hầu hết các nước trong khối Tự Do, kể cả Hoa Kỳ là quốc gia ủng hộ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm mạnh mẽ nhất, đều phản đối chính sách tôn giáo trong hành động đàn áp bắt giữ các chức sắc Phật Giáo và Phật tử Việt Nam. Trước dư luận quốc nội lẫn quốc tế, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm khó mà biện minh chính sách kỳ thị tôn giáo, cho dù lệnh cấm treo cờ Phật Giáo cũng như lệnh dùng bạo lực trực tiếp hay không trực tiếp do Tổng Thống ban hành cũng vậy. Vì thuở ấy, quyền lực rất lớn trong tay hai em của Tổng Thống là ông Ngô Ðình Nhu "Cố Vấn Chính Trị", và ông Ngô Ðình Cẩn "Cố Vấn Chỉ Ðạo Miền Trung".

Ông Ngô Ðình Diệm, được Quốc Trưởng Bảo Ðại mời về Việt Nam vào giữa năm 1954 và nhận chức Thủ Tướng ngày 7 tháng 7 năm 1954. Thật ra, từ trong hậu trường chính trị, ông Ngô Ðình Diệm đã được Hoa Kỳ ủng hộ.

Ông Bảo Ðại là vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn, đã bị Việt Minh cộng sản cưỡng bách thoái vị từ mùa thu năm 1945. Ðến năm 1949, chánh phủ Pháp đưa về Việt Nam (từ Pháp) nhận chức Quốc Trưởng do Pháp đề cử dù là có những cuộc hội họp của các nhà chính trị Việt Nam như là sự vận động với Pháp, để giúp cho cuộc chiến tranh xâm lược lần hai của thực dân Pháp, khả dĩ có màu sắc cuộc chiến tranh nội bộ của Việt Nam, mà nước Pháp có mặt để "giúp đỡ"(!) Việt Nam chống cộng sản. Với chức vụ cao nhất nước cho dù bị giới hạn quyền hành, nhưng ông đã không tận dụng thực dân Pháp để vừa xây dựng quốc gia non trẻ vừa chống lại chủ nghĩa cộng sản đang bắt rễ tại Việt Nam, mà ông lại sống trên đất Pháp nhiều thời gian hơn là có mặt trên quê hương Việt Nam đầy sóng gió!

Trong khi đó, Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm với sự ủng hộ của Hoa Kỳ, ông bắt đầu có những chống đối Quốc Trưởng, điển hình là Thủ Tướng không sang Pháp (!) trình diện Quốc Trưởng. Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm xúc tiến tổ chức cuộc trưng cầu ý dân vào ngày 23 tháng 10 năm 1955. Kết quả, cựu hoàng Bảo Ðại bị truất phế khỏi chức Quốc Trưởng, và Thủ Tướng Diệm trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam từ ngày 26 tháng 10 năm 1955. Từ đó, ngày này được chọn làm ngày Quốc Khánh hằng năm. Tiếp sau, Tổng Thống Diệm công bố: "Việt Nam là một nước Cộng Hòa", và danh xưng của Việt Nam là "Việt Nam Cộng Hòa".

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong những năm đầu cầm quyền, với sự ủng hộ mạnh mẽ của Hoa Kỳ, đã được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận và thiết lập bang giao. Ông đã ổn định được cuộc sống cho non một triệu người từ miền Bắc chạy trốn chế độ cộng sản trước khi chúng tiến vào các thành phố trên đất Bắc theo Hiệp Ðịnh đình chiến Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954. Hiệp Ðịnh này chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17 mà trên địa thế là sông Bến Hải với cầu Hiền Lương. Từ vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo chế độ độc tài do đảng cộng sản Việt Nam cai trị. Từ vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa theo chế độ dân chủ tự do. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cũng đã cải thiện được tình hình kinh tế xã hội trong mức độ khả quan.

Về quân sự. Theo sự cố vấn của phái bộ quân sự Hoa Kỳ, quân đội đã được tổ chức lại và phát triển từ cấp Tiểu Ðoàn lên cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, Quân Ðoàn, trên căn bản quân đội trong chiến tranh qui ước. Mọi dụng cụ chiến tranh trang bị cho quân đội, đều do Hoa Kỳ cung cấp.

Về chính trị. Ông đã thành công đáng kể trong nỗ lực ôn hòa lẫn sử dụng võ lực trong mục đích đem lực lượng võ trang của Bình Xuyên, của Hòa Hảo, và Cao Ðài về hợp tác hoặc giải thể. Lực lượng võ trang Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Ðài, là hai lực lượng chống cộng sản quyết liệt.

Ðó là sự thành công bước đầu không ai phủ nhận được. Nhưng, dần đần về sau, chế độ dưới quyền Tổng Thống, trong một mức độ nào đó, đã thể hiện tính cách "gia đình trị", bởi vì ngoài Tổng Thống ra, còn có:

- Thứ nhất, em trai Ngô Ðình Nhu trong chức vụ Cố Vấn Chính Trị, và vợ ông Nhu là bà Trần Lệ Xuân, rất nhiều quyền lực trong tay, một phần có thể là Tổng Thống Diệm vẫn còn độc thân nên vị trí của bà trong một mức độ nào đó, như đệ nhất phu nhân.

- Thứ nhì, em trai Ngô Ðình Cẩn trong chức vụ không hề có trong tổ chức quốc gia là Cố Vấn Chỉ Ðạo Miền Trung, ông sống độc thân. Là người không có văn bản bổ nhiệm nhưng lại có toàn quyền đối với các tỉnh duyên hải miền Trung, đặc biệt là các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên/Huế, Quảng Nam Ðà Nẳng, Quảng Tín, và Quảng Ngãi. Quyền lực của ông có thể ví bằng "vị sứ quân" của 5 tỉnh này.

- Thứ ba, anh trai Ngô Ðình Thục, Giám Mục địa phận Vĩnh Long, và từ năm 1960 là Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Huế. Tuy là chức sắc lãnh đạo trong tôn giáo, nhưng tiếng nói của ông ảnh hưởng rất lớn đối với công việc chánh quyền mà các em của ông nắm giữ.

-Thứ tư, em trai Ngô Ðình Luyện, Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Anh quốc, được xem là người ít dính dáng đến những tệ hại mà các anh của ông gây ra trên quê hương Việt Nam.

Khi viết lại đoạn trên đây tôi vẫn hiểu rằng, anh em thân thuộc với Tổng Thống, (hay Thủ Tướng, Bộ Trưởng, Tướng Lãnh, ..v..v.. ), tự đó không phải là cái tội, vì vị lãnh đạo không bổ nhiệm người này cũng phải bổ nhiệm người khác. Chỉ khi nào, người thân thuộc đó lợi dụng quyền lực người thân đã bổ nhiệm mình mà ngang nhiên hành động vi phạm luật pháp, lúc đó là có tội. Khi tội trạng phơi bày, người đó có bị luật pháp trừng phạt như bất cứ người công dân nào khác hay không, là vấn đề cần được đánh giá đúng mức.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và hai em của ông là Ngô Ðình Nhu và Ngô Ðình Cẩn, đã lần lượt loại trừ một số nhà chính trị đối lập qua những hành động trong khuôn khổ luật pháp lẫn ngoài luật pháp.

Rồi đến những lời lẽ cứng rắn của bà Trần Lệ Xuân -em dâu ông- tại các diễn đàn quốc tế cũng như quốc nội, đặc biệt là trong thời gian xảy ra cuộc đàn áp Phật Giáo nhiều nơi trên toàn quốc. Bà đã nhiều lần chỉ trích công khai với vẻ miệt thị và tàn nhẫn về những vụ tự thiêu của các nhà sư phản đối chánh quyền.

Những sự kiện đó đã đưa người dân từ ủng hộ chánh phủ lúc đầu, dần dần trở nên bất mãn, đến mức căm thù chế độ mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm là người trách nhiệm chính.

Vậy, sự kiện đàn áp Phật Giáo ngày 8 tháng 5 năm 1963 và những hành động tệ hại tiếp theo, là nguyên nhân quốc nội dẫn đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Tôi nói "nguyên nhân quốc nội", vì theo tôi, còn có "nguyên nhân quốc tế" nữa.

Ðảo chánh.

Ngày 01 tháng 11 năm 1963, ngày lễ "Các Thánh" (All Saints), quân đội được nghỉ buổi sáng. Khoảng 7 giờ sáng, chuông điện thoại nhà tôi reo:

"Ðại Úy Hoa tôi nghe".

"Chú đến nhà tôi ngay".

"Vâng. Tôi đến ngay, thưa Thiếu Tướng".

Ðó là Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa. Nhà tôi và nhà ông cùng ở trong khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo -tức Bộ Tổng Tham Mưu- cách nhau khoảng vài trăm thước. Ông ở khu nhà lầu, tôi ở khu nhà trệt.

"Chào Thiếu Tướng".

"Chú lấy ghế ra sân với tôi".

Hoàn toàn khác lạ với mỗi lần tôi đến nhận lệnh, nên tôi nghĩ ngay đến một vấn đề gì đó phải là quan trọng lắm, bởi thường khi chỉ ngồi trong nhà. Thiếu Tướng Khiêm và tôi cùng ngồi ở góc sân sát hàng rào:

"Chú nghe đây. Lệnh mà tôi sắp cho chú là lệnh tối mật, nếu chú tiết lộ thì chú bị đứt đầu trước tôi. Chú không được nói với bất cứ ai, kể cả vợ chú và chú Có. Chú nghe rõ chưa?"

"Tôi nghe rõ, thưa Thiếu Tướng".

Chú Có mà Thiếu Tướng Khiêm vừa nói là Trung Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Khiêm từ năm 1960. (Trung Úy Có nói ở đây, trùng họ tên lẫn chữ lót với Ðại Tá Nguyễn Hữu Có lúc ấy. Năm 1975, Trung Úy Có là Ðại Tá, Phụ Tá Võ Phòng/Phủ Thủ Tướng).

"Hôm nay, tôi và một số vị Tướng Lãnh đảo chánh ông Diệm. Và những việc sau đây chú phải làm xong trong buổi sáng. Thứ nhất, đây là danh sách mời dùng cơm trưa tại câu lạc bộ (Bộ Tổng Tham Mưu). Thức ăn do chú sắp xếp. Nhớ, các vị được mời phải có mặt tại câu lạc bộ đúng 12 giờ hoặc trước đó chút ít. Thứ nhì, đây là danh sách mời họp tại phòng họp số 1 (tầng trệt trong tòa nhà chánh). Yêu cầu các vị này có mặt tại phòng họp chậm nhất là trước 1 giờ trưa. Ðúng 1 giờ, chú cho lệnh Quân Cảnh khóa cửa lại và không ai được ra vào bất cứ vì lý do gì khi chưa có lệnh tôi. Cả hai danh sách này, nếu chú không liên lạc được với bất cứ ai hoặc có gì trở ngại thì chú trình ngay cho tôi. Ðến đây chú rõ chưa?"

"Vâng. Tôi rõ, thưa Thiếu Tướng".

"Và thứ ba. Chú tổ chức an ninh chu đáo khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu, bằng cách sử dụng Ðại đội 1 Quân Cảnh (của Tổng Tham Mưu) và các thành phần an ninh của Tổng Hành Dinh (Tổng Tham Mưu). Tất cả các cổng đóng lại, tuyệt đối không được mở, riêng cổng số 1 -tức cổng chánh- bất cứ ai ra hay vào đều phải trình tôi. Lệnh của tôi xong, chú có gì cần hỏi không?"

"Thưa Thiếu Tướng, lý do mời họp tôi phải nói thế nào để không bị ngờ vực?"

"Tùy chú. Nhớ, chỉ một chút sơ hở là chú đứt đầu đó. Thôi, chú vào văn phòng làm việc đi".

Khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo có các cổng số 1 hướng ra giao lộ Vờ Tánh và đường Cách Mạng, cổng số 2 và số 5 hướng ra đường Võ Tánh, cổng số 10 hướng ra đường Cách Mạng, cổng số 3 và số 4 hướng ra đường Võ Di Nguy.

Ðảo chánh.

Ðến lúc ấy thì đây là lần thứ hai tôi nghe thấy trong đời binh nghiệp. Lần thứ nhất, xảy ra vào nửa đêm về sáng ngày 11 tháng 11 năm 1960, lúc đó tôi đang học tham mưu tại Trường Ðại Học Quân Sự, tọa lạc trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu. Nhóm lãnh đạo cuộc đảo chánh thất bại vì không được sự ủng hộ của các vị Tư Lệnh đại đơn vị. Ðại Tá Trần Thiện Khiêm, Quyền Tư lệnh Quân Khu 5 kiêm Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, đưa quân từ Sa Ðéc và lực lượng Sư Ðoàn 7 Bộ Binh từ Mỹ Tho, về đẩy lui lực lượng đảo chánh. Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi -Tư Lệnh Nhẩy Dù- và các sĩ quan trong thành phần lãnh đạo đảo chánh, đã dùng phi cơ vận tải quân sự C.47 bay sang Nam Vang -thủ đô Cam Bốt- xin tị nạn chính trị.

Và lần đảo chánh này, dù muốn hay không muốn, tôi cũng phải can dự vào cho dù là can dự như một sĩ quan thừa hành tin cậy. Lệnh tối mật mà tôi vừa nhận quả là bất ngờ và phải thi hành trong thời gian cấp bách, với lại dù diễn đạt như thế nào đi nữa thì tôi cũng là người chịu ơn Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, cho nên tôi không hề nghĩ cũng như không kịp nghĩ đến điều sắp thi hành là sai hay đúng, và nên hay không nên làm. Bởi Thiếu Tướng Khiêm không hề biết tôi, ngược lại tôi cũng chưa một lần phục vụ dưới quyền ông, cho đến khi ông về nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tại Bến Kéo tỉnh Tây Ninh vào đầu tháng 2 năm 1960, thay thế Trung Tá Trần Thanh Chiêu bị cách chức sau vụ Trung Ðoàn 32 Bộ Binh bị quân cộng sản đột kích lúc 3 giờ sáng ngày 29 tháng 1 năm 1960 tại Trảng Sụp, cách tỉnh lỵ Tây Ninh khoảng 6 cây số về phía bắc, gây tổn thất nặng nề về vũ khí với một số tổn thất nhân mạng. Lúc đó, tôi đang là Trung Úy, trưởng ban hành quân/Phòng 3 Sư Ðoàn.

Vài tháng sau đó, Sư Ðoàn được lệnh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chuyển xuống Quân Khu 5, hoạt động an ninh vùng Ðồng Tháp Mười. Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn trở lại nơi đồn trú cũ là quận lỵ Sa Ðéc. Ðến giữa năm 1960, Ðại Tá Khiêm được Tổng Thống cử giữ chức Quyền Tư Lệnh Quân Khu 5 tại Cần Thơ kiêm Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tại Sa Ðéc, thay Ðại Tá Nguyễn Văn Y chuyển về trung ương. Tháng 4 năm 1961, lãnh thổ quân sự được tổ chức lại thành 3 Vùng Chiến Thuật do 3 Quân Ðoàn trách nhiệm:

"Quân Ðoàn I/Vùng I Chiến Thuật tại Ðà Nẳng, bao gồm 5 tỉnh cực bắc duyên hải. Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến Thuật tại Plei ku, bao gồm các tỉnh Cao Nguyên và các tỉnh duyên hải phía nam. Quân Ðoàn III lâm thời/Vùng III Chiến Thuật tại Sài Gòn, bao gồm các tỉnh vùng đất chuyển tiếp miền nam và trọn vùng đồng bằng Cửu Long".

Những tháng cuối năm 1961, tôi được thăng cấp Ðại Úy và được cử giữ chức Chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh mà vị Tư Lệnh là Ðại Tá Trần Thiện Khiêm. Sư Ðoàn đã chuyển sang đồn trú tại Cần Thơ và trách nhiệm Khu 33 Chiến Thuật, cũng gọi là Khu Chiến Thuật Hậu Giang. Ngày 6 tháng 12 năm 1962, Ðại Tá Trần Thiện Khiêm thăng cấp Thiếu Tướng, đồng thời được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu, thay Thiếu Tướng Nguyễn Khánh lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến Thuật. Chức vụ "Tham Mưu Trưởng Liên Quân" là chức vụ mới thành lập, trước đó chỉ là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Ngày 17 tháng 12 năm 1962, tôi thuyên chuyển theo Thiếu Tướng Khiêm về Bộ Tổng Tham Mưu, và từ ngày đó, tôi giữ chức Chánh văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Vì vậy mà tôi thi hành nhiệm vụ tối mật này một cách tích cực.

Trở lại việc thi hành lệnh của Thiếu Tướng Khiêm. Ðầu tiên, tôi gọi Trung Úy Nguyễn Hữu Có và các nhân viên vào văn phòng. Trung Úy Có có trách nhiệm liên lạc với quản lý câu lạc bộ lo bữa ăn trưa. Tiếp đó là điện thoại đến Ðại Ðội 1 Quân Cảnh (trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu):

"Tôi, Ðại Úy Hoa đây. Anh cho tôi nói chuyện với Trung Úy Phụng, Ðại Ðội Trưởng (Nguyễn Thúc Phụng)".

"Vâng. Ðại Úy chờ một chút". Hạ sĩ quan trực trả lời.

"Chào Ðại Úy, tôi Phụng đây. Ðại Úy đang ở đâu đó?"

"Chào anh. Tôi đang ở văn phòng. Anh Phụng à, trong vòng 3 tiếng đồng hồ tới đây, anh có thể tập trung tất cả anh em hay ít nhất cũng là tối đa quân số của Ðại Ðội được không?"

"Dạ được".

"Vì vấn đề an ninh trong trại Trần Hưng Ðạo hôm nay, anh phải cố gắng hết sức nghe anh. Khi tập họp xong hoặc chậm lắm là 10 giờ 30, anh điện thoại lại tôi để nhận lệnh chi tiết. Anh có gì cần hỏi thêm không?"

" Có chuyện gì vậy Ðại Úy?"

"Lệnh của Thiếu Tướng như vậy chớ tôi không biết gì hơn anh đâu. Thôi nghe. Anh lo phần anh, tôi còn vài việc khác nữa. Chào anh".

Tôi mời Thiếu Tá Nguyễn Văn Luông, Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đến văn phòng. Thiếu Tá Luông, năm 1958 là Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 35 Bộ Binh/Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến, đồn trú tại Kon Tum. Lúc đó, tôi là Trung Úy, trưởng ban 3 kiêm trưởng ban 5 Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn này. Thì ra Thiếu Tá Luông đã nhận lệnh của Thiếu Tướng Khiêm rồi, nhưng tôi vẫn nói thêm chi tiết về an ninh:

"Thưa Thiếu Tá, với Ðại Ðội 1 Quân Cảnh, tôi đã điện thoại cho Trung Úy Phụng rồi. Xin Thiếu Tá đúng 1 giờ trưa, đóng tất cả các cổng lại và đưa lực lượng bảo vệ đến bố trí ngay lúc đó. Cổng số 2, 3, 4, 5, và 10, tuyệt đối không mở cho đến khi có lệnh. Riêng cổng số 1, lệnh của Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng là bất cứ giới chức nào muốn ra hay vào, xin Thiếu Tá hoặc trưởng toán Quân Cảnh điện thoại vào tôi và chờ tôi trình Thiếu Tướng".

"Vấn đề an ninh tòa nhà chánh, anh lo hay tôi lo?"

"Thưa Thiếu Tá, tôi phụ trách. Ðể cho rõ ràng, an ninh trong phạm vi trại Trần Hưng Ðạo thì Thiếu Tá trách nhiệm, riêng phạm vi tòa nhà chánh tôi lo. Về lực lượng, xin Thiếu Tá cho tôi 2 chiếc Thiết Giáp AM/M8 lên tăng cường cho tôi cùng với 2 tổ đại liên đặt trên nóc tòa nhà chánh. Xin nhắc lại, tất cả mọi việc chỉ được thực hiện ngay trước lúc 1 giờ trưa. Xin Thiếu Tá vui lòng chỉnh lại đồng hồ để có giờ thống nhất. Thiếu Tá còn cần gì không?"

"Ðể tôi về lo ngay cho kịp. Chào anh nghe".

"Chào Thiếu Tá".

Lần lượt tôi điện thoại các vị trong danh sách 1, tức là danh sách mời dùng cơm nhưng thật ra là quí vị trong nhóm đảo chánh, mà hầu hết các vị này đều biết trước. Kế tiếp, tôi mời các vị trong danh sách 2, tức danh sách mời họp nhưng thật ra sẽ bị giữ để cách ly với cuộc đảo chánh. Vì trục trặc với hai vị trong danh sách 2, tôi điện thoại đến Thiếu Tướng Khiêm:

"Trình Thiếu Tướng, tôi Hoa đây. Tôi đã điện thoại xong, nhưng có trở ngại là không liên lạc được với Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền -Tư Lệnh Không Quân- và Ðại Tá Hồ Tấn Quyền -Tư Lệnh Hải Quân- Theo người nhà của hai vị ấy cho biết, thì Ðại Tá Hiền đang trên không trình Sài Gòn-Ðà Lạt, tôi có dặn người nhà trên đó khi Ðại Tá Hiền đến nơi thì điện thoại về tôi gấp. Còn Ðại Tá Quyền thì người nhà nói có lẽ đã đi lễ nhà thờ, nhưng tôi gọi đến nhà thờ Ðức Bà nhờ người tìm mà không gặp. Tôi sẽ cố gắng nhưng không chắc là tôi sẽ thực hiện được, thưa Thiếu Tướng".

"Chú ráng tìm hai ổng, phần tôi, tôi cũng tìm cách liên lạc".

"Vâng. Chào Thiếu Tướng".

Ðến đây xin mở ngoặc để nói thêm về Ðại Tá Hồ Tấn Quyền. Tối ngày 6 tháng 9 năm 2003, trong lúc dự tiệc cưới tại Washington DC, vợ chồng tôi ngồi chung bàn với cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng và cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại. Bỗng dưng ông Thoại nhắc đến vụ 1 tháng 11 năm 1963, vì sau ngày Ðại Tá Quyền bị giết ông nghe người nhà Ðại Tá Quyền nói là có một sĩ quan nào đó ở Tổng Tham Mưu điện thoại mời Ðại Tá Quyền đi họp không biết điều đó có đúng không? Vì nếu đúng thì có thể Ðại Tá Quyền không bị giết nếu ông ấy đi họp, dù rằng tối hôm ấy tôi được biết nếu có đi họp cũng bị cách ly với cuộc đảo chánh, nhưng cách ly có thể thoát chết.

Thế là tôi lên tiếng:

"Thưa Anh, người mời Ðại Tá Quyền hôm ấy là tôi. Người cầm ống nói đã trả lời cho tôi là Ðại Tá Quyền có thể đã đi nhà thờ Ðức Bà, nhưng sau đó tôi đã hai lần điện thoại đến nhà thờ nhưng không tìm thấy Ðại Tá Quyền".

"Ðại Tá Quyền chưa đến giờ đi nhà thờ nên trong sân tennis với tôi". Anh Thoại quay hẳn sang tôi và tiếp:

"Khi ông Lực, sĩ quan tùy viên, đến mời Ðại Tá Quyền lên Thủ Ðức dự tiệc mừng sinh nhật của Ðại Tá Quyền do anh em Hải Quân tổ chức trên đó, có lẽ thấy Ðại Tá Quyền chần chừ nên ông Lực nói tiếp: Ðại Tá ráng đi vì anh em muốn dành cho Ðại Tá sự bất ngờ nên không trình trước với Ðại Tá. Rồi Ðại Tá Quyền có vẻ nể nang nên lên xe đi. Và sau đó thì bị ông Lực giết chết. Nếu như người nhà điện thoại đến sân tennis báo tin Tổng Tham Mưu mời đi họp, rất có thể là Ðại Tá Quyền không bị giết như vậy".

Xin đóng ngoặc, và trở lại hoạt động trong văn phòng tôi.

Ðiện thoại reo:

"Ðại Úy Hoa tôi nghe".

"Phụng đây Ðại Úy. Tôi tập trung Ðại Ðội xong rồi, Ðại Úy có lệnh gì cho tôi?"

"Cám ơn Anh, và đây là chi tiết: Ngay bây giờ, anh sẵn sàng tại chỗ 3 Tiểu Ðội và tôi sẽ điều động công tác trong chốc lát. Ðiều quan trọng là 3 Tiểu Ðội này phải di chuyển ngay tức thì khi có lệnh. Phần còn lại của Ðại Ðội, anh liên lạc với Thiếu Tá Luông (Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu) để nhận lệnh. Anh cần biết gì thêm không?"

"Dạ không Ðại Úy".

"Xin anh đừng rời xa điện thoại nghe anh Phụng. Chào anh".

Chuẩn bị bữa ăn hôm nay, Trung Úy Nguyễn Hữu Có chu toàn trách nhiệm mặc dù anh không biết tại sao lại có bữa ăn bất thường này. Bữa ăn trưa hôm nay rất quan trọng, nhưng không quan trọng về thực khách mà là quan trọng ở điểm là ngụy trang cho buổi họp mặt tối mật của các vị trong nhóm lãnh đạo đảo chánh quân sự. Tôi nói ngụy trang, vì trong vòng 3 tuần lễ trước ngày này, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm thường có những buổi tối đi đâu đó mà tôi không biết chính xác mặc dù hệ thống liên lạc đặc biệt giữa tôi tại nhà, với toán cận vệ trên xe theo sau xe Thiếu Tướng mỗi khi ra khỏi nhà, chúng tôi giữ liên lạc thường xuyên nhưng vẫn không bám sát được vị trí của ông. Ðiển hình trong một tối, xe bắt đầu rời nhà Thiếu Tướng Khiêm, tôi được thông báo và mở máy liên lạc ngay. Một lúc sau:

"Hồng Hà. Hồng Hà. Bắc Bình gọi. Trả lời".

"Hồng Hà tôi nghe 5/5. Có gì cho tôi. Trả lời".

"Tôi dừng xe ở đường 45 (ám danh của đường Kỳ Ðồng), Bông Hồng đã có xe khác đón nhưng không rờ đi dâu, tôi chỉ được lệnh chờ tại chỗ. Nghe rõ trả lời?"

"Tôi nghe 5/5. Thi hành lệnh. Giữ liên lạc với tôi. Trả lời".

"Nghe rõ".

Xin nói thêm. Chữ "trả lời" ở cuối mỗi câu khi liên lạc vô tuyến là điều qui định khi học về Truyền Tin trong trường quân sự. Chữ này cũng có nghĩa "đến đây là hết câu".

Hồng Hà là danh hiệu của tôi. Bắc Bình là danh hiệu của toán an ninh. Và Bông Hồng là danh hiệu của Thiếu Tướng Khiêm. Tất cả chỉ dùng trong hệ thống liên lạc an ninh này mà thôi.

Một buổi tối khác. Thiếu Tướng Khiêm cũng đi một cách bí mật như vậy, trong lúc tôi tự đặt ra những giả thuyết và phân tách để tìm giả thuyết có thể chấp nhận được về hoạt động bất thường đó, thì chuông điện thoại nhà tôi reo:

"Ðại Úy Hoa, tôi nghe".

"Trung Tá Ðường đây, tôi có gọi đằng tư dinh Thiếu Tướng Khiêm để ông Cố Vấn (Ngô Ðình Nhu) nói chuyện với Thiếu Tướng nhưng không gặp. Ông Cố Vấn bảo tôi nói với anh và anh trình lại Thiếu Tướng Khiêm là tình hình Sài Gòn lúc này phức tạp lắm, bọn Việt Cộng tung những tổ đặc công vào nội thành, chuyên ám sát các tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp. Ông Cố Vấn dặn Thiếu Tướng không nên ra khỏi nhà sau giờ làm việc. Ðó là lệnh, anh rõ chưa?"

"Thưa Trung Tá, tôi rõ".

"Chào anh".

Ðó là Trung Tá Phạm Thư Ðường, Chánh văn phòng ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Ðến giờ phút này (tức giờ phút nhận lệnh của Trung Tá Ðường) thì tôi hiểu rằng, chẳng phải ông Cố Vấn lo cho những người dưới quyền, mà chính là ông muốn theo dõi những người dưới quyền ông có hành động gì có thể "phản trắc" đối với anh em ông hay không, vì tình hình ngày càng tồi tệ thêm và tự nó đã lung lay chiếc ghế cầm quyền của Tổng Thống lẫn của ông Cố Vấn. Cũng vì vậy mà trong thời gian xảy ra sự đối đầu của Phật Giáo với Chánh Phủ, dư luận từ các nhà chính trị đối lập nói về kế hoạch Bravo 1 của ông Cố Vấn Nhu, theo đó ông Cố Vấn Nhu dự định thực hiện cuộc đảo chánh giả để phát hiện và triệt tiêu những ai chống đối chế độ, không phải là không có cơ sở.

10 phút trước 1 giờ 00, tôi nhắc Thiếu Tá Luông chuẩn bị đóng các cổng cùng lúc với việc điều động lực lượng tăng cường cho các cổng. Mặt khác, tôi kiểm lại các vị trong danh sách 2. Và cho đến lúc này, vẫn còn thiếu Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền và Ðại Tá Hồ Tấn Quyền.

Ngay lúc trước 1 giờ 00, tình hình trong trại Trần Hưng Ðạo nói chung và tòa nhà chánh nói riêng, như sau:

- Tất cả các cổng số 1, 2, 3, 4, 5, và 10, đều đóng lại và lực lượng canh gác được tăng cường trước sự ngạc nhiên của các quân nhân thường trực. Chi Ðội Thiết Giáp bố trí đằng sau tòa nhà chánh và 2 khẩu đại liên đã sẵn sàng trên sân thượng.

- Bãi đậu xe hai bên hông tòa nhà chánh, mỗi bên có 1 Tiểu Ðội Quân Cảnh túc trực. Tiểu Ðội Quân Cảnh thứ 3, tập trung an ninh tầng lầu 2, bên cánh phải (tính từ trong tòa nhà chánh nhìn ra võ đình trường), nơi đó là văn phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, cũng là bản doanh của quí vị lãnh đạo đảo chánh.

Trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, rất đông các vị trong danh sách mời ăn trưa sau khi xong ở câu lạc bộ, như: Trung Tướng Dương Văn Minh, Trung Tướng Trần Văn Ðôn, Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng vì Ðại Tướng Lê Văn Tỵ đang dưỡng bệnh, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, cùng các vị Tướng Tôn Thất Ðính, Trần Tử Oai, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, ..... Ðại Tá Ðỗ Mậu -Giám Ðốc Nha An Ninh Quân Ðội- Ðại Tá Dương Ngọc Lắm, Ðại Tá Nguyễn Văn Quan, ......

Trong khi đó, văn phòng tôi và văn phòng Trung Úy Có, các sĩ quan tùy viên và hạ sĩ quan cận vệ, kẻ ngồi người đứng chật cả phòng, vì mỗi vị Tướng ít nhất cũng có 3 hay 4 người đi theo, nhất là trong tình hình này.

Ðúng giờ G, tức 1 giờ trưa ngày 01 tháng 11 năm 1963.

Cửa phòng họp số 1 đóng lại, 2 Quân Cảnh đứng gác bên ngoài. So với danh sách "mời họp" vẫn còn thiếu Ðại Tá Hiền và Ðại Tá Quyền.

Hướng Lữ Ðoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống (góc đường Thống Nhất-Cường Ðể-Hồng Thập Tự) và khu vực Phủ Tổng Thống -tức dinh Gia Long- súng bắt đầu nổ.

Trong văn phòng Thiếu Tướng Khiêm -bản doanh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng- âm thanh ồn ào hẳn lên cùng với sự đi lại nhiều hơn, do các vị điện thoại ra lệnh đơn vị này cơ quan khác, chen lẫn với bàn thảo tình hình.

Một lúc sau đó, tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm:

"Thưa Thiếu Tướng, tôi thấy giữ Ðại Tá Viên (Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù) dưới phòng họp không tiện lắm. Xin Thiếu Tướng cho phép tôi đưa Ðại Tá Viên lên ngồi ở văn phòng tôi và tôi chịu trách nhiệm".

"Ðược rồi. Chú đưa Ðại Tá Viên lên phòng chú đi".

Tôi quen biết chưa nhiều với Ðại Tá Cao Văn Viên, nhưng do bà Trần Thiện Khiêm nói lại, theo đó thì Thiếu Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Khánh, và Ðại Tá Viên rất thân nhau, nhất là khi ba vị này là sĩ quan cấp úy và cùng chiến đấu ở mặt trận Na Sản trên đất Lào trong hàng ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp. Và ba gia đình này cũng thân nhau từ đó, vì có nhiều thời gian sống chung nhau ở Hà Nội trong khi các ông cùng ở mặt trận. Do đó, tôi thấy cần giúp Thiếu Tướng Khiêm tránh điều khó xử đối với người bạn thân của ông bằng cách "giải thoát" Ðại Tá Viên ra khỏi phòng "tạm giữ". Nguyên nhân chỉ là vậy.

Ðại Tá Cao Văn Viên, năm 1960, đang giữ chức Tham Mưu Trưởng Tham Mưu Biệt Bộ/Phủ Tổng Thống, lúc đó là Trung Tá. Ngay sau cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960, ông được thăng cấp Ðại Tá và nhận chức Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù đang khuyết, vì Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi đã chạy sang Cam-Bốt tị nạn chính trị khi đảo chánh thất bại. Cũng vì vậy mà ông (Ðại Tá Viên) bị xếp vào thành phần tín cẩn của Tổng Thống Diệm, và bị giữ chân trong phòng họp số 1 cách ly với cuộc đảo chánh đang diễn tiến.

Ðến đây xin mở dấu ngoặc để nói thêm về cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên. Cũng nhân dịp dự tiệc cưới ngày 6 tháng 9 năm 2003 nêu trên, tôi có đến nhà thăm cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, sau đó dùng cơm tối với cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên tại nhà người bạn. Cựu Ðại Tướng Viên nói rằng:

"Những điều Anh (tức tôi) nói về cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 trong quyển sách của Anh về tôi là đúng, nhưng có những điều khác mà Anh chưa biết".

"Rất đúng, thưa Ðại Tướng. Tôi chỉ viết lại những gì mà tôi biết thôi, cho nên câu chuyện không tròn trịa được". Tôi trả lời, và cựu Ðại Tướng Viên nói tiếp:

"Trước khi Anh mời tôi lên ngồi văn phòng Anh, có người xuống gọi tôi lên văn phòng gặp ông Minh (tức Trung Tướng Dương Văn Minh, cấp bậc lúc bấy giờ), để nghe ổng nói là ổng đảo chánh Tổng Thống Diệm, rồi ổng hỏi tôi nghĩ sao? Tôi trả lời là chuyện lớn như vậy mà bây giờ Trung Tướng mới nói với tôi thì tôi đâu có quyết định được. Lúc ấy sĩ quan cận vệ của ông Minh lăm le khẩu súng về phía tôi như sẵn sàng bắn tôi. Tôi cũng nhắc lại với Anh là trước đó, tôi với một ông Ðại Tá mà tôi giấu tên (theo tôi biết thì đó là Ðại Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Ðịa Hình, tên gọi ngụy trang của cơ quan mật vụ) cùng gọi lên gặp Trung Tướng Minh, nhưng vừa ra khỏi phòng họp thì ổng bị còng tay dẫn đi và đã bị giết sau đó. Còn tôi cũng bị còng nhưng mới còng một tay thì Thiếu Tướng Ðính (Tôn Thất) chợt thấy, ổng bảo tháo còng ra, và sĩ quan đó dẫn tôi lên gặp ông Minh như tôi vừa nói. Tiếp đến mới nối vào chuyện của Anh mời tôi lên ngồi ở văn phòng Anh".

Ðến đây là hết lời kể của cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên. Tôi xin tiếp lời của một nhân chứng khác cũng liên quan đến sự kiện này. Tối 18 tháng 5 năm 2005, tại Houston, tôi dùng cơm với anh Trịnh Bá Lộc từ Arkansas đến thăm thành phố này. Trong bữa ăn đó còn có cựu Ðại Tá Lê Thuần Trí, và cựu Trung Tá Hoa Hải Ðường. Qua những câu chuyện trao đổi, trong đó có nói đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Lúc ấy, anh Lộc là Ðại Úy, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh. Và đây là lời trao đổi giữa tôi với anh Trịnh Bá Lộc.

Khi tôi thuật lại lời kể của cựu Ðại Tướng Viên lúc ông bị còng tay, anh Lộc nói:

"Ðại Tướng Cao Văn Viên bị còng tay ngay trước mặt Trung Tướng Minh, và tôi đứng bên cạnh. Lúc ấy đang đứng bên ngoài cửa văn phòng của Tổng Tham Mưu Trưởng, tức là trên tầng lầu 2 chớ không phải ở tầng trệt. Ðúng như Ðại Tướng Viên nói là ông bị Quân Cảnh mới còng một tay, và chính Trung Tướng Minh ra lệnh tháo còng ra".

"Vậy anh có biết ai ra lệnh còng tay không?" Tôi hỏi.

Anh Lộc đáp:

"Chính tôi cũng thắc mắc điều này, vì tôi hoàn toàn không biết ai ra lệnh".

Với lời của anh Lộc, sự kiện nho nhỏ này trở thành cái "gút". Vì cựu Ðại Tướng Viên nói là ông bị còng tay sau khi ra khỏi "phòng tạm giữ" ở tầng trệt của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, và Thiếu Tướng Ðính ra lệnh mở còng, trong khi anh Lộc thì nói Ðại Tướng Viên bị còng tay ở tầng lầu 2 và Trung Tướng Minh ra lệnh mở còng. Sự kiện tuy nhỏ, nhưng không rõ là vị nào nhớ đúng, vì một vị là "nạn nhân" còn vị kia là "nhân chứng". Tôi sẽ cố gắng tìm hiểu thêm về sự kiện này.

Anh Lộc còn kể lại mẩu chuyện ngắn về lá đơn của Ðại Tướng Viên gởi Tổng Thống Trần Văn Hương xin giải ngũ, mà tôi bổ túc vào "Lời nói cuối". Xin đóng ngoặc.

Khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ sau, điện thoại reo:

"Ðại Úy Hoa tôi nghe".

"Thưa Ðại Úy, có Thiếu Tá Trần Cửu Thiên vô phòng Tổng Quản Trị lãnh huy chương, và bây giờ xin ra cổng". Ðó là lời của trưởng toán Quân Cảnh ở cổng số 1.

"Anh chờ tôi đầu máy".

Tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm nhưng Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho tôi một cách lạnh lùng:

"Anh đem vô nhốt luôn cho tôi".

"Vâng".

Xin nói thêm. Tất cả các vị trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đều có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, nên mỗi khi tôi trình điều gì với Thiếu Tướng Khiêm, các vị khác đều nghe. Do vậy mà Trung Tướng Minh ra lệnh giữ Thiếu Tá Thiên trong khi Thiếu Tướng Khiêm chưa có phản ứng.

Một lúc sau, tôi gặp Thiếu Tá Thiên trong phòng vệ sinh có Quân Cảnh đi kèm, ông Thiên trừng mắt với tôi và không nói một lời cho dù tôi chào ông đến hai lần. Thiếu Tá Thiên rất được sự tín nhiệm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu sau khi Thiếu Tá Thiên được đánh giá là xây dựng thành công "khu trù mật" Vị Thanh-Hỏa Lựu thuộc tỉnh Phong Dinh (lúc bấy giờ chưa thành lập tỉnh Chương Thiện). Thiếu Tá Thiên là đảng viên đảng Cần Lao Nhân Vị mà ông Cố Vấn Nhu là lãnh tụ. Vì vậy mà Thiếu Tá Thiên -trong một chừng mực nào đó- đã xem thường ngay cả với Ðại Tá Khiêm khi Ðại Tá Khiêm đang là Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh/kiêm Khu 33 Chiến Thuật, chỉ vì Ðại Tá Khiêm không phải là đảng viên, cũng không phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo.

Lúc 3 giờ chiều, điện thoại tôi reo:

"Ðại Úy Hoa tôi nghe".

"Tôi là Hiền đây anh Hoa. Anh trình Thiếu Tướng xem bây giờ tôi đến còn kịp họp không?"

"Xin lỗi, Ðại Tá đang ở đâu đó?"

"Tôi đang ở Bộ Tư Lệnh Không Quân".

Ðấy là Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh Không Quân.

"Xin Ðại Tá vui lòng chờ đầu máy, tôi vào trình ngay".

Tương tự như khi tôi trình với Thiếu Tướng Khiêm về trường hợp Thiếu Tá Thiên, trình xong, Thiếu Tướng Khiêm chưa có phản ứng thì Trung Tướng Minh ra lệnh:

"Kêu qua nhốt luôn"

"Vâng".

Tôi báo cho Quân Cảnh phụ trách cổng số 1, mở cổng, và hướng dẫn Ðại Tá Hiền vào phòng họp, gọi cho đúng là "phòng tạm giữ".

Ðến lúc này thì điện thoại tôi reo liên hồi, hết ông Tỉnh Trưởng này đến vị Tỉnh Trưởng khác, hỏi thăm tình hình tại thủ đô ra sao? Nhóm đảo chánh có những vị nào? Có địa phương nào gọi về ủng hộ chưa? Các vị Tư Lệnh Quân Ðoàn Sư Ðoàn có ủng hộ không? ..v..v.. Tất cả những câu hỏi chỉ nhằm mục đích tìm hiểu thêm tình hình, để các vị ấy quyết định ủng hộ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm hay ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng. Thế thôi. Do vậy mới có thêm nhu cầu chuyển ngay các bản văn của địa phương ủng hộ Hội Ðồng sang đài phát thanh Sài Gòn để loan tin kịp thời. Thế là tôi có thêm đường dây điện thoại trực tiếp với đài phát thanh và hầu như tất cả những bản văn ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng của nhiều vị Tỉnh Trưởng, đều do tôi gợi ý. Và khi vị ấy đồng ý là tôi chuyển đến đài phát thanh qua điện thoại luôn. Nghĩa là từ lúc ông Tỉnh Trưởng đồng ý ủng hộ đến khi loan tin trên làn sóng, chỉ trong vòng 3 đến 5 phút.

Bất cứ biến cố nào cũng có người ủng hộ, người thì không, đó là lẽ đương nhiên. Trường hợp đảo chánh đang diễn tiến cũng vậy. Theo lệnh Thiếu Tướng Khiêm, tôi chuyển đến Truyền Tin:

"Hệ thống kiểm thính sẽ "chận bắt" trên làn sóng vô tuyến, các công điện gởi về Phủ Tổng Thống và trình lên văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân ngay. Còn trên hệ thống điện thoại viễn liên ngang qua tổng đài điện thoại Cộng Hòa trong khuôn viên bộ Tổng Tham Mưu, phải thu băng các cuộc đàm thoại, ghi chép lại và trình lên vào mỗi đầu giờ.

Bây giờ xin mời quí vị quí bạn cùng tôi rời bộ Tổng Tham Mưu để lên Biên Hòa, theo chân Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, lúc ấy Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lệnh. Những tin tức về hoạt động của Sư Ðoàn này liên quan đến ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, do Ðại Tá Lộ công Danh -năm 1963 là Thiếu Tá, trưởng phòng 3 Sư Ðoàn 5 Bộ Binh- kể lại cho chúng tôi nghe vào năm 1981, khi bị giam chung ở trại tập trung tù chính trị Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh, miền bắc Việt Nam. Chuyện kể như thế này:

"Khoảng trung tuần tháng 10 năm 1963, Ðại Tá Thiệu đã làm cho bộ tham mưu Sư Ðoàn, nhất là các sĩ quan Phòng 2 Phòng 3 rất ngạc nhiên. Lệnh hành quân ban hành trong thời gian thật ngắn, bộ tham mưu phải vất vả lắm mới thi hành xong những công tác tham mưu trong việc điều động 1 Trung Ðoàn Bộ Binh cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, và Công Binh Chiến Ðấu. Khi tất cả sẵn sàng để sáng mai hành quân, thì Ðại Tá Thiệu ra lệnh ngưng cuộc hành quân này và lập tức điều động lực lượng sang vùng khác.

Tuần lễ sau đó, lại chuẩn bị một cuộc hành quân khẩn cấp để rồi đến giờ chót lại thay đổi vùng hành quân, cũng là khẩn cấp! Chính Phòng 2 -phụ trách tình báo- cũng không hiểu vì sao lại chuyển vùng hành quân mà Phòng 2 chưa ghi nhận sự hiện diện một lực lượng nào của quân cộng sản ở đó cả.

Ngày 30 và 31 tháng 10 năm 1963, lại chuẩn bị hành quân vào căn cứ Bời Lời. Ðây là một căn cứ quan trọng của quân cộng sản, cho nên lực lượng tham dự gần 2 Trung Ðoàn Bộ Binh, 1 Tiểu Ðoàn Pháo Binh, lực lượng Thiết Giáp và Công Binh. Ðêm 31 tháng 10 rạng ngày 1 tháng 11 năm 1963, lệnh của Ðại Tá Tư Lệnh cho chuyển toàn bộ các đơn vị xuống hành quân vùng Phước Tuy (trên đường Sài Gòn-Vũng Tàu). Bộ tham mưu muốn điên đầu vì những thay đổi mà chính các sĩ quan trách nhiệm điều động và yểm trợ hành quân, cũng không sao hiểu nổi.

Sáng 1 tháng 11 năm 1963, các đơn vị, thay vì di chuyển về hướng Vũng Tàu như lệnh hành quân đã định, lại được lệnh dừng quân ở ngã ba xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn-Vũng Tàu, chờ lệnh mới.

Ðến 1 giờ trưa, lệnh mới được ban hành: Theo đó, các đơn vị chuyển hướng về Sài Gòn. Ngoài lực lượng của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, còn có một lực lượng Thiết Giáp xuất phát từ Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp (đồn trú ở Bà Rịa) cùng tiến quân. Vào buổi chiều thì bản doanh Sư Ðoàn và 1 bộ chỉ huy Trung Ðoàn đặt tại trường đại học sư phạm, đại lộ Cộng Hòa, trong khi lực lượng của Sư Ðoàn đã chiếm giữ các vị trí ấn định trong phạm vi thủ đô Sài Gòn.

Lại xin mời quí vị, chúng ta dành thêm chút thì giờ xuống Quân Ðoàn IV tại Cần Thơ, nhưng trước khi xuống Cần Thơ, đến ngã ba Trung Lương mời quí vị tạt vào Mỹ Tho quan sát Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tại đây. Tư Lệnh Sư Ðoàn là Ðại Tá Bùi Ðình Ðạm. Sư Ðoàn phụ trách Khu 41 Chiến Thuật gồm 4 tỉnh bờ bắc Sông Tiền là Kiến Hòa, Kiến Tường, Ðịnh Tường, và Long An, gồm cả Ðồng Tháp Mười. Vì Ðại Tá Ðạm được xem là thành phần tín cẩn của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nên Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đưa Ðại Tá Nguyễn Hữu Có từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho, khống chế Ðại Tá Ðạm để cầm chân Sư Ðoàn tại chỗ.

Xong, chúng ta cùng xuống Cần Thơ, bản doanh bộ tư lệnh Quân Ðoàn IV. Trung Tá Huỳnh Văn Tồn đã xuống bộ tư lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật, với nhiệm vụ thuyết phục Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng nhưng không thành công, ông áp dụng biện pháp dự liệu trước là uy hiếp Thiếu Tướng Cao án binh bất động.

Năm 1962, Ðại Tá Huỳnh Văn Cao là Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tại Mỹ Tho, được thăng cấp cấp Thiếu Tướng ngày 5 tháng 12 năm 1962, trước Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm một ngày dù rằng hai Sắc Lệnh thăng cấp cùng một ngày ký. Ðiều đó có nghĩa là Thiếu Tướng Cao thâm niên hơn Thiếu Tướng Khiêm một ngày, và trong quân đội vấn đề thâm niên là rất quan trọng về mặt chỉ huy. Không có gì khó hiểu khi biết rằng Thiếu Tướng Cao là đảng viên đảng Cần Lao trong khi Thiếu Tướng Khiêm vừa là khác tôn giáo vừa là người ngoài đảng.

Quân Ðoàn IV được thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1963, và Tổng Thống Diệm cử Thiếu Tướng Cao giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn này từ ngày ấy.

Xin mời sang Sa Ðéc quan sát hoạt động của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh. Ðại Tá Bùi Dzinh, Tư Lệnh Sư Ðoàn và Trung Tá Ðoàn Văn Quảng, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn. Trung Tá Quảng trách nhiệm khống chế Ðại Tá Dzinh và giữ chân Sư Ðoàn tại chỗ. Năm 1961 và 1962, Trung Tá Quảng là Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 21 Bộ Binh trong khi Ðại Tá Trần Thiện Khiêm là Tư Lệnh. Do vậy mà lệnh của Thiếu Tướng Khiêm được Trung Tá Quảng thi hành một cách tích cực. Nhưng theo cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, thì trách nhiệm khống chế Ðại Tá Bùi Dzinh án binh bất động Sư Ðoàn 9 Bộ Binh là do cựu Ðại Tá Nhan Minh Trang -lúc đó là Thiếu Tá- theo lệnh Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng từ Sài Gòn xuống Sa Ðéc thi hành.

Ðại Tá Bùi Dzinh và Ðại Tá Trần Thiện Khiêm cùng học lớp "chỉ huy tham mưu" tại Hoa Kỳ năm 1959, cùng trở về Việt Nam và cùng nhận chức tại Sư Ðoàn 21 Bộ Binh vào tháng 2 năm 1960, khi Trung Tá Trần Thanh Chiêu bị cách chức. Ðại Tá Khiêm Tư Lệnh, Ðại Tá Bùi Dzinh Tư lệnh Phó kiêm Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn. Ðại Tá Bùi Dzinh, rất được Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu tín nhiệm. Sư Ðoàn 9 Bộ Binh thành lập tại Qui Nhơn, và Tổng Thống Diệm cử ông vào chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn này. Sau đó, Sư Ðoàn 9 Bộ Binh được lệnh chuyển toàn bộ vào hoạt động vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Bây giờ mời quí vị trở về Bộ Tổng Tham Mưu.

Trước 5 giờ một chút, tôi trình nhắc Thiếu Tướng Khiêm về trường hợp Ðại Tá Quyền -Tư Lệnh Hải Quân- Thiếu Tướng Khiêm cho biết là Ðại Tá Quyền đã bị sĩ quan tùy viên của ổng bắn chết trên Thủ Ðức rồi.

Lúc 5 giờ chiều:

"Ðại Úy Hoa tôi nghe".

"Chào anh Hoa. Tôi là Ðại Úy Bằng đây. Anh mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp chuyện với Tổng Thống".

Ðại Úy Bằng là sĩ quan tùy viên của Tổng Thống Diệm, thường trực ở văn phòng Phủ Tổng Thống.

"Vâng. Anh chờ tôi đầu máy".

Tôi vào trình Thiếu Tướng Khiêm và nhấc ống nói trao cho ông:

"Mời Thiếu Tướng tiếp chuyện với Tổng Thống".

Thiếu Tướng Khiêm chưa kịp nhận ống nói thì Trung Tướng Minh chụp lấy ngay. Tôi không nghe Tổng Thống Diệm nói gì mà chỉ nghe Trung Tướng Minh:

"Chúng tôi chỉ chấp nhận cho ông đi ngoại quốc như một người bình thường".

"........................"

"Không".

Tiếp đó, Trung Tướng Minh nói với các vị có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm sau khi ông dằn ống nói xuống vị trí:

"Ổng đòi đi như một Tổng Thống, tôi không đồng ý".

Lúc đó trong phòng im phăng phắc, chừng như cách giải quyết của Trung Tướng Minh đem lại niềm suy nghĩ cho các vị ấy thì phải. Tôi nhìn vào thái độ của các vị mà suy đoán như vậy.

Ðiện thoại lại reo và đầu dây bên kia vẫn là Ðại Úy Bằng mời Thiếu Tướng Khiêm tiếp chuyện với Tổng Thống. Tôi lại vào:

"Trình Thiếu Tướng, Tổng Thống muốn nói chuyện với Thiếu Tướng".

Cũng như lúc nãy, Trung Tướng Minh chụp ống nói lên, rồi đặt xuống máy:

"Không cần nói chuyện với ổng".

Tôi trở ra phòng và trả lời Ðại Úy Bằng:

"Rất tiếc là Trung Tướng Minh cắt đường dây rồi. Chào anh".

Khoảng 6 giờ chiều. Một buổi họp ngay trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, cũng là bản doanh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng. Ngoài các vị có mặt ở đây từ lúc trưa, tôi thấy có thêm Trung Tá Mai của Không Quân (dường như là Ðỗ Khắc Mai) mà mấy phút trước đây Quân Cảnh cổng số 1 điện thoại cho tôi biết. Buổi họp ngắn gọn này quyết định:

"Không Quân phải chuẩn bị càng nhiều phi tuần khu trục càng tốt, nếu đến 7 giờ sáng mai (2/11/1963) mà Tổng Thống Diệm chưa đầu hàng thì đánh bom xuống dinh Gia Long trong khi Thủy Quân Lục Chiến và Thiết Giáp sẵn sàng xung phong sau khi Không Quân đánh bom xong".

Phải nói rằng, lúc bấy giờ trên nét mặt của các vị biểu hiện ít nhiều lo âu, bởi bên đảo chánh với dấu hiệu thành công chưa nhiều, trong khi bên bị đảo chánh cũng chưa có dấu hiệu gì nhiều về sự thất bại, tuy chưa có vị Tư Lệnh đại đơn vị nào lên tiếng ủng hộ Tổng Thống.

Thiếu Tướng Ðỗ cao Trí, Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Vùng I Chiến Thuật ở Ðà Nẳng, đã có công điện ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng ngay từ đầu. Thiếu Tướng Nguyễn Khánh, Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến Thuật ở Plei Ku, có thể là lúc đầu còn chần chừ nhưng sau đó thì có công điện ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng. Thật sự nếu ông có chần chừ cũng đúng thôi, vì dù sao thì ông cũng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tín nhiệm khi đưa ông từ Tư Lệnh Quân Khu 5 về giữ chức Tham Mưu Trưởng/Tổng Tham Mưu, và trong cuộc đảo chánh của Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi ngày 11/11/1960, Thiếu Tướng Nguyễn Khánh hoàn toàn ủng hộ Tổng Thống. Ðến Quân Ðoàn III/Vùng III Chiến Thuật là Thiếu Tướng Tôn Thất Ðính, đang trong thành phần Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng rồi. Còn Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao đang bị khống chế tại bộ tư lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền, Tư Lệnh Không Quân, và Ðại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Nhẩy Dù, đang bị giữ tại tòa nhà chánh. Ðại Tá Hồ Tấn Quyền đã bị giết lúc trưa. Ðại Tá Lê Quang Tung, Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Ðịa Hình -cơ quan mật vụ của ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu- cũng bị giết rồi.

Xem chừng Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, lần này không có nhiều cơ may như lần bị Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh cách đây 2 năm, nhưng dù sao thì Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng cũng chưa đủ yếu tố để lạc quan về sự thành công của mình. Có lẽ cũng vì vậy mà Thiếu Tướng Khiêm bảo tôi đích thân lái xe về nhà đón vợ và 2 con ông, đưa đến nhà riêng của Thiếu Tướng Lê Văn Kim trên đường Võ Di Nguy, gần khu nghĩa trang giáp ranh với cổng số 3 của bộ Tổng Tham Mưu, tạm vắng mặt tại nhà. Khu này tương đối vắng vẻ. Khi xe trên đường đến nhà Thiếu Tướng Kim, bà Khiêm hỏi tôi:

"Chú Hoa, chú biết ai làm đảo chánh không?"

"Dạ biết. Nhiều vị lắm, có Trung Tướng Minh, Trung Tướng Ðôn, Thiếu Tướng Ðính, Thiếu Tướng Kim, Thiếu Tướng Xuân, .... đông lắm".

"Nếu có ai hỏi thì chú đừng nói có "nhà tôi" nghe chú".

"Vâng".

Thật ra thì Thiếu Tướng Khiêm không cho gia đình biết những gì mà ông và các vị khác cùng làm, cho nên bà Khiêm tỏ ra âu lo dự phòng của người đàn bà bình thường vậy thôi.

Trở lại tình hình tại văn phòng, và lúc này vào khoảng giữa đêm.

"Ðại Úy Hoa tôi nghe".

"Trung Tá Minh đây em".

Ðó là Trung Tá Nguyễn Văn Minh mà các bạn ông thường gọi là "Minh đờn", Tỉnh Trưởng tỉnh An Giang. Là một vị Tỉnh Trưởng rất được lòng Tổng Thống và ông Cố Vấn. Tôi quen biết với Trung Tá Minh nhiều là trong thời gian tôi giữ chức chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh tại Cần Thơ. Trung Tá Minh có tiếng là sĩ quan xử sự rất khéo với cấp trên và "chơi ngọt" với cấp dưới, nếu như cấp dưới đó là thân cận với cấp trên của ông. Dạo đó, cứ mỗi khi ông xuống Cần Thơ là y như rằng, ông ghé cho tôi tí tiền còm kèm theo câu "em cầm lấy uống cà phê chơi" mà tôi có bao giờ uống cà phê đâu.

"Thưa Trung Tá, dường như Trung Tá chưa có công điện ủng hộ Hội Ðồng phải không?"

"Tình hình đến giờ ra sao rồi em?"

"Trung Tá theo dõi đài phát thanh thì rõ vì tất cả những thông tin đó là chính xác. Bây giờ tôi thử đọc bản văn ủng hộ Trung Tá nghe, nếu Trung Tá đồng ý thì tôi chuyển sang đài phát thanh ngay, chỉ vài phút sau đó là Trung Tá nghe công điện ủng hộ của Trung Tá và tỉnh An Giang phát đi trên làn sóng đài Sài Gòn".

Thế là tôi đọc bản văn luôn, và Trung Tá Minh đồng ý ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng.

Ðến khoảng 3 giờ sáng (2/11/1963), Truyền Tin mang vào công điện của ông Tỉnh Trưởng Lâm Ðồng (nay là ấn bản lần thứ 4 mà tôi vẫn không nhớ tên ông). Công điện này gởi Phủ Tổng Thống với nội dung:

"... Quân Dân Cán Chánh tỉnh Lâm Ðồng nguyện ủng hộ Tổng Thống và gia đình, chống lại cuộc đảo chánh của bọn phản loạn .."

Tôi mang vào trình Thiếu Tướng Khiêm. Xem xong, ông trao cho Trung Tướng Minh, lướt qua nội dung, ông lại đưa cho Thiếu Tướng Ðính và kèm theo khẩu lệnh:

"Toa" kiếm người thay thằng này đi".

Sở dĩ Trung Tướng Minh trao cho Thiếu Tướng Ðính vì tỉnh Lâm Ðồng thuộc Quân Ðoàn III/Vùng III Chiến Thuật mà Thiếu Tướng Ðính đang là Tư Lệnh.

Vài ngày sau đó, ông Tỉnh Trưởng Lâm Ðồng, người gởi công điện nói trên, sau khi từ văn phòng Trung Tướng Khiêm (Thiếu Tướng Khiêm thăng cấp Trung Tướng chiều 2.11.1963) trở ra, ông hỏi tôi với vẻ khó chịu:

"Tôi có gởi công điện ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng mà tại sao tôi bị cách chức. Anh có biết lý do không?"

"Dạ không Thiếu Tá. Nhưng tôi biết là quí vị trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng có xem công điện Thiếu Tá gởi về Phủ Tổng Thống, do hệ thống Truyền Tin/Tổng Tham Mưu "chận bắt" tất cả những làn sóng như vậy".

Ông quày quả ra khỏi phòng mà chẳng buồn chào trả lại.

Thật ra thì đến gần sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, ông có công điện ủng hộ Hội Ðồng, nhưng điều đó đã quá trễ. Trong cuộc sống, biết nhận đúng thời cơ là tốt nhất, vì hành động sớm quá hay muộn quá thường là không mang lại kết quả tốt, đôi khi chuốc lấy nguy hại là khác.

Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết.

Khoảng 5 giờ sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, điện thoại reo trong khi tôi đang bận cuộc đàm thoại khác nên Thiếu Tướng Khiêm nhấc ống nói sau mấy lượt chuông reo, và qua cuộc nói chuyện ngắn của Thiếu Tướng Khiêm với các vị có mặt, tôi biết đầu dây bên kia là người thân cận của Tổng Thống, nhưng chưa nghe nội dung. Ngay tức thì, các vị gọi nhau vào họp thật nhanh, tiếc là tôi ngồi phòng ngoài nên chỉ nghe lỏm bõm mà thôi dù rằng cửa ngăn giữa phòng tôi với phòng Thiếu Tướng Khiêm mở thường xuyên từ lúc 1 giờ trưa hôm qua. Do công việc đòi hỏi tôi ra vào văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân một cách nhanh chóng nên tôi phải sang ngồi ở phòng sĩ quan tùy viên, vì phòng này khi mở cửa thì nhìn thẳng vào bàn viết của Thiếu Tướng Khiêm, nơi đang là bản doanh của Hội Ðồng Quân Nhân cách Mạng. Nghe Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh, tôi mới biết là một phái đoàn do Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân dẫn đầu sẽ vào nhà thờ Cha Tam đón Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu về Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc ấy tôi trông thấy vài vị sĩ quan cấp tá đi vô đi ra phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, nhưng không rõ những vị này có được cử trong phái đoàn hay không.

Một lúc sau, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm gọi tôi:

"Chú theo dõi khi đoàn xe đón Tổng Thống và ông Cố Vấn về đến thì hướng dẫn xe đậu ở sân vận động cạnh tòa nhà chánh, cho Quân Cảnh gác chung quanh và không cho bất cứ ai đến gần. Xong, chú lên trình tôi".

"Vâng".

Trong thời gian chờ đợi, các vị bàn thảo với nhau chung quanh vấn đề cách giải quyết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu sao cho ổn vì sợ phật lòng khối Thiên Chúa Giáo lẫn Phật Giáo. Ngay lúc đó, ngoài cửa phòng tôi có một người xin gặp tôi nói là ông được lệnh mang quần áo đến đây để Tổng Thống và ông Cố Vấn đi ngoại quốc. Tôi mời ngồi nhưng thật ra tôi cũng không rõ lệnh này từ đâu. Tôi ngờ rằng lệnh đó xuất phát từ Trung Tướng Ðôn vì ông là người hậu thuẫn mạnh mẽ ý kiến đưa Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu xuất ngoại, được hiểu là "lưu vong". Trình xong với Thiếu Tướng Khiêm thì tôi không theo dõi được nữa vì phải xuống lầu đón đoàn xe sắp vào cổng Bộ Tổng Tham Mưu.

Theo hướng dẫn của tôi, chiếc Thiết Vận Xa M113 vào vị trí, và một tiểu đội Quân Cảnh bao quanh. Tôi trở lên văn phòng:

"Trình Thiếu Tướng, Thiết Vận Xa chở Tổng Thống và ông Cố Vấn đã vào sân vận động và có Quân Cảnh bảo vệ".

"Mình xuống đi".

Ðó là lời Trung Tướng Dương Văn Minh. Nói xong là ông đứng lên trong khi Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm nét mặt không vui:

"Các "toi" xuống đi, thấy ổng dù sao "moi" cũng bùi ngùi!"

Tuy nói vậy, nhưng khi các vị rời khỏi phòng thì Thiếu Tướng Khiêm cũng từng bước theo sau, và tôi là người tháp tùng sau cùng. Khi xuống đến bậc thang chót của tầng trệt thì Thiếu Tướng Khiêm đứng lại, vì các vị đã dừng chân hành lang bên ngoài, lúc ấy có Thiếu Tướng Xuân và một sĩ quan nữa mà tôi không thấy rõ là vị nào, đang trình bày gì đó với các vị. Bỗng các vị cùng quay vào, Thiếu Tướng Khiêm ngạc nhiên:

"Việc gì vậy?"

"Hai ổng chết rồi". Trung Tướng Minh trả lời ngắn ngủn. Tất cả cùng trở lên lầu.

Lúc bấy giờ, người Mỹ, từ phòng nhỏ ngay phía sau tấm vách ngăn với bàn làm việc của Thiếu Tướng Khiêm bước ra, Trung Tướng Minh cho ông ta biết là ông Diệm và ông Nhu đã chết rồi. Rõ ràng là người Mỹ này tỏ ra bực tức, và một lúc sau ông ta ra về.

Người Mỹ mà tôi vừa nói, tôi không biết tên. Ông ta có vóc dáng trung bình, mặc thường phục, có mặt tại phòng Thiếu Tướng Khiêm từ trưa hôm qua (1/11/1963), nhưng ông ta chỉ ở trong phòng nhỏ đó mà không bước ra phòng các vị Tướng lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng làm việc dù chỉ cách vài bước đi. Ông ta có xách cái cặp bình thường như những cái cặp mà các vị Tướng Lãnh thường xách theo khi đi làm. Về sau tôi nghe nói đó là Trung Tá Conein, cũng có người nói là ông Lansdale. Tôi vẫn không xác định được là ai, nhưng rõ ràng là cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm được một số vị Tướng Lãnh Việt Nam thực hiện dưới bàn tay đạo diễn của Hoa Kỳ hay ít ra cũng được Hoa Kỳ đồng ý. Cho dù thế nào đi nữa, chúng ta cũng nhận ra được sự kiện ông Ngô Ðình Diệm "lên ngôi" là do Hoa Kỳ từ đằng sau, và cũng bởi Hoa Kỳ mà ông Diệm bị "hạ bệ". Nhưng liệu có phải Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy ra lệnh cho vị Tướng Lãnh nào đó của đất nước Việt Nam khốn khổ này giết chết Tổng Thống của họ không? Hay cái chết của Tổng Thống Diệm không có trong dự định của Hoa Kỳ khi họ buộc phải thay người lãnh đạo Việt Nam cho phù hợp với chiến lược đang thực hiện? Ôi, chính trị!

Tôi xin mở ngoặc để viết vào đoạn này những lời mà cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21 tháng 10 năm 2003, liên quan đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ông nói:

"Về việc chú thắc mắc không biết người Mỹ tham dự đảo chánh là ông Conein hay Lansdale, Anh cho chú biết đó là Trung Tá Conein, ổng cũng cùng nhóm với ông Lansdale. Anh nói thêm với chú, ông Conein là trưởng toán sĩ quan Hoa Kỳ đã từng nhẩy dù xuống miền Bắc hồi năm 1945 để giúp ông Hồ đánh Nhật. Lúc đó ai là kẻ thù của Nhật là bạn của Hoa Kỳ. Về phía Hoa Kỳ, ông ta là người biết nhiều về ông Hồ và Việt Minh cộng sản thời đó. Bây giờ Anh nói về cuộc đảo chánh (1/11/1963). Trước ngày đảo chánh, Anh (tức cựu Ðại Tướng Khiêm) nói như một điều kiện liên quan đến Tổng Thống Diệm rằng: "phải để Tổng Thống bình yên và xuất ngoại". Lúc đó Trung Tướng Dương Văn Minh đồng ý, Thiếu Tướng Lê Văn Kim cũng đồng ý. Sở dĩ Anh nói Trung Tướng Minh và Thiếu Tướng Kim, vì hai ông này là hai nhóm riêng chớ không phải là một nhóm đâu nghe chú. Khi biết ông Diệm bị giết cùng với ông Nhu, Ðại Tá Quyền (Hồ Tấn Quyền) bị giết, Ðại Tá Tung (Lê Quang Tung) cũng bị giết, đến em của ông Tung là Lê Quang Triệu cũng bị lừa rồi giết chết. Ông Viên (Cao Văn Viên) thì bị còng tay. Họ hành động lén nên Anh với chú ngồi trên lầu có hay biết gì đâu. Mấy ổng ngồi bên phòng của Ðại Tướng Tỵ (Lê Văn Tỵ. Lúc ấy Ðại Tướng Tỵ dưỡng bệnh ngoài Vũng Tàu, Trung Tướng Trần Văn Ðôn Quyền Tổng Tham Mưu Trưởng) rồi quyết định với nhau".

Ngưng một chút, ông tiếp:

"Chú thấy chưa? Nhóm ông Minh với nhóm ông Kim độc ác quá! Ông Diệm gọi điện thoại bảo cho xe đến đón, tức là ổng đầu hàng rồi, tại sao lại giết người đầu hàng? Trước đó, ông Minh ông Kim đồng ý với Anh là để ông Diệm bình yên và lưu vong, tại sao lại giết? Cho nên từ đó Anh bất mãn với ông Minh ông Kim".

Xin mở ngoặc nhỏ. Tôi nghĩ: "Có lẽ vì sự chia phe chia nhóm này mà khi cử Trung Tướng Trần Thiện Khiêm đi Seoul, Ðại Hàn, dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi (Phác Chánh Hi), để rồi ra quyết định cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 khi Trung Tướng Khiêm còn ở Tokyo chăng?" Lại thêm chút ánh sáng về sự kiện này. Nhân khi cựu Ðại Tướng Khiêm từ Houston (Ông chuyển từ Virginia xuống cư trú ở Houston từ giữa năm 2005) lên Virginia hồi tháng 7 năm 2005 thăm cựu Ðại Tướng Viên vì sức khỏe của ông có phần suy yếu. Khi nhắc lại sự kiện Trung Tướng Khiêm bị cử sang Quân Ðoàn 3, cựu Ðại Tướng Viên nói:

"Cũng vì việc anh giúp tôi trở lại Lữ Ðoàn Nhẩy Dù mà anh bị mấy ảnh (có lẽ ám chỉ Trung Tướng Minh, Trung Tướng Ðôn, à) đẩy qua Quân Ðoàn 3 đó".

Cựu Ðại Tướng Khiêm nói tiếp:

"Có điều là Anh không rõ tại sao Hoa Kỳ loại Tổng Thống Diệm?"

"Thưa Anh, có lúc Em nghĩ: phải chăng Tổng Thống Diệm không đồng ý cho quân bộ chiến Hoa Kỳ lập căn cứ trên đất Việt Nam trong chiến lược Domino làm bức tường quân sự ngăn chận cộng sản tràn xuống Ðông Nam Á mà Tổng Thống Diệm bị loại chăng?"

"Ðiều này Anh có nghĩ đến, nhưng không biết có còn gì nữa không? Còn việc chú nêu nghi vấn Trung Tướng Minh có phải là người ra lệnh giết ông Diệm ông Nhu không, chú nghĩ coi nếu hổng phải ổng thì ai dám ra lệnh đó".

"Tất nhiên là em nghĩ như vậy, nhưng đây là vấn đề lịch sử, khi em chưa nắm được bằng chứng xác thực về điều em đã nghĩ, thì em không dám khẳng định mà chỉ nêu nghi vấn sau khi phân tách một số sự kiện liên quan thôi. Chính Trung Tướng Trần Văn Ðôn trong quyển Việt Nam Nhân Chứng, cũng nêu nghi vấn như vậy Anh Tư". (bà Khiêm thứ tư nên những cộng sự viên chung quanh thường gọi như vậy).

Những điều mà cựu Ðại Tướng Khiêm nói không phải chỉ có thế, và tôi sẽ bổ túc vào những bài những đoạn liên quan trong cuộc Chỉnh Lý ngày 30/1/1964, cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13/9/1964 dẫn đến sự kiện ông và gia đình lưu vong, đến cuộc "Ðảo Chánh" ngày 19/2/1965 dẫn đến sự kiện Ðại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong sang Hoa Kỳ tá túc nhà Ðại Tướng Khiêm.

Vẫn trong dấu ngoặc này, tôi thuật thêm một đoạn ngắn trong lúc nói chuyện với cựu Ðại Tướng Khiêm sau khi ông và gia đình du lịch Pháp quốc về lại Houston hồi đầu năm 2007. Nhân lúc vui vẻ, tôi hỏi:

"Thưa anh Tư. Hồi đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, bắt đầu từ phía Hoa Kỳ hay từ phía Việt Nam mình anh Tư?".

"Từ phía Hoa Kỳ".

"Vậy ai là người nối vào Việt Nam mình anh Tư?"

"Ông S.".

"Ông ấy nối vào ai vậy anh Tư?"

"Nối vào anh, nhưng anh thấy việc lớn quá nên giới thiệu với Trung Tướng Minh (Dương Văn)".

Thưa quí vị, cựu Ðại Tướng Khiêm có nói tên đầy đủ của người Mỹ này, nhưng ông không muốn tôi nêu tên ông ta dù ông S. đã chết rồi. Do vậy tôi chỉ có thể viết tên ông ta vào đây với mẫu tự đầu mà thôi. Trong năm 1963, tôi có dịp nói chuyện với ông S. này trong những lúc ngồi chờ vào gặp Thiếu Tướng Khiêm. Ông ta trong ngành tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, và nói tiếng Pháp sành sỏi.

Xin đóng ngoặc.

Với câu chuyện ngắn trên đây giúp tôi nghĩ, có lẽ từ vị trí quan trọng của cựu Ðại Tướng Khiêm lúc ấy nên ông đưa điều kiện với Trung Tướng Dương Văn Minh và Thiếu Tướng Lê văn Kim, theo đó ông tham gia đảo chánh nhưng phải để Tổng Thống Ngô Ðình Diệm lưu vong. Tôi nói "vị trí quan trọng" vì lẽ lúc ấy cựu Ðại Tướng Khiêm đang giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và là người mà tình báo Hoa Kỳ móc nối đầu tiên vào cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm.

Liệu nguyên nhân chính dẫn đến cuộc đảo chánh này là do kế hoạch của chánh phủ Hoa Kỳ, hay bắt nguồn từ chính sách đàn áp Phật Giáo của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm? Tôi nghĩ, nếu không có sự kiện đàn áp Phật Giáo thì Hoa Kỳ cũng bằng cách nào đó để thực hiện cuộc lật đổ, vì nếu không thì mục tiêu thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa không thực hiện được, và như vậy có nghĩa là một "mắt xích" trong chiến lược Domino của họ không hoàn thành.

Phải chăng sự mâu thuẫn giữa chánh phủ với Phật giáo ngày càng tệ hại, lại là cơ hội thuận lợi cho Hoa Kỳ nhập cuộc theo cách của họ? Và cho dù thế nào đi nữa, rõ ràng là họ đã thành công.

Giả thuyết rằng, nếu cuộc đảo chánh không phải bắt nguồn từ Hoa Kỳ, thì liệu quí vị Tướng Lãnh Việt Nam có tự mình quyết định đảo chánh để đem lại sự bình đẳng giữa hai tôn giáo lớn nói riêng, và ổn định tình hình nội bộ nói chung không? Tôi nghĩ, chắc là không. Vì thực hiện một cuộc đảo chánh, đã khó, nhưng được hay không được Hoa Kỳ ủng hộ là điều khó hơn, vì cho dù có thành công mà không được Hoa Kỳ ủng hộ thì sớm muộn gì cũng bị đồng đội lật đổ. Còn nữa, nếu lật đổ thành công rồi, mà chưa chuẩn bị một sách lược lãnh đạo vừa chống cộng sản vừa xây dựng quốc gia, thì quí vị cầm quyền sẽ bị bối rối với những kế hoạch vá víu trong khi tình hình đòi hỏi mục tiêu và đường lối thực hiện phải rõ rệt, dứt khoát, và thực hiện ngay.

Vị Tướng nào đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, và ai là người xuống tay giết hai ông? Hoặc giả là so dự nhầm lẫn nào đó giữa người ra lệnh với người nhận lệnh? Theo bác sĩ Huỳnh Văn Hưởn, Y Sĩ trưởng bệnh xá Tổng Tham Mưu lúc ấy (về sau có lúc là Tổng Trưởng Y Tế), người phụ trách khám nghiệm và lau vết thương cho hai ông, thì cả hai ông vừa bị bắn vừa bị đâm bằng lưỡi lê. Hai trong số ít người liên quan trực tiếp đến cái chết của ông Diệm và ông Nhu là Trung Tướng Mai Hữu Xuân và Thiếu Tá (đã thăng cấp) Nguyễn Văn Nhung, cả hai đã chết rồi. Chỉ còn lại cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh và cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, là hai vị có tiếng nói chính xác hơn hết. Chữ "trực tiếp" mà tôi dùng ở đây có nghĩa là người ra lệnh giết, người giết, hoặc người nghe thấy người ra lệnh hay trông thấy người giết. Và liệu cựu Chuẩn Tướng Phan Hòa Hiệp có thể là nhân chứng chính xác nữa trong vụ này không?

Xin mở ngoặc. Tôi bổ túc đoạn trên vào tháng 10 năm 2003, thì cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh đã từ trần trước đó mấy tháng. Vậy, nhân chứng còn lại là cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa. Nhưng năm 2006, cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa đã xuống tóc vào chùa tu học. Xin đóng ngoặc.

Nếu như Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh giết thì tại sao khi tôi trình đoàn xe đón Tổng Thống và Cố Vấn về đến, ông lại gọi các vị có mặt cùng xuống gặp hai vị ấy, vì chính ông phải biết việc gì xảy ra rồi chớ? Hoặc cũng có thể là Trung Tướng Minh đã ra lệnh giết nhưng vẫn ra vẻ như không hay biết gì về cái chết của hai ông ấy? Chính trị mà! Trong số các vị có mặt trong phòng Thiếu Tướng Khiêm, tôi không trông thấy nét mặt, cử chỉ, hay thái độ của vị nào biểu lộ một chút gì khác thường giữa các vị với nhau trước khi lần lượt bước xuống thang lầu để gặp Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Hoặc là không ai ra lệnh giết, hoặc là vị nào đó quá kín đáo chăng?

Khi đoàn xe rời nhà thờ Cha Tam trở về Bộ Tổng Tham Mưu trên chiếc M113 chở ông Diệm và ông Nhu chỉ có Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung và vài quân nhân trách nhiệm trên chiếc Thiết Vận Xa này. Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi xe Jeep cùng với Ðại Úy Phan Hòa Hiệp (cấp bậc trong lúc đảo chánh). Ðại Úy Hiệp cho biết như vậy. Sở dĩ tôi nói đến Thiếu Tá Nghĩa là vì có dư luận cho rằng Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc Thiết Vận Xa M113 với Ðại Úy Nhung.

Nếu thật sự Thiếu Tá Nghĩa cùng ngồi trên chiếc Jeep với Ðại Úy Hiệp, điều đó cũng chưa đủ yếu tố để loại trừ giả thuyết Thiếu Tá Nghĩa không phải là sát thủ, vì có lúc đoàn xe phải dừng trước cổng xe lửa chắn ngang đường khi xe lửa chạy qua. Ðó là khoảng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng cũng đủ cho một sát thủ ra tay. Nhưng cũng không thể căn cứ vào đây mà cho rằng Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan đã giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, vì Thiếu Tá Nghĩa là một sĩ quan bộc trực, thẳng tính, rất nhiệt tâm với nhiệm vụ trong binh chủng Thiết Giáp, và chưa hề có tai tiếng gì trước biến cố chính trị này. Ðồng ý rằng, Thiếu Tá Nghĩa là một sĩ quan rất can đảm, và khi lâm trận thì vị chỉ huy này không nương tay với kẻ thù, nhưng giết một người không phải là kẻ thù mà người đó lại là một Tổng Thống hay Cố Vấn của Tổng Thống, thì điều đó không phải là điều mà Thiếu Tá Nghĩa hành động như một sát thủ. Nhưng những lý lẽ trên đây cũng chưa đủ để loại trừ giả thuyết "Thiếu Tá Nghĩa là một trong hai sĩ quan thi hành lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu". Và đối với tôi, Thiếu Tá Nghĩa vẫn là một nghi vấn nhưng mức độ thấp hơn nghi vấn đối với Ðại Úy Nhung.

Với Ðại Úy Nhung. Chính xác là Ðại Úy Nhung ngồi trên chiếc thiết vận xa M113 chở Tổng Thống và Cố Vấn. Ðại Úy Nhung, ít ra là hai lần trước biến cố chính trị này, anh khoe với tôi rằng, mỗi lần anh giết một người thì anh khắc lên báng súng của anh một vạch. Anh đưa báng súng cho tôi xem, lúc ấy có năm vạch khắc theo chiều thẳng đứng ở bên trái báng súng. Căn cứ vào lời nói và dấu tích trên báng súng, tôi cho rằng Ðại Úy Nhung là một sĩ quan đã từng giết người nếu không nói là thông thạo thì cũng là quen tay. Xin nói thêm, hành động giết người và hành động bắn chết địch quân ở chiến trường là hai hành động khác nhau. Nhưng như vậy cũng chưa thể kết luận Ðại Úy Nhung là sát thủ trong trường hợp này, vì không trông thấy tận mắt và cũng không nghe chính Ðại Úy Nhung tự nói về sự kiện đó.

Nhưng nhìn vào khía cạnh khác, tôi có nghi vấn cao nhất về Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung với cái chết của Tổng Thống Diệm và Cố Vấn Nhu. Ðại Úy Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh, mà tùy viên thì luôn luôn có mặt bên cạnh vị Tướng của mình. Trong trường hợp này, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân cùng đoàn tùy tùng có nhiệm vụ đến nhà thờ Cha Tam (trong Chợ Lớn) đón Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu về Bộ Tổng Tham Mưu, Ðại Úy Nhung không có lý do gì để có mặt trong thành phần này cả. Nếu cho rằng, Ðại Úy Nhung tự ý tháp tùng để sau này khoe với bạn bè là anh đã góp mặt trên đoàn xe lịch sử đó đi nữa thì tại sao Ðại Úy Nhung -và chỉ một mình Ðại Úy Nhung- được ngồi trên chiếc Thiết Vận Xa M113 chở Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Sự kiện này phải được Thiếu Tướng Xuân chỉ định hay ít ra cũng là đồng ý. Và liệu có phải Thiếu Tướng Xuân tự mình ra lệnh cho Ðại Úy Nhung hay là thi hành theo lệnh của Trung Tướng Minh? Tôi nói như vậy vì chỉ có Trung tướng Minh -người đứng đầu nhóm lãnh đạo đảo chánh- mới có thẩm quyền ra lệnh cho Thiếu Tướng Xuân mà thôi. Với lại Ðại Úy Nhung là sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Minh thì không vị Tướng nào dám sử dụng Ðại Úy Nhung trong nhiệm vụ giết Tổng Thống và Cố Vấn được. Vậy, Ðại Úy Nhung có mặt trong đoàn xe "lịch sử" này và một mình ngồi trong xe chở Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, phần chắc phải là do lệnh của Trung Tướng Dương Văn Minh.

Nếu chính xác là Trung Tướng Minh ra lệnh cho sĩ quan tùy viên của mình là một thành viên trong đoàn xe lịch sử này thì lệnh đó có mục đích gì, chẳng lẽ cho Ðại Úy Nhung đi theo chơi? Suy đoán như vậy nghe không ổn chút nào. Nhưng đến đây cũng chưa thể quả quyết rằng Ðại Úy Nhung là người hạ sát Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bằng súng và lưỡi lê, vì đây là vấn đề lịch sử nên không thể kết luận thủ phạm khi chưa đủ chứng cớ chính xác, mà đương sự đã chết rồi. Thôi thì để anh yên nghỉ!

Ðến đây, tôi có câu chuyện ngắn. Hai mươi tám năm sau, vào giữa tháng 11 năm 1991, tôi và một số bạn có dịp dùng cơm tại nhà cựu Ðại Tá Nguyễn Linh Chiêu (Orange County, nam California) mà tôi thường gọi ông là "đại ca", vì ông lớn tuổi hơn tôi và thâm niên hơn tôi nhiều. Hôm ấy "đại ca" tôi thuật lại câu chuyện có liên quan đến câu tự hỏi của tôi nêu trên. Chuyện như thế này:

Ðầu năm 1991, nhân chuyến ông sang Paris dự lễ cưới của vị Tướng đã một thời là Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội quốc gia Việt Nam trong khuôn khổ quân đội Liên Hiệp Pháp, "đại ca" tôi tổ chức bữa ăn thân mật sau khi được cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh và cựu Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhận lời. Mục đích của bữa ăn là anh Chiêu -bạn thân của hai vị cựu Tướng Lãnh thực khách- muốn giúp hai vị làm hòa nhau mà tình bạn giữa hai ông đã rạn nứt từ sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963. Theo anh Chiêu thì mục đích đã đạt được, và trong không khí vui vẻ đó, anh có nêu câu hỏi với cựu Ðại Tướng Minh:

"Anh có thể cho biết câu "mission accomplie" mà anh Xuân (tức Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân) trình với anh hôm 2 tháng 11 năm 1963 có nghĩa như thế nào không?"

"Nhiệm vụ hoàn thành thì báo cáo hoàn thành. Có vậy thôi"

Anh Chiêu chưa chịu thua và hỏi lại, thì cựu Ðại Tướng Minh nói:

"Anh hiểu sao thì hiểu"

Câu trả lời đúng là hiểu sao thì hiểu.

Hết câu chuyện.

Cũng vào cuối năm 1991, người bạn mới quen của tôi ở San Jose, tiến sĩ sử học Hoàng Ngọc Thành, lúc ấy đang viết cuốn "Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm", tôi có cung cấp cho ông một số dữ kiện cần thiết theo yêu cầu của ông. Ông nói rằng, ông được đọc một tài liệu mà cựu Ðại Tướng Minh viết theo lệnh của nhà cầm quyền cộng sản (sau tháng 4/1975), theo đó, cựu Ðại Tướng Minh nhận là ông đã ra lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Nghe thì nghe vậy nhưng thật ra tôi cũng không hiểu là bằng cách nào mà ông bạn tôi xem được tài liệu đó nữa. Với tôi, những gì mà người chiến sĩ chống cộng sản cho dù người đó là một Tổng Thống hay một sĩ quan bình thường, phải viết theo lệnh của cộng sản trong trại tập trung hay tại cơ quan của chúng, và viết dưới sự hướng dẫn của những tên gọi là cán bộ Công An cho đến khi chúng chấp nhận mà chúng gọi là "đạt yêu cầu", thì không thể xem đó là chính xác được. Vì vậy mà theo tôi, không nên căn cứ vào đó để kết luận cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh là người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, cho dù ông có khai thật với cộng sản cũng vậy. Nhưng dù thế nào đi nữa, với tôi, cựu Ðại Tướng Minh vẫn là vị duy nhất mà tôi đặt nghi vấn cao nhất về người đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.

Cuối năm 1993, nhân đến nhà người bạn cùng khóa với tôi để thăm một vị Tướng trước kia phục vụ tại Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu, và nhân lúc câu chuyện xoay quanh cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, bạn tôi nói rằng: "Tôi có người bạn thân, trước kia thường chơi quần vợt với Ðại Tướng Minh, một hôm Ðại Tướng Minh có nói là trước khi chết, ông để lại tập hồi ký cho các con ông. Nếu đúng như vậy thì câu trả lời chính xác chỉ có được khi cựu Ðại Tướng Minh an giấc ngàn thu chăng? Năm 2003, cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh từ trần, nhưng tôi không rõ là ông có để lại cuốn nhật ký như lời bạn tôi đã nói hay không.

Ðến cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, năm 1998 định cư tại tiểu bang Washington. Theo tôi, anh Nghĩa là một trong những nhân chứng của cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 nói chung, và có thể là nhân chứng duy nhất trong vụ giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu nói riêng. Tôi với anh là bạn thân từ năm 1961 khi anh đang là Quận Trưởng quận Bình Minh tỉnh Vĩnh Long. Khi vào tù, chúng tôi bị giam chung "lán trại" giữa rừng già Yên Bái, ăn chung mâm, ngủ sát cạnh nhau trên vạt giường làm bằng cây chổm trong nhiều năm liền. Có những lúc nhắc đến ngày 1 tháng 11 năm 1963, tôi cố gắng tìm hiểu những nghi vấn về cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu, nhưng không bao giờ anh hé môi nửa lời về điều đó.

Tôi biết anh Nghĩa có nói với Trung Úy Ðồng, Phòng 3 Tiểu khu Vĩnh Long khi anh là Tỉnh Trưởng tỉnh này, theo đó, "anh biết người giết ông Diệm và ông Nhu, nhưng chưa thể nói được". Tôi tin lời anh Nghĩa, nhưng không biết là lúc nào anh mới nói được. Bởi vì chưa thể nói được, có nghĩa là sẽ nói chớ không phải không nói.

Dưới đây là bài viết của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, anh gởi tặng tôi một bản do cựu Ðại Tá Nhan Minh Trang trao lại. Ðược sự đồng ý của anh Nghĩa qua đường dây điện thoại vào đầu tháng 11 năm 1998, tôi xin trích phần liên hệ đến cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu đưa vào ấn bản lần thứ 3 vào tháng 12 năm 1998. Với hy vọng phần trích đăng này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những tin tức về cái chết có tầm vóc lịch sử của hai vị lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời tạo nên tiếng vang quốc nội lẫn quốc tế trong những năm 50 và 60. Tiếng vang tốt hay không tốt, hoặc cả hai, điều đó tùy quí độc giả.

Phần trích thuật bắt đầu.

"Tôi có dịp đến Houston khoảng tháng 7 năm 1995, được người bạn tặng cuốn "Ðôi Dòng Ghi Nhớ" của anh Phạm Bá Hoa, cựu Ðại Tá Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Không như "Lời Trần Tình" quá khiêm nhường của anh, quyển sách tuy không chánh thức là một sử liệu, nhưng nó đóng góp rất nhiều cho các sử gia, vì anh được ở vào một vị trí rất quan trọng trong guồng máy hành chánh và quân sự trong một giai đoạn lịch sử 1960-1968. Những sự việc mà anh ghi lại thật là trung thực, rất đầy đủ từng chi tiết, cũng như anh đã phân tách sự việc rất vô tư, khách quan. Trong quyển sách, anh nói không ít về cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm".

"Về sự việc lịch sử này, đã có rất nhiều người -kể cà người Mỹ- hỏi tôi từ sau ngày 2 tháng 11 năm 1963 cho tới giờ này. Ai cũng muốn biết rõ chi tiết của sự việc đã xảy ra trên chiếc Thiết Vận Xa trong đoàn xe mà cá nhân tôi có trách nhiệm an ninh hộ tống hôm đó. Tác giả quyển "Ðôi Dòng Ghi Nhớ" chỉ nêu lên một số dữ kiện, một số suy luận, một số giả thuyết, và nghi vấn chung quanh sự việc nói trên, mà không hề có ý xác quyết ai là người đã ra lệnh và ai là người đã thi hành lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Ðây là điểm hoàn toàn khác biệt với một vài quyển hồi ký khác đã được xuất bản mà tôi có dịp đọc".

"Liên quan đến sự việc này, tôi muốn nói đến vài quyển hồi ký mà tác giả đã có nhận xét thiếu chính xác, có khi còn sai lạc hẳn. Sự việc cũng không được phân tách cho đúng lý đúng tình. Có tác giả đã kể lại sự việc mà chính mắt tác giả không mục kích được, tai cũng chỉ nghe lỏm bõm diễn tiến mà người thuật cũng không phải người trong cuộc. Hoặc là viết theo một số dữ kiện do quá nhiều người thuật lại theo cái nghe được hay theo lập luận một chiều. Ðặc biệt là cựu Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, tác giả " Việt Nam, Một Trời Tâm Sự", ông đã dựa trên lời khai nguyên văn của Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung (đúng ra là Thiếu Tá vì lúc bị bắt là ngày 30/01/1964, anh Nhung đã thăng cấp Thiếu Tá rồi. PBH) mà ông được đọc sau ngày "Chỉnh Lý 30 tháng 1 năm 1964", nên sự việc đó ông viết rất chính xác. Nói rất rõ là ai thi hành lệnh giết Tổng Thống và giết bằng cách nào..."

"Sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963, Trung Tướng Dương Văn Minh chỉ định Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân và Ðại Tá Dương ngọc Lắm, vào nhà thờ Cha Tam trong Chợ Lớn "đón họ" về đây (Họ, tức Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Về đây, tức về Bộ Tổng Tham Mưu. PBH). Tôi có mặt tại chỗ, vì tôi cùng Trung Ðội Thiết Vận Xa vừa từ dinh Gia Long về tới, và trình Trung Tướng Minh là Tổng Thống và ông Cố Vấn không có trong dinh Gia Long. Do đó, tôi nhận lệnh của Trung Tướng Minh tiếp tục cho Trung Ðội Thiết Giáp hộ tống Thiếu Tướng Xuân và Ðại Tá Lắm vào nhà thờ Cha Tam "đón họ" (nguyên văn của Trung Tướng Minh). Như vậy, tôi được biết Thiếu Tướng Xuân nhận lệnh trực tiếp của Trung Tướng Minh, nhưng tôi không biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận lệnh mật gì của Trung Tướng Minh không. Cũng ngay lúc đó, tôi được Ðại Tá Nguyễn Văn Quan -bạn thân của Trung Tướng Minh- cho biết, trong khi tôi xuống dinh Gia Long thì ông Diệm và ông Nhu đã bí mật vào trong Chợ Lớn, và hiện ở nhà thờ Cha Tam. Từ nhà thờ, hai ông đã liên lạc điện thoại với các Tướng Lãnh. Ngay sau đó, Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng quyết định dứt khoát, ít nhất là số phận của ông Ngô Ðình Nhu, bằng mọi cách phải diệt trừ hậu họa. Thiếu Tướng Xuân, Ðại Tá Quan, Ðại Tá Lắm, Ðại Tá Ðỗ Mậu, ... đều có mặt trong cuộc thảo luận để lấy quyết định có tính cách lịch sử nói trên, cùng với Trung Tướng Dương Văn Minh, Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu. ..v..v.."

"Tôi cũng được Ðại Tá Quan cho biết thêm rằng, Trung Tướng Minh, người chỉ huy cuộc đảo chánh, đã nhanh chóng đưa ra quyết định rất dứt khoát để Hội Ðồng lấy quyết định chung. Các vị hiện diện lúc đó, không ai góp thêm ý kiến gì. Lúc đó im lặng được xem là đương nhiên chấp thuận đề nghị của Trung Tướng Minh. Thật ra, từ 11 giờ đêm 1 tháng 11 năm 1963, trong lúc tình hình chưa ngã ngủ hẳn, các Tướng Lãnh đã có bàn bạc riêng với nhau trước về số phận của ông Ngô Ðình Nhu rồi. Riêng đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thì hầu hết đều tán thành cho Người (viết hoa) đi ra ngoại quốc, không thấy vị nào phát biểu khác hơn. Do đó, khi Thiếu Tướng Xuân nhận lệnh đi đón Tổng Thống là ông biết mình sẽ phải làm gì rồi, ít nhất là đối với ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Còn đối với Tổng Thống thì lúc bấy giờ tôi hoàn toàn không biết là Thiếu Tướng Xuân có nhận được mật lệnh gì thêm từ Trung Tướng Dương Văn Minh hay không."

"Ðoàn xe khởi hành từ Bộ Tổng Tham Mưu khoảng 6 giờ sáng. Hai xe Quân Cảnh dẫn đầu, xe Jeep của tôi và Ðại Úy Phan Hòa Hiệp, kế đó là xe Jeep Thiếu Tướng Xuân rồi xe Ðại Tá Lắm, và đoàn xe hộ tống gồm Trung Ðội Thiết Vận Xa 5 chiếc (4 xe đi đầu có bộ binh tùng thiết, và xe sau cùng là của Trung Ðội Trưởng). Tôi xin nói rõ thêm. Tôi thấy không có dự trù xe nào chở Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, nên tôi có hỏi Thiếu Tướng Xuân trước khi khởi hành, thì ông nói nhanh và cộc lốc "không cần". Tôi nghĩ, chắc là ông đã có phương cách rồi nên không muốn chúng tôi quấy rầy làm mất luồng suy tính của ông trong lúc ông có mission (nhiệm vụ) quá đặc biệt, có lẽ đặc biệt hơn bao giờ hết trong cuộc đời Cảnh Sát Công An của ông. Trước khi khởi hành, tôi và Ðại Úy Hiệp nhìn thấy Ðại Úy Nhung ngồi trên một trong bốn chiếc thiết vận xa sau xe Jeep chúng tôi. Ðại Úy Hiệp hỏi tôi về sự hiện diện của vị sĩ quan bộ binh lạ mặt này. Tôi giải thích sơ qua, đó là Ðại Úy Nhung, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh, và có xác nhận với Ðại Úy Hiệp rằng: "Ðại Úy Nhung có hỏi tôi để được cùng đi với Trung Ðội Thiết Vận Xa. Tôi nghĩ, có lẽ Ðại Úy Nhung có nhiệm vụ gì đó do Trung Tướng Minh đích thân giao cho, nên tôi không tiện hỏi vì không liên quan gì đến nhiệm vụ an ninh hộ tống của chúng mình".

"Tôi không muốn nói rõ với Ðại Úy Hiệp, nhưng cá nhân tôi đã biết là Ðại Úy Nhung được Trung Tướng Minh sai đi theo đoàn xe để thi hành quyết định của Hội Ðồng. Quyết định liên quan đến ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Quyết định này đã được chuyển thành lệnh và được Trung Tướng Minh trao cho Ðại Úy Nhung thi hành. Vì chắc chắn Trung Tướng Minh không còn thấy ai hơn người sĩ quan cận vệ thân tín này để thi hành một công tác đặc biệt, khó khăn và quan trọng nói trên. Tôi dùng danh từ "mật" là vì nếu Trung Tướng Minh có dặn dò điều gì với Ðại Úy Nhung thì không một ai trong Hội Ðồng nghe thấy được. Và nếu có ra lệnh cho Ðại Úy Nhung thi hành quyết định công khai của Hội Ðồng, về một mình ông Cố Vấn Nhu hay cho cả hai ông, thì cũng không một ai trong Hội Ðồng nghe thấy được. Nhưng tôi khẳng định là Trung Tướng Minh có sai Ðại Úy Nhung -tức là đã ra lệnh cho Ðại Úy Nhung- và lệnh được đưa ra theo quyết định của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng. Ít nhất là liên hệ đến ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Tôi xin nói rõ lại một lần nữa, là chỉ liên quan đến ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Vì nếu Trung Tướng Minh không ra lệnh thì không còn ai trong Hội Ðồng có đủ thẩm quyền để ra lệnh đặc biệt này? Cũng như nếu không sai Ðại Úy Nhung, thì tại sao Ðại Úy Nhung lại phải nói với tôi cho anh được ngồi trên chiếc thiết vận xa để được cùng đi vào Chợ Lớn?"

"Nhưng tôi cũng xác định là dù có sai Ðại Úy Nhung hay ra lệnh cho Ðại Úy Nhung, Trung Tướng Minh cũng là sai mật hay dặn dò mật mà thôi. Như vậy là đến đây, chúng ta không còn thắc mắc gì về người nào đã ra lệnh và lệnh xuất phát từ đâu. Cá nhân hay tập thể Hội Ðồng, Ðại Tá Dương Ngọc Lắm, chắc chắn phải biết rõ mật lệnh mà Trung Tướng Minh đã giao cho Thiếu Tướng Xuân. Vì nếu không thì tại sao đích thân ông đến gặp tôi để dặn dò tôi trước khi đoàn xe khởi hành:

"Nè, mấy người đừng có nói gì bậy bạ nghe".

"Tôi cũng biết chắc chắn ngay từ lúc bàn thảo kế hoạch sơ khởi trước tháng 11 năm 1963, các vị Tướng Tá trong nhóm lãnh đạo đảo chánh đã có dự trù một giải pháp dứt khoát đối với ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu. Sự dự trù đã trở thành quyết định từ sau 1 giờ trưa ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ðó là truy tố ra tòa và xử ngay trong nước, không cho ra ngoại quốc. Tôi xin lặp lại, sơ khởi là như vậy. Nhưng theo lời Ðại Tá Nguyễn Văn Quan (không phải Ðại Tá Ðặng Văn Quang. PBH) nói với tôi, lúc khuya rạng sáng ngày 2 tháng 11 năm 1963 khi chưa được tin Tổng Thống và ông Cố Vấn rời khỏi dinh Gia Long, đa số trong Hội Ðồng không còn ý đưa ông Cố Vấn Nhu ra tòa nữa, mà nhất quyết phải trừ hậu họa bằng mọi cách. Rõ ràng là như vậy. Lúc bấy giờ tình hình chưa ngã ngũ. Dinh Gia Long chưa chiếm được, lực lượng phòng vệ Phủ Tổng Thống chưa buông súng đầu hàng, vì cũng chính ông Cố Vấn được qui trách cho mọi xáo trộn trong nước, làm mất lòng Dân Quân Cán Chánh, ... "

"Riêng đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, tuy chưa có quyết định dứt khoát, nhưng qua trao đổi ngoài hành lang thì đa số các vị trong Hội Ðồng có ý tán thành một giải pháp ôn hòa. Ðó là, để ổng ra ngoại quốc một mình như một dân thường, không được hưởng lễ nghi quân cách của một Tổng Thống. Biện pháp này coi như là một ân huệ đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tuy nhiên, theo lời Ðại Tá Quan xác nhận lại với tôi, thì Trung Tướng Minh vẫn còn im lặng, chưa có ý kiến".

"Khi được biết Tổng Thống và ông Cố Vấn đã bí mật rời khỏi dinh Gia Long, thì tình hình thật sự có thay đổi trong chiều hướng bất lợi cho hai ông. Khi còn chưa rõ hai ông ở đâu thì Hội Ðồng có phần lo âu, vì dù đảo chánh có thành công mà hai ông chạy thoát được thì tình hình chính trị ra sao đây? Chẳng những không có sự ổn định trong tương lai, mà sẽ có một sự chia rẽ có thể dẫn tới tranh chấp quyền lực, nếu không muốn nói là nội chiến ngay tại miền nam Việt Nam! Và nỗ lực chống cộng sản sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Nhất là đến giờ này, Tướng Huỳnh Văn Cao ở Vùng IV Chiến Thuật chưa chịu tuyên bố chánh thức trên đài phát thanh đứng về phía Hội Ðồng, mặc dầu được yêu cầu nhiều lần. Vùng IV có 3 Sư Ðoàn Bộ Binh được kềm giữ trong thế án binh bất động nhờ công của Thiếu Tá Nhan Minh Trang, Thiếu Tá Huỳnh Văn Tồn, và Ðại Tá Nguyễn Hữu Có".

"Do đó, từ quyết định ôn hòa trước đó, đã có một số không ít thành viên trong Hội Ðồng bắt đầu tỏ thái độ cứng rắn và quyết liệt hơn, nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, linh hồn của cuộc đảo chánh. Ông không muốn thấy ngày 11 tháng 11 năm 1960 tái diễn (11/11/1960 là ngày Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi đảo chánh thất bại phải vượt thoát lưu vong. PBH). Chúng ta phải thấy được trách nhiệm nặng nề của người chỉ huy cuộc hành quân đảo chánh lúc bấy giờ, mới biết được mức độ lo âu nóng ruột của Trung Tướng Dương Văn Minh như thế nào. Từ đó mới thấy thái độ của Trung Tướng Minh qua đề nghị của Trung Tướng để Hội Ðồng lấy quyết định về trường hợp cá nhân của ông Ngô Ðình Nhu, dứt khoát, không thể do dự hay yếu mềm được."

"Có người nói là trước khi đoàn xe khởi hành, Trung Tướng Minh đứng trên lầu tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, hướng về Thiếu Tướng Xuân hay Ðại Úy Nhung, đưa ra hai ngón tay (ý nói là cả hai người), nhưng tôi xác nhận là hoàn toàn không trông thấy. Tôi biết rõ tính trầm tĩnh và suy tính chín chắn của Trung Tướng Minh, nên tôi chắc chắn là ông không bao giờ có hành động vào phút chót quá lộ liễu như vậy. Nếu có ra lệnh, chắc chắn ông đã có đắn đo suy tính kỹ càng trước rồi, và ông đã phải dặn dò ngay Ðại Úy Nhung chớ không bao giờ ông lại ra lệnh để cho người ta thấy dễ dàng như vậy."

"Tôi xin mở thêm dấu ngoặc ở đây. Trước khi khởi hành, tôi có ghé ngang bộ chỉ huy Thiết Giáp hành quân đặt trên chiếc bán xích xa đậu cạnh tòa nhà chánh, báo cho Trung Tá Nguyễn Văn Thiện biết về hướng đi và nhiệm vụ của tôi. Tôi tuyệt đối không nói thêm điều nào, vì Trung Tá Thiện không phải là thành viên của nhóm đảo chánh. Trung Tá Thiện là cán bộ nòng cốt của đảng Cần Lao, là người tín cẩn của Tổng Thống và ông Cố Vấn, nên bị giữ ở phòng họp từ trưa hôm qua (1/11/1963). Tôi xin với Trung Tướng Minh cho tôi lãnh ông ra và tôi hoàn toàn trách nhiệm. Ðược chấp thuận, và Trung Tá Thiện chỉ huy Thiết Giáp trong cuộc hành quân này. Sau đảo chánh, ông được thăng cấp Ðại Tá và giữ nguyên chức vụ Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp."

"Ðoàn xe đến nhà thờ Cha Tam, Ðại Úy Hiệp giúp tôi lo bố trí an ninh. Tôi đến gặp Thiếu Tướng Xuân và Ðại Tá Lắm để nhận lệnh. Cả hai ông, không ai chịu vào nhà thờ để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn. Tôi không rõ tại sao, dù đó là nhiệm vụ của hai ông, và bảo tôi đại diện Hội Ðồng vào mời Tổng Thống và ông Cố Vấn ra xe là được rồi. Tôi vào nhà thờ qua cổng nhỏ bên mặt cổng chánh. Nhưng khi bước vào khỏi cổng khoảng 10 thước, tôi sực nhớ là mình vào một cơ sở tôn giáo không nên mang theo vũ khí. Tôi vội trở ra cổng, cởi súng lục trao cho tài xế của tôi. Lúc này người dân chung quanh thấy có việc lạ, tò mò đứng lố nhố đầy cả ngã ba trước rào sắt của nhà thờ. Binh sĩ cũng không gắt gao cho lắm, và chắc chắn bây giờ người dân đã biết được là Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu đang ở trong nhà thờ này."

"Tôi lại bước vào nhà thờ lần thứ hai, không súng, và vẫn một mình. Tôi không nhìn lại phía sau, nhưng nghĩ bụng là anh em Thiết Giáp ở ngoài rào sắt, chắc cũng đã bố trí theo dõi và an ninh cho tôi, vì biết rằng, tôi vào đây không một tấc sắt trong tay. Tôi mạnh dạn bước tới. Rẽ về tay mặt. Ði tới khoảng 20 thước thì thấy từ phía dãy nhà bên hông phải của nhà thờ có 4 người đi về hướng tôi. Ðó là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tay cầm gậy, ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, và 2 người mặc thường phục. Tôi nghĩ bụng, một trong hai người mặc thường phục có xách chiếc cặp da phải là Ðỗ Thọ, tùy viên của Tổng Thống. Người thứ tư tôi không biết. Mãi sau này tôi mới biết là Ðại Úy An, sĩ quan cận vệ của Tổng Thống. Tôi nghĩ, chắc là Tổng Thống đã được Hội Ðồng báo trước rồi, nên khi nghe thấy xe tới nhà thờ là Tổng Thống đi ra. Tôi đứng lại. Chờ. Nhưng vẫn không để ý xem hai sĩ quan này có võ trang hay không. Và khi Tổng Thống đến còn cách tôi khoảng 3 thước, tôi đứng nghiêm lại, đưa tay lên mũ, chào đúng lễ nghi quân cách, và giữ nguyên tư thế đứng nghiêm đó, tôi nói: "Thưa Tổng Thống, chúng tôi có lệnh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đến đây mời Tổng Thống và ông Cố Vấn về Bộ Tổng Tham Mưu. Có Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đại diện cho Hội Ðồng, đang đứng trước cửa chờ Tổng Thống".

"Tổng Thống đứng lại nghe tôi trình bày và có nói một câu ngắn mà tôi nghe không rõ. Sau đó, Ðại Úy Ðỗ Thọ bảo tôi đi trước, Tổng Thống sẽ theo sau. Nhưng tôi đứng nép qua một bên, mời Tổng Thống đi trước ra hướng cổng nhỏ bên phải. Cả 4 người qua hết rồi, tôi mới lững thững bước theo sau, cách xa độ 3 thước. Dù sao, trong cương vị sĩ quan, tôi vẫn bắt buộc phải giữ lễ độ đối với Tổng Thống dù đang trong hoàn cảnh này. Và đi sau cũng có thể là một hành động phản ứng đề phòng tự nhiên của tôi, chớ hoàn toàn không có ý gì khác. Tôi đinh ninh rằng, Thiếu Tướng Xuân đã phải có mặt trước cổng để hướng dẫn Tổng Thống lên xe về Tổng Tham Mưu, vì đó là nhiệm vụ của ông. Ðến cổng rào, vì là cổng nhỏ bên hông nên 4 người phải tuần tự qua cổng. Tổng Thống đi trước, đến Ðại Úy Thọ, rồi mới đến ông Cố Vấn, và Ðại Úy An. Tôi là người thứ 5 ra khỏi cổng sau cùng".

"Ngay lúc bấy giờ, tôi chợt thấy có chiếc Thiết Vận Xa đậu ngay cổng nhỏ này, cánh cửa sau xe mở rộng, gác nằm xuống sát mặt lề đường. Tôi thấy Thiếu Tướng Xuân và Ðại Úy Nhung đã có mặt tại chỗ. Không có Ðại Tá Lắm. Thiếu Tướng Xuân bảo Ðại Úy Ðỗ Thọ trao cho ông chiếc cặp da của Tổng Thống mà Ðại Úy Thọ đang xách. Ông Xuân xách chiếc cặp đi ngay, không nói lời nào khác ngoài việc khoác tay ra lệnh cho Ðại Úy Thọ và Ðại Úy An đi theo ông".

"Ðại Úy Nhung hướng về phía Tổng Thống và ông Cố Vấn Nhu, nói như ra lệnh: "Mời hai ông lên". Vừa nói vừa chỉ vào cửa Thiết Vận Xa đã mở. Lúc này Tổng Thống và ông Cố Vấn đứng cách cửa Thiết Vận Xa khoảng 1 thước. Tổng Thống không nói lời nào, chưa có một phản ứng nào về thái độ kém nhã nhặn của người sĩ quan mà ông chưa hề biết mặt. Tổng Thống còn đang tần ngần, sững sờ, thì ông Cố Vấn Nhu đã lên tiếng với vẻ mặt bất bình:

"Tại sao lên xe này? Không còn xe nào khác hay sao?"

"Không có. Vì lý do an ninh, tình hình đang hỗn loạn. Dân chúng đang muốn giết hai ông đó. Hai ông phải lên xe này thôi, để được bảo vệ".

"Ðại Úy Nhung có vẻ bực bội vì câu hỏi với giọng kẻ cả, nên vừa trả lời vừa đưa tay ra dấu như có ý đẩy hai người vào Thiết Vận Xa. Nhìn qua nhìn lại không thấy Thiếu Tướng Xuân đâu cả. Ðại Úy Thọ và người sĩ quan cận vệ cũng không thấy có mặt. Tổng Thống hỏi:

"Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đâu? Gọi Thiếu Tướng đến gặp tôi".

"Thiếu Tướng Xuân đã lên xe đi trước rồi". Ðại Úy Nhung vừa trả lời vừa giục hai ông vào xe. Sau phút ngập ngừng, hai ông phải bước vào xe.

"Tôi vẫn còn đứng cách đó vài bước bên cạnh cổng nhỏ nhà thờ, nhìn thấy cảnh Thiếu Tướng Xuân đầu trần, không nhìn thẳng Tổng Thống. Thiếu Tướng đã đưa tay nhận lấy chiếc cặp da từ tay Ðại Úy Thọ, xong là bước đi luôn về hướng xe của ông, không quên ra lệnh cho Ðại Úy Thọ cùng người sĩ quan cận vệ theo ông, để mặc cho Ðại Úy Nhung đối đáp với Tổng Thống ra sao tùy ý. Tôi cũng nhìn thấy được gương mặt thẫn thờ, ngạc nhiên của Tổng Thống, vẻ bất bình cau có của ông Cố Vấn Nhu, và thái độ nóng nẩy của Ðại Úy Nhung. Tôi theo dời được những câu trao đổi ngắn ngủi nhưng mất bình tỉnh của ông Cố Vấn với Ðại Úy Nhung, cũng như sự im lặng chịu đựng của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Tôi còn chứng kiến được cảnh hai người lặng lẽ bước vào xe, còn nghe Ðại Úy Nhung bảo họ cúi đầu xuống. Ðợi cho hai ông vào xe xong, Ðại Úy Nhung mới bước vào sau cùng. Và cửa xe từ từ dựng đứng lên, đóng kín lại. ... "

"Ngay lúc bấy giờ, tôi mới kịp nhận ra là trong Thiết Vận Xa không còn một binh sĩ Thiết Giáp nào, ngoại trừ tài xế và phụ tài xế ngồi phía trước. Lúc Ðại Úy Nhung bước vào xe, thì rõ ràng tôi chỉ thấy có 3 người trong xe. Ðó là Tổng Thống, ông Cố Vấn, và Ðại Úy Nhung. Sau này hỏi ra tôi mới biết, trưởng xa và xạ thủ đã được Ðại Úy Nhung yêu cầu tạm qua xe khác. Tôi bước xuống lòng đường, đi bộ lại gặp Thiếu Tướng Xuân, tôi báo cáo tình hình sau cùng, và đề nghị với Thiếu Tướng cho đoàn xe khởi hành về Bộ Tổng Tham Mưu".

"Tôi bước về xe Jeep của tôi, ra lệnh cho đoàn xe nổ máy và chuẩn bị lên đường. Thứ tự các xe như cũ: Xe Jeep của tôi và Ðại Úy Hiệp đi sau 2 xe Quân Cảnh dẫn đường, kế đó là xe Thiếu Tướng Xuân, xe Ðại Tá Lắm, theo sau là 4 Thiết Vận Xa đi liền nhau, trong đó, chiếc thứ 3 chở Tổng Thống và ông Cố Vấn với Ðại Úy Nhung, tiếp theo là xe chở bộ binh tùng thiết (tức là bộ binh ngồi trên xe Thiết Giáp), sau cùng là xe Trung Ðội Trưởng. Ðoàn xe đang đi trên đường Hồng Thập Tự, qua khỏi nhà bảo sanh Từ Dũ phải dừng lại cổng xe lửa vì sắp có xe lửa chạy qua. Thời gian đoàn xe dừng lại đây khoảng hơn mười phút, chợt tôi nghe có mấy tiếng súng nổ phía sau, vào khoảng giữa đoàn xe. Tôi cho quay đầu xe Jeep lại, chạy dọc theo đoàn xe để xem việc gì đã xảy ra. Ðến ngang chiếc Thiết Vận Xa chở Tổng Thống và ông Cố Vấn, tôi thấy Ðại Úy Nhung ngồi trên nóc xe và hướng về phía chúng tôi, đưa một ngón tay cái lên làm hiệu (được hiểu là mọi việc tốt đẹp). Tôi vội hỏi:

"Tiếng súng nổ ở đâu?"

"Ðại Úy Nhung đưa tay chỉ vào trong xe mà không nói gì. Tôi quay đầu xe lại, tiếp tục trở lên đầu đoàn xe. Lúc đó xe lửa cũng vừa qua xong, cổng chắn ngang đã mở, đoàn xe chúng tôi tiếp tục chạy hướng về Bộ Tổng Tham Mưu. Ðể được biết rờ ràng hơn, tôi có hỏi Trung Ðội Trưởng Thiết Giáp, việc gì đã xảy ra mà có tiếng súng nổ trên chiếc Thiết Vận Xa thứ 3. Tôi được trả lời:

"Phụ tài xế xe thứ 3 có báo cáo cho tôi biết, tiếng súng đó do ông Ðại Úy bộ binh ngồi trong xe bắn chết Tổng Thống và ông Cố Vấn rồi".

Cả tôi và Ðại Úy Hiệp đều nghe biết sự việc này qua hệ thống truyền tin Thiết Giáp trên xe chỉ huy của chúng tôi, nhưng tôi vẫn chưa có báo cáo gì về Tổng Tham Mưu vào lúc đó, cả với bộ chỉ huy Thiết Giáp cũng vậy. Riêng tôi, tôi không biết tại sao cả hai ông đã bị bắn chết. Vì cho tới giờ này, cũng như các Tướng Tá thành viên khác của Hội Ðồng, tôi vẫn biết là Hội Ðồng dù chưa có quyết định nào dứt khoát cho trường hợp của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nhưng gần như đã có một sự hiểu ngầm qua trao đổi ý kiến ngoài hành lang bán chánh thức giữa các thành viên của Hội Ðồng, thì Tổng Thống được cho xuất ngoại như một người dân bình thường".

"Gặp Trung Tướng Minh và các vị Tướng Lãnh ngay lối vào tòa nhà chánh, Thiếu Tướng Xuân báo cáo ngắn gọn rằng:

"Mission accomplie (nhiệm vụ hoàn thành)".

"Trầm ngâm và đăm chiêu, Trung Tướng Minh chưa nói một lời nào sau báo cáo của Thiếu Tướng Xuân, thì Thiếu Tướng Khiêm (Trần Thiện Khiêm) ngay sau đó hỏi nhỏ:

"Việc gì đã xảy ra?"

"Hai ổng đã chết rồi".-

"Trung Tướng Minh trả lời ngắn gọn như vậy. Ngay lúc này, tôi có mặt tại chỗ, và chợt hiểu. Thì ra câu "nhiệm vụ đã hoàn thành" (mission accomplie) cũng có nghĩa là hai ổng đã chết rồi. Rất là rõ ràng. Trung Tướng Minh nói xong, tất cả đều không có một câu hỏi nào khác nữa và cùng nhau trở lên văn phòng, không đi ra chỗ Thiết Vận Xa đậu nữa. Tôi cũng đi theo".

" Bước vào đây tôi mới thấy Ðại Úy Nhung đã có mặt ở văn phòng của Tham Mưu Trưởng rồi, tức là văn phòng mà Trung Tướng Minh và các Tướng Tá trong Hội Ðồng đang tạm sử dụng. Lúc bấy giờ, tôi mới biết thêm là Ðại Úy Nhung đã lên đây trước và báo cáo với Trung Tướng Minh trước khi có người lên đây trình đoàn xe đón Tổng Thống đã về đến Tổng Tham Mưu. Ðại Úy Nhung chỉ báo cáo riêng cho Trung Tướng Minh mà thôi, và chắc chắn là kín là mật, nên các Tướng Tá trong Hội Ðồng, kể cả Thiếu Tướng Khiêm cũng chưa hay biết được việc gì đã xảy ra. Do đó, khi Trung Tướng Minh cùng các Tướng Tá trong Hội Ðồng cùng đi xuống sân vận động dự trù để gặp Tổng Thống và ông Cố Vấn, thì chưa ai biết được việc gì đã xảy ra cho Tổng Thống cả. Vừa đến tầng dưới thì gặp ngay Thiếu Tướng Xuân từ ngoài sân bước vào, hớn hở báo cáo (công khai) với Trung Tướng Minh là nhiệm vụ đã hoàn thành".

"Ðể trả lời câu hỏi: "Việc gì đã xảy ra của Thiếu Tướng Khiêm", Trung Tướng Minh mới buông gọn một câu: "Hai ổng đã chết rồi". Tôi đã kín đáo nhận xét thái độ của các thành viên trong Hội Ðồng ngay tại hành lang tầng dưới của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, ngay sau khi Thiếu Tướng Xuân báo cáo, và sau đó Trung Tướng Minh trả lời ngắn gọn cho Thiếu Tướng Khiêm. Thoạt đầu, tất cả đều có vẻ vui (có lẽ khi biết là đã đón hay bắt được Tổng Thống và ông Cố Vấn về đây rồi), vì ai cũng nghĩ rằng phe đảo chánh ta đã nắm chắc phần thắng 100% mà không còn sợ hậu họa gì nữa, vì hai ông không chạy vuột ra khỏi thủ đô để còn mưu tính chuyện gì khác đâu. Và câu "mission accomplie" cũng được các Tướng Tá trong Hội Ðồng hiểu là đã bắt được hai ông về rồi. Ðến lúc nghe Trung Tướng Minh trả lời cho Thiếu Tướng Khiêm là cả hai đều đã chết hết rồi thì phần đông đều có vẻ sửng sốt, ngạc nhiên, đến độ không nói được một lời nào. Vì cứ y theo quyết định, thì cùng lắm cũng chỉ một mình ông Cố Vấn Nhu mà thôi, tại sao lại là hai người? Ai cũng nghĩ là Tổng Thống sẽ được Hội Ðồng cho đi ra ngoại quốc, bây giờ tại sao lại như vậy? Phải giải thích thế nào đây? Riêng Trung Tướng Minh rất là trầm tĩnh, không nói một lời nào với Thiếu Tướng Xuân dù là một lời khen hỏi ủy lạo, chỉ vài lời ngắn gọn cho câu hỏi của Thiếu Tướng Khiêm thôi".

"Sau đó vài hôm, tôi có dịp gặp lại Thiếu Tá Nhung (đã được thăng cấp. PBH). Ðể hết thắc mắc, tôi có gặn hỏi lại sự việc đã xảy ra như thế nào trong chiếc Thiết Vận Xa, thì Thiếu Tá Nhung vừa cười vừa trả lời cho tôi một cách gọn gàng như đã không có chuyện gì quan trọng xảy ra:

"Một người cũng vậy, mà hai người cũng vậy thôi. Hai người cũng khó khăn lắm, nhưng chắc ăn hơn".

"Nhưng làm gì có lệnh cho hai người?" Tôi gợi ý hỏi thêm.

"Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi đâm chết, nên tôi phải thanh toán luôn. Có lệnh cũng được, mà không có lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó đâu có đợi lệnh được anh".

"Thiếu Tá Nhung cũng cho tôi biết là anh đã sử dụng dao găm cá nhân của anh, và sau đó bồi thêm cho mỗi người một viên đạn ân huệ. Tôi còn nhớ mãi những câu đối đáp này mồn một, không bao giờ quên. Nhưng không bao giờ dám hé môi nửa lời ... Bí mật quốc gia chăng? Cũng có thể là như vậy, vì Hội Ðồng họp báo có tiết lộ điều gì rõ ràng đâu. Cũng không có giải thích điều gì, và cũng không có trả lời bất cứ câu hỏi nào có liên quan đến sự việc này".

"Kết luận. Tôi xin tạm mượn một câu trích nguyên văn của cựu Trung Tướng Trần Văn Ðôn trong quyển Việt Nam Nhân Chứng: Tuy lúc đó tôi không nghĩ đến chuyện giết hai ông Diệm Nhu, sau này nhìn lại các sự kiện, tôi cho rằng người nào đó ra lệnh giết này, quả là một người thấy xa. Ông ta không phải ngu dại gì khi làm chuyện đó. Nhưng theo tôi, xét cho cùng, người nào đó cho dù có thấy xa, có ngu dại hay có khôn ngoan gì thì cũng không phải là người thực sự có quyền chủ động, và không thể chủ động gì trong sự việc này. Lý do rất đơn giản và rất dễ hiểu là lúc nào cũng có một bàn tay lông lá của người phù thủy với chiếc đũa thần, luôn luôn có mặt bên cạnh ... đứng trong bóng tối".

Hết phần trích dẫn.

Trở lại phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm. Sau một lúc bàn thảo và viết viết sửa sửa, một bản Thông Cáo được hoàn chỉnh, liền đưa sang đài phát thanh công bố cho toàn dân biết là Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đã thành công trong mục tiêu lật đổ chế độ độc tài gia đình trị của họ Ngô. Ðồng thời cũng loan tin vắn tắt rằng, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đã tự sát.

Ngay trong buổi sáng hôm nay (2/11/1963), Bộ Tổng Tham Mưu với hằng trăm phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình trong nước ngoài nước, cùng với những vị hoạt động chính trị, ra vào tòa nhà chánh rất nhộn nhịp. Những chiếc xe bóng lộn chạy vào chạy ra như "con thoi" vậy. Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng ra lệnh thả tất cả tù chính trị dù có án hay chưa có án. Hải Quân được lệnh ra trại tù Côn Sơn đón các tù nhân chính trị về thủ đô, dĩ nhiên là không có tù chính trị cộng sản.

Buổi chiều (2/11/1963), trong buổi lễ đơn giản ngay trong phòng Thiếu Tướng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Trung Tướng Dương Văn Minh, nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, thăng cấp Trung Tướng cho các vị: Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, Thiếu Tướng Tôn Thất Ðính, Thiếu Tướng Lê Văn Kim, Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, thăng cấp Thiếu Tướng cho Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu và Ðại Tá Nguyễn Hữu Có, cùng nhiều vị cấp Tướng cấp Tá khác.

Trung Tướng Minh ra lệnh mở cửa phòng họp số 1 và các vị bị giữ từ trưa hôm qua được ra về, nhưng đa số các vị này sau đó không còn ngồi lại chiếc ghế tại nhiệm sở của mình mà phải ngồi những chiếc ghế mà báo chí thường gọi là "ngồi chơi xơi nước", hoặc ngồi ghế ở nhà riêng của quí vị ấy.

Ðến tối, hằng trăm sinh viên học sinh bị bắt giam trong cuộc tranh đấu cho Phật Giáo, sau khi ra khỏi nhà tù đã vào tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, mang theo đủ thứ thức ăn, nào bánh mì thịt, bánh tây, bánh ngọt, thịt quay, giò chả, cháo cá cháo thịt, .... đãi tất cả những ai có mặt tại đây, từ anh tùy phái, thư ký, đến cận vệ, tùy viên hay chánh văn phòng, và các vị Tướng Lãnh, một bữa ăn rất ý nghĩa trong một không khí thật vui. Phần tôi đã một ngày đêm không chợp mắt và cũng chẳng có thì giờ ăn uống mặc dù vợ tôi có cho mang vào. Giờ đây công việc không đến nỗi vất vả nên thật ngon miệng.

Trong khi Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng cùng với các nhân vật chính trị và tôn giáo, thảo luận về thành phần chánh phủ thay thế chánh phủ sụp đổ, thì thi hài ông Diệm và ông Nhu được đưa sang bệnh xá Tổng Tham Mưu, tọa lạc bên kia đường gần như đối diện với tòa nhà chánh Tổng Tham Mưu, để làm các thủ tục trước khi tẩn liệm và mai táng. Khai tử của hai ông làm tại quận Tân Bình, tỉnh Gia Ðịnh, ngang cổng số 2 trại Trần Hưng Ðạo, tức Bộ Tổng Tham Mưu. Nghề nghiệp trên tờ khai tử của ông Diệm thì tôi không được đọc, nhưng của ông Nhu ghi là "quản thủ thư viện".

Trung Tướng Trần Văn Ðôn ra lệnh cho Trung Tá Nguyễn Văn Luông (vừa thăng cấp) tìm mua hai quan tài tốt nhất, nhưng tìm cả Sài Gòn chỉ có một cái tốt nhất và cái còn lại được xem là tốt nhì. Dĩ nhiên cái tốt nhất dành cho cố Tổng thống Ngô Ðình Diệm. Theo yêu cầu của bà Trần Trung Dung, cháu gái gọi ông Diệm ông Nhu là cậu ruột, đưa hai quan tài đến quàn tại bệnh viện Saint Paul trên đường Phan Thanh Giản. Biết được tin đó, học xinh xinh viên vì phẫn uất trong tù đày khi tham gia đấu tranh cho sự công bằng tôn giáo, nên dự định đánh cắp quan tài của hai ông. Tin tức này đến tai bà Dung, và Bà vội vã xin Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng chuyển trở vào Bộ Tổng Tham Mưu. Sau cùng, hai quan tài được an táng tạm trong khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo, cạnh chùa An Quốc.

Lễ an táng vị nguyên thủ quốc gia và vị cố vấn của ông ngay sau khi bị lật đổ, thật là thê thảm! Phải cử hành lúc nửa đêm để tránh những đụng chạm xô xát với học xinh xinh viên. Trong bóng đêm mù mịt, dưới ánh đèn pha loại nhỏ, ánh sáng chỉ đủ cho công việc hạ huyệt hai quan tài. Có mặt lúc đó, gồm vị linh mục người Pháp, ông bà Trần Trung Dung (một thời là Bộ Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng dưới quyền Tổng Thống Diệm), Trung Tá Nguyễn Văn Luông (trưởng ban mai táng), tôi, và một số quân nhân của Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu phụ trách an táng. Xong, một biên bản được thiết lập, và toàn bộ hồ sơ được ghép thành một tập dày cùng với hình ảnh từ lúc tẩn liệm đến khi hoàn thành hai ngôi mộ. Hai ngôi mộ thật bình thường. Tôi có giữ một hồ sơ này, nhưng cuối cùng cũng phải thiêu hủy sau ngày chế độ tự do Việt Nam Cộng Hòa chúng ta sụp đổ 30 tháng 4 năm 1975.

Chánh phủ Nguyễn Ngọc Thơ được Trung Tướng Dương Văn Minh, với tư cách Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, chức năng Quốc Trưởng tấn phong, trong khi nhiều nhân vật từng được ông Diệm và ông Nhu tin cẩn bị bắt giữ. Ông Nguyễn Ngọc Thơ, trong ngành hành chánh, là Ðốc Phủ Sứ thời Pháp cai trị, nguyên là Phó Tổng Thống của Tổng Thống Diệm, nhưng ông được mời thành lập chánh phủ có lẽ nhờ vào thành tích khôi phục nền kinh tế trong những năm trước đó, với lại ông cũng chưa bị tai tiếng gì trong dư luận. Tân chánh phủ có màu sắc dân sự dù là có vài vị Tướng Lãnh nắm giữ Bộ Quốc Phòng và Bộ An Ninh (tức Bộ Nội Vụ cũ), nhưng thực chất lãnh đạo quốc gia vẫn là Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng mà Trung Tướng Minh là Chủ Tịch, hành sử chức năng Quốc Trưởng.

Những ngày tiếp theo, các chính khách vẫn ra vào Bộ Tổng Tham Mưu tuy không nhộn nhịp như những ngày đầu, nhưng tòa nhà chánh lúc nào cũng có khách dân sự -nói chung- vào gặp Trung Tướng Minh hoặc Trung Tướng Khiêm.

Chiều ngày 3 tháng 11 năm 1963, Ðại Tá Ðặng Văn Quang, sau khi được điều chỉnh từ Ðại Tá tạm thời thành Ðại Tá thực thụ, ông nói với Trung Tướng Khiêm:

"Trung Tướng lo thăng cấp cho nhiều người mà Trung Tướng quên thằng Hoa và nhân viên văn phòng. Tụi nó thức với Trung Tướng mấy ngày nay, mà chánh văn phòng của Trung Tướng là cực nhất đó".

"Ðúng là tôi không nhớ. Chú Hoa, chú và mấy chú trong văn phòng mỗi chú được thăng 1 cấp. Chú bảo Phòng Tổng Quản Trị làm xong Nghị Ðịnh đưa vào tôi trình Trung Tướng Minh duyệt ký".

Thế là tôi được thăng cấp Thiếu Tá từ hôm đó.

Các chức vụ quan trọng tại trung ương ngay sau cuộc đảo chánh thành công, như sau:

- Trung Tướng Dương Văn Minh, Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, tức Quốc Trưởng.

- Trung Tướng Trần Văn Ðôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng.

- Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, vẫn Tham Mưu Trưởng Liên Quân.

- Trung Tướng Tôn Thất Ðính, Tổng Trưởng Bộ An Ninh kiêm Tư Lệnh Quân Ðoàn III/Vùng III Chiến Thuật.

Các chức vụ quan trọng tại địa phương, như sau:

- Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, từ Ðà Nẳng lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến Thuật , hoán chuyển với Trung Tướng Nguyễn Khánh.

- Trung Tướng Nguyễn Khánh, từ Plei Ku xuống Ðà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Vùng I Chiến Thuật, hoán chuyển với Trung Tướng Trí. Trong khi cuộc đảo chánh chưa phân thắng bại, Thiếu Tướng Khánh chần chừ trong quyết định ủng hộ bên nào, đến gần sáng 2 tháng 11 năm 1963 mới lên tiếng ủng hộ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, và khi thành công ông cũng được thăng cấp Trung Tướng.

- Thiếu Tướng Bùi Hữu Nhơn, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Ðại Tá Nhơn nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh từ trung tuần tháng 12 năm 1962 do Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm bàn giao lại, và chuyển Sư Ðoàn từ Cần Thơ xuống Bạc Liêu. Ðảo chánh thành công, Ðại Tá Nhơn được thăng cấp Thiếu Tướng và nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV thay Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao bị cách chức.

Các chức vụ Tư Lệnh Hải Quân (Ðại Tá Hồ Tấn Quyền), Tư Lệnh Không Quân (Ðại Tá Huỳnh Hữu Hiền), Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (Ðại Tá Bùi Ðình Ðạm), Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh (Ðại Tá Bùi Dzinh), Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù (Ðại Tá Cao Văn Viên), Tư Lệnh Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến (Ðại Tá Lê Nguyên Khang), Chỉ Huy Trưởng Sở Khai Thác Ðịa Hình (Ðại Tá Lê Quang Tung, bị giết trong ngày đảo chánh), ..... và Trưởng Phòng Nhì Bộ Tổng Tham Mưu (Ðại Tá Nguyễn Văn Phước), đều bị thay thế. Riêng Ðại Tá Cao Văn Viên, chỉ vài ngày sau được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù.

Ngày 8 tháng 11 năm 1963, tôi chuyển lệnh của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm sang Bộ Tư Lệnh Không Quân, cấp 1 chiếc trực thăng lên Gò Dầu Hạ (tỉnh Tây Ninh) đón Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi về Sài Gòn. Trực thăng về đáp ngay trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu. Tôi dùng xe của Trung Tướng Khiêm ra đón Ðại Tá Thi và đưa vào phòng Trung Tướng Khiêm. Hai vị, sau cái bắt tay đã ôm nhau với nụ cười ròn rã. Nhưng liệu đằng sau hai nụ cười đó có phải xuất phát từ tình cảm chân thành hay chỉ là đầu môi? Bởi vì 3 năm trước đây, một vị lãnh đạo cuộc đảo chánh (Ðại Tá Thi) và một vị chỉ huy đánh dẹp cuộc đảo chánh đó (Trung Tướng Khiêm), giờ đây lại gặp nhau, bắt tay nhau, cùng nhau cười, nhưng cười vui hay cười gượng!!!

Chính trị, theo tôi, là một loại ngôn ngữ và hành động mà mỗi người hiểu theo cách riêng của mình tùy theo bối cảnh chung, sự kiện riêng, thời gian và không gian của nó. Nói như vậy, hành động như vậy, nhưng không nhất thiết là như vậy. Phải chăng, Trung Tướng Khiêm và Ðại Tá Thi đang là như vậy?

Cũng theo tôi, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm là vị lãnh đạo có bản lãnh chính trị. Ông là người thấy trước sự suy yếu trên chính trường quốc tế của Việt Nam Cộng Hòa nếu như chấp thuận cho Hoa Kỳ thiết lập các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và như vậy cuộc chiến tranh chống cộng sản sẽ mất thế chính trị, trong khi thế chính trị rất là quan trọng nếu không nói là có tính cách quyết định đối với cuộc chiến mà Việt Nam Cộng Hòa đang lâm trận (và điều này đã thật sự xảy ra). Nhưng rất có thể cũng vì ông có tầm nhìn xa như vậy mà ông đã bị lật đổ và bị giết chết? Vì thế mà cái chết của ông vẫn còn là một nghi vấn về người ra lệnh giết ông. Nhất thiết người đó phải là người Việt Nam có thẩm quyền lúc bấy giờ, nhưng liệu có phải chính người ấy tự mình quyết định hay người ấy cũng chỉ là người thi hành lệnh của ai đó đằng sau nữa? Nghi vấn cao nhất của tôi về người duy nhất ra lệnh giết ông Diệm ông Nhu vẫn là cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh. Giả thuyết rằng, nếu Ðại Tướng Minh tự nhận ra lệnh cho Ðại Úy Nhung giết ông Diệm, điều đó đúng hay sai tốt hay xấu còn tùy thuộc nhiều yếu tố mà những sử gia sẽ dẫn đến sự phán xét sau này, nhưng nếu Ðại Tướng Minh cho là ông thi hành lệnh của Hoa Kỳ chẳng hạn, chúng ta có thể phán xét ngay bây giờ chớ không cần chờ đợi sự phán xét sau này của lịch sử. Nhưng năm 2003, cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh đã từ trần, xin để ông yên nghỉ!

Mặt khác, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong hơn 9 năm cầm quyền, vừa chiến đấu chống du kích cộng sản, vừa xây dựng được nền kinh tế non trẻ bước đầu, và năm 1962 đã cân bằng được ngân sách quốc gia. Tổng Thống cũng là người lãnh đạo trong sạch, nhưng ông phải chịu trách nhiệm về mọi tác hại do anh em ông gây ra cho dân tộc, bởi vì ông là Tổng Thống, ông đã không ngăn chận, hoặc ông không đủ can đảm ngăn chận hành động của anh em ông, hoặc là ông xem thường thái độ chính trị của đồng bào dưới quyền ông, nên để mặc anh em ông thao túng!

Phải chăng ưu điểm của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm dù có nhiều, nhưng không bù được khuyết điểm của ông, vì khuyết điểm từ trong trách nhiệm của ông mới thật là cốt lõi của lãnh đạo?

Khi thăm đơn vị quân đội, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thường nhắc nhở người lính "chiến thắng ở mặt trận nhưng không nên tỏ ra kiêu căng ở hậu phương, vì như vậy là kiêu binh, mà kiêu binh thì mất lòng dân, mất lòng dân thì không thắng được cộng sản trong cuộc chiến tranh toàn diện này".

Vậy, có phải là Tổng Thống đã vấp phải điều mà ông răn dạy quân đội không?

Nhưng dù sao thì cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm -và chỉ riêng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thôi- tôi nghĩ, đã để lại nhiều luyến tiếc, thương cảm, thậm chí là ngưỡng mộ, trong các thành phần xã hội, kể cả quân nhân các cấp trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 14:34 Collapse   Print  
- hai -

Ðảo Chánh ngày 30 tháng 1 năm 1964

*****

Công du Nam Hàn (South Korea)

Ðầu tháng 12 năm 1963, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm gọi tôi vào văn phòng:

"Chú thích đi du lịch không?"

"Rất thích, nhưng chưa có cơ hội thưa Trung Tướng".

"Bây giờ có rồi. Chú liên lạc sang văn phòng Trung Tướng Ðôn (Trần Văn Ðôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng) làm thủ tục đi Ðại Hàn (South Korea) với tôi".

Không ngờ là cơ hội tốt đến với tôi trong hoàn cảnh đang vui, nên tôi xúc tiến ngay. Sau đó, tôi mới biết đây là phái đoàn thay mặt chánh phủ sang Ðại Hàn (Nam Triều Tiên) dự lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi vào ngày 17 tháng 12 năm 1963 tại thủ đô Seoul. Phái đoàn chánh thức gồm:

- Ông Phạm Ðăng Lâm, Tổng Trưởng Ngoại Giao, Trưởng phái đoàn.

- Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên.

- Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, thành viên.

- Ðại Tá Linh Quang Viên, Bộ Quốc Phòng, thành viên.

- Và tôi, Thiếu Tá Phạm Bá Hoa, Chánh Văn Phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, thành viên.

Ngoài ra còn có gia đình của Trung Tướng Khiêm và Thiếu Tướng Thiệu, thêm Ðại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Khiêm, và Ðại Úy Nhan Văn Thiệt, sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu.

Trong nhóm đi đầu là Ðại Tá Linh Quang Viên, và tôi. Chúng tôi rời Sài Gòn ngày 8/12/1963, dừng lại Tokyo 5 ngày chuẩn bị nơi ăn chốn ở cho gia đình của Trung Tướng Khiêm và Thiếu Tướng Thiệu, sẽ ngoạn cảnh và mua sắm trong khi chờ các vị dự lễ bên Seoul trở lại. Chúng tôi đến Seoul trưa ngày 13/12/1963 khi nhiệt độ nơi đây xuống đến 5 độ dưới không độ C. Tạm thời chúng tôi ở khách sạn Bando tại trung tâm thủ đô Seoul. Với sự giúp đỡ của tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại đây, chúng tôi hoàn thành công tác chuẩn bị: Ðại Tá Viên đã xong bản tường trình về tình hình chính trị trước và sau ngày bầu cử Tổng Thống của Ðại Hàn. Và tôi đã có đầy đủ tin tức cũng như chương trình chi tiết trong ngày lễ cùng những ngày sau đó dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa.

Cũng qua những buổi thuyết trình ngắn của tòa đại sứ, chúng tôi hiểu thêm đôi nét về thời gian cựu Tổng Thống Lý Thừa Vãng trong thời gian lãnh đạo quốc gia này. Theo đó, nếu so với bà Ngô Ðình Nhu nặng về chính trị, thì hoạt động của bà Lý Thừa Vãng nghiêng về kinh tế, và khách sạn Bando là một trong rất nhiều cơ sở kinh doanh của đệ nhất phu nhân họ Lý. Khi ông Lý Thừa Vãng lưu vong, Ðại Tướng Pak Chung Hi nhân danh quân đội lên cầm quyền. Ông có vị Cố Vấn phảng phất ông Ngô Ðình Nhu lúc đương thời, đó là ông Kim Jong Pil. Vì vậy mà khi Ðại Tướng Pak Chung Hi chánh thức tuyên bố ứng cử Tổng Thống, ông Cố Vấn của Ðại Tướng Pak Chung Hi đã theo khuyến cáo của Hoa Kỳ xuất ngoại để trấn an dư luận như là ông không dính dáng đến chính trị, nhưng thật ra ông đã chuẩn bị xong công tác tổ chức bầu cử trước khi xuất ngoại. Sau đó, cuộc bầu cử đã diễn tiến như dự định và Ðại Tướng Pak Chung Hi đắc cử. Ông Kim Jong Pil lại trở về Seoul, vẫn trong chức vụ Cố Vấn.

Phần chánh của phái đoàn đến phi trường Kimpo, thủ đô Seoul, trưa ngày 17/12/1963, tức là ngày Ðại Hàn cử hành lễ nhậm chức Tổng Thống của ông Pak Chung Hi. Cả phái đoàn đầy đủ được hướng dẫn lên khu Walker Hill cách Seoul khoảng 8 cây số về phía bắc, một khu thắng cảnh rất đẹp của Ðại Hàn, chỉ dành cho khách ngoại quốc để thu ngoại tệ. Cả một vùng rừng núi được biến thành khu du lịch với những khách sạn, nhà hàng, các khu giải trí với nhiều môn khác nhau, xây dựng bên các sườn núi mà hầu hết là nhìn xuống sông Hàn (Han river) uốn khúc dưới chân. Vào mùa này, nước sông Hàn đóng băng trắng xóa, trông rất đẹp.

Ðến nơi, vừa mang hành lý vào phòng là Trung Tướng Khiêm gọi tôi:

"Mấy giờ bắt đầu lễ vậy chú?"

"Dạ 3 giờ chiều, thưa Trung Tướng".

Ông nhìn đồng hồ:

"Ngay bây giờ, chú chạy đi tìm mua cho tôi "cặp lon 3 sao", vì trong cặp tôi chỉ có "3 sao" cho một bên áo thôi".

"Vâng".

Chẳng hiểu Ðại Úy Nguyễn Hữu Có ở Tokyo, khi chuẩn bị hành lý cho "xếp" lại gấp gáp thế nào mà chiếc áo đại lễ của Trung Tướng Khiêm chỉ có một bên 3 ngôi sao, nghĩa là thiếu 3 ngôi sao cho cầu vai bên kia (cấp hiệu Trung Tướng biểu hiện bằng 3 ngôi sao mỗi bên cầu vai).

Nhận lệnh của Trung Tướng Khiêm là như vậy, nhưng tôi chưa biết phải làm sao mua cho kịp. Chợt nhớ anh sĩ quan Công Binh tại Bộ Quốc Phòng Ðại Hàn, Thiếu Tá Choi, sĩ quan tùy viên cho phái đoàn chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa và anh ta trình diện Ðại Tá Linh Quang Viên tại sân bay trước khi phái đoàn đến. Ra phòng khách, tôi nói với anh về nhu cầu gấp rút đó và hy vọng anh ta giúp tôi được. Anh ta hỏi:

"Anh sẵn sàng chưa?"

"Sẵn sàng".

Thế là chúng tôi lên xe của phái đoàn có cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa và xe Cảnh Sát của Ðại Hàn dẫn đường chạy xuống Seoul. Quanh co một lúc, cả hai xe đậu ngoài đường cái, tôi theo Thiếu Tá Choi trên con đường hẻm vào gian hàng nhỏ ơi là nhỏ nằm sâu trong con đường thưa vắng người qua lại. Mua ngay "cặp lon 3 sao" mà không cần trả giá. Chúng tôi về đến Walker Hill vừa vặn cùng phái đoàn lên xe xuống Seoul dự lễ.

Seoul chiều ngày 17 tháng 12 năm 1963, đang trong thời tiết 5 độ dưới không độ C. Bầu trời u ám bao trùm thủ đô, một thành phố toàn cây trụi lá giữa mùa đông xám xịt. Quan khách của 25 quốc gia và viên chức của quốc gia sở tại, ngồi chật cả khán đài không mái che ngay trước tòa nhà Quốc Hội. Lễ nhậm chức của Tổng Thống Pak Chung Hi cử hành đúng 3 giờ chiều trong một không khí không được trang nghiêm khả dĩ tương xứng cho buổi lễ quan trọng này. Một phần vì thời tiết quá lạnh, một phần do dân chúng tham dự không nhiều, và phần khác là có một số người tập trung bên kia đường hô hào chống đối một cách lạc lõng, họ cáo buộc cuộc bầu cử vừa rồi là gian lận. Cảnh Sát chỉ đứng sát lòng đường để giữ trật tự mà không có hành động nào với nhóm người biểu tình.

Ngay sau lễ, các phái đoàn được hướng dẫn đến nhà hát xem trình diễn văn nghệ cổ truyền của Ðại Hàn. Rồi buổi dạ tiệc trọng thể, tổ chức trong khuôn viên dinh Tổng Thống mừng ngày trọng đại của Ðại Hàn Dân Quốc, khoản đãi các phái đoàn đại diện 25 quốc gia đồng minh. Ðại Hàn Dân Quốc là tên gọi của quốc gia phía nam của Triều Tiên theo chế độ dân chủ tự do, trong khi quốc gia phía bắc theo chế độ cộng sản độc tài, ranh giới giữa hai quốc gia này là vĩ tuyến 38. Khi chiến tranh thế giới lần thứ hai chấm dứt (năm 1945), cũng là lúc ba quốc gia trên thế giới bị chia đôi: Ðó là Ðức Quốc chia làm hai quốc gia theo chiều Ðông Tây, Triều Tiên và Việt Nam chúng ta chia làm bốn quốc gia theo chiều Nam Bắc.

Riêng hoàn cảnh chính trị của Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) có khác so với Việt Nam Cộng Hòa và Ðại Hàn Dân Quốc về địa lý, nhưng hoàn cảnh chính trị là cùng chống chiến tranh ý thức hệ cộng sản, có lẽ vì vậy mà những ngày sau đó, phải thừa nhận là chánh phủ Ðại Hàn đã dành cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa chúng ta và phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc, sự đón tiếp rất nồng hậu gần như riêng biệt trong số 25 phái đoàn quốc tế tham dự. Tổng Thống Ðại Hàn -theo lời của Bộ Ngoại Giao Ðại Hàn- chỉ tiếp phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và phái đoàn Trung Hoa Dân Quốc. Khi tiếp phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa, Tổng Thống nói tiếng Ðại Hàn và ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa nói tiếng Pháp. Tôi rất ngạc nhiên về điều này, vì lẽ ra ông phải nói tiếng Việt Nam. Thông dịch buổi tiếp kiến là hai thanh niên Ðại Hàn, một nam một nữ.

Quốc gia thứ 3 có hoàn cảnh chính trị giống nhau là Cộng Hòa Liên Bang Ðức, nhưng có thể do địa lý và văn hóa mà phái đoàn Cộng Hòa Liên Bang Ðức không nằm trong chương trình riêng biệt nói trên chăng, mặc dù phái đoàn này cũng có mặt trong lễ nhậm chức?

Trước khi rời Seoul, mỗi thành viên trong phái đoàn chúng ta được chánh phủ Ðại Hàn tặng 2 thùng trái cây tươi (bôm và nho) do Ðại Hàn sản xuất bước đầu về kỹ nghệ trong nông nghiệp. Ðây là chính sách quan trọng trong sách lược quốc gia của Ðại Hàn Dân Quốc -theo lời ông Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Ðại Hàn- từ sau cuộc chiến tranh 1950-1953.

Trở lại Tokyo ngày 20/12/1963. Ðêm 24/12/1963, phái đoàn được ông Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa và phu nhân tại Nhật Bản, khoản đãi phái đoàn tại nhà riêng. Trong khi trò chuyện, bỗng mọi thứ trong nhà đều rung chuyển nhè nhẹ, ly tách chén dĩa lắc lư kêu leng keng trong vài chục giây đồng hồ. Ông Ðại Sứ Nghĩa (xin lỗi là tôi không nhớ họ) trông thấy nét ngạc nhiên của phái đoàn nên ông lên tiếng trấn an:

"Khu vực chúng ta đang ngồi vừa bị động đất nhẹ nên không hư hại gì. Mời quí vị xem tivi sẽ rõ".

Vậy là, lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận được đôi chút về động đất.

Ngày 25/12/1963, tôi với Ðại Úy Nhan Văn Thiệt -tùy viên của Thiếu Tướng Thiệu- rời Tokyo trở về Sài Gòn vì hết tiền. Ông Phạm Ðăng Lâm, Tổng Trưởng Ngoại Giao, cũng rời Tokyo ngày ấy, nhưng ông chưa về Việt Nam mà còn đi thăm quốc gia nào đó.

Trung Tướng Khiêm nhận chức vụ mới.

Về đến là tôi vào văn phòng ngay vì chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng gọi tôi vào gặp Trung Tướng Trần Văn Ðôn dù hôm nay là ngày nghỉ.

"Thưa Trung Tướng, tôi vừa về đến".

"Anh ngồi đi. Công du có vui không?"

"Rất vui, thưa Trung Tướng".

"Anh có hay tin về chức vụ mới của Trung Tướng Khiêm chưa?"

"Dạ chưa Trung Tướng"

"Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đã cử Trung Tướng Khiêm giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III/Vùng III Chiến Thuật rồi".

"Thưa Trung Tướng, trường hợp này hồ sơ Trung Tướng Khiêm bàn giao cho vị nào để tôi chuẩn bị cho kịp?"

"Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Kim (Lê Văn Kim). Anh chuẩn bị cần thiết để Trung Tướng Khiêm khi về đến là bàn giao ngay và sang nhận Quân Ðoàn III".

"Lệnh này Trung Tướng Khiêm có biết chưa, thưa Trung Tướng?"

"Tôi chắc là chưa, nhưng dù sao thì anh cũng nên trình với Trung Tướng Khiêm khi anh đón ổng. Mà hôm nào Trung Tướng Khiêm về? -

"Rạng sáng ngày 1 tháng 1 (1964) về đến, thưa Trung Tướng".

"Anh liên lạc với chánh văn phòng Trung Tướng Kim và chánh văn phòng Trung Tướng Ðính để thu xếp chương trình lễ bàn giao. Mọi việc đều diễn tiến trong phạm vi nội bộ thôi. Anh có điều gì cần hỏi nữa không?"

"Dạ không. Tôi sẽ thi hành, thưa Trung Tướng".

Tôi rất thắc mắc là tại sao không chờ Trung Tướng Khiêm về hãy đưa ra quyết định này. Phải chăng Trung Tướng Dương Văn Minh cử Trung Tướng Trần Thiện Khiêm vào phái đoàn công du ngoại quốc để các vị ở nhà không gặp trở ngại khi quyết định như vậy? Trung Tướng Khiêm có nói với tôi rằng, ông là một trong rất ít (nếu tôi nhớ không lầm là 4 vị) vị đứng ra lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963), với lại chỉ riêng những lệnh tối mật mà Trung Tướng Khiêm chỉ thị cho tôi vào sáng sớm ngày đảo chánh, cũng đủ nói lên vị trí quan trọng của ông đến mức nào trong cuộc đảo chánh đó. Sao lại xử sự như vậy? Bởi đây là một cách mà trong giới cầm quyền thường nửa đùa nửa thật là "hạ tầng công tác". Dù đúng hay không đúng thì rõ ràng là từ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân tại Bộ Tổng Tham Mưu đến chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn, nhìn từ bên ngoài là xuống một bậc rồi còn gì!

Tôi chuẩn bị bàn giao, kể cả xin lệnh thuyên chuyển tất cả nhân viên văn phòng (6 người) sang Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, đồn trú trong khuôn viên trại Lê văn Duyệt, tọa lạc đường Lê văn Duyệt, Quận 3 Sài Gòn (về sau là bản doanh Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô).

Tuy Trung Tướng Khiêm đã dặn tôi và nhắc lại một lần trước khi tôi rời Tokyo ngày 25/12/1963, khi ông và gia đình về đến Tân Sơn Nhất, chỉ một mình tôi cùng mấy nhân viên trong tư dinh đón mà thôi, vì ông cho rằng đây chẳng qua là chuyện gia đình chớ không phải là phái đoàn công du trở về. Chính vì vậy mà ông chọn chuyến phi cơ về đến thủ đô khi Sài Gòn còn chìm trong giấc ngủ.

Ðúng 3 giờ sáng ngày 1/1/1964, Trung Tướng Khiêm, Thiếu Tướng Thiệu và hai gia đình về đến. Phi cơ dừng hẳn lại. Tắt máy. Tôi ra tận cầu thang đón ông. Chỉ vài bước đi:

"Xin Trung Tướng đi chậm một chút vì tôi có nhận lệnh của Trung Tướng Ðôn, thưa Trung Tướng".

"Chuyện gì vậy?"

"Trung Tướng có được tin gì về lệnh cử Trung Tướng giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III chưa?"

"Chưa. Mà ai nói với chú vậy?"

"Dạ, Trung Tướng Ðôn".

"Ổng nói với chú hồi nào?"

"Dạ ngay khi tôi về đến Sài Gòn. Và Trung Tướng Ðôn có nói là công tác bàn giao sau khi Trung Tướng về đến. Tôi đã chuẩn bị hồ sơ bàn giao xong rồi thưa Trung Tướng".

Trung Tướng Khiêm đứng hẳn lại và im lặng một lúc:

"Ổng có nói gì nữa không?"

"Dạ không".

"Sáng mai tôi gặp mấy ổng".

Trung Tướng Khiêm nhìn vào nhà ga bên khu vực dành riêng cho các nhân vật quan trọng:

"Ai đón mà đông vậy?"

"Dạ các vị Trưởng Phòng/Tổng Tham Mưu. Tôi xin lỗi Trung Tướng, vì các vị ấy nói quá nên tôi không thể nói dối về ngày giờ Trung Tướng về. Với lại tôi nghĩ là không nên cứng nhắc quá với các vị "tay phải tay trái" của Trung Tướng, e không có lợi".

Ði được mấy bước, bà Khiêm quay lại:

"Chú Hoa. Bộ có chuyện hả?"

Tôi thuật tóm tắt cho bà Khiêm nghe, bà có ý trách:

"Sao mấy ổng kỳ vậy?"

"Tôi cho là điều không bình thường, dù rằng Trung Tướng Ðính cần giảm bớt chức vụ Tư Lệnh Ðoàn III để chu toàn chức vụ Tổng Trưởng An Ninh".

"Chú biết ai thay "nhà tôi" không?"

"Dạ Trung Tướng Kim".

Bà Khiêm buột miệng:

"Họ hàng với ông Ðôn rồi".

Sáng ngày 2/1/1964, Trung Tướng Khiêm từ phòng Trung Tướng Ðôn trở về, ông gọi tôi:

"Chú tổ chức bàn giao chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân với chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III ngay chiều nay. Không có ai chủ tọa hết".

Lời nói và giọng nói của ông cho phép tôi suy đoán là ông đang tức giận.

"Vâng. Tôi thi hành ngay thưa Trung Tướng".

Ngay chiều hôm ấy, Trung Tướng Khiêm bàn giao cho Trung Tướng Lê Văn Kim tại Bộ Tổng Tham Mưu, sau đó sang Quân Ðoàn III nhận quân kỳ tiêu biểu chức vụ Tư Lệnh từ tay Trung Tướng Tôn Thất Ðính. Cả hai lễ bàn giao đều tổ chức trong văn phòng mỗi nơi một cách nhanh chóng.

Từ ngày Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng (2/11/1963), giờ làm việc trong quân đội được ấn định từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, được nghỉ nửa giờ để ăn trưa tại chỗ, nhưng tại văn phòng chúng tôi thông thường là phải đến 6 giờ chiều mới ra về.

Trung Tướng Khiêm khá xông xáo trong công tác đi thăm các đơn vị, các tiểu khu trực thuộc, nhưng theo cách nhìn của tôi thì ông không bộc lộ hết nhiệt tình như lúc giữ chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Xin đừng nghĩ rằng, nét nhìn của tôi bị ám ảnh bởi quyết định từ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân/Bộ Tổng Tham Mưu đến Tư Lệnh Quân Ðoàn III của Trung Tướng Khiêm mà có, vì tôi là một sĩ quan tham mưu đặc biệt dưới quyền trực tiếp của Trung Tướng Khiêm từ năm 1960, nên tôi khá quen với thái độ cũng như cử chỉ của ông trong những lúc vui buồn, suy tư, hay tức giận.

Khoảng từ trung tuần tháng 1/1964, tức là nửa tháng sau ngày nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III, Trung Tướng Khiêm (tại Sài Gòn) với Trung Tướng Nguyễn Khánh (tại Ðà Nẳng), rất thường liên lạc nhau qua điện thoại viễn liên, và rõ ràng là Trung Tướng Khánh khích Trung Tướng Khiêm trong việc phục hồi danh dự vì bị thuyên chuyển mà không được biết trước.

Trung Tướng Khiêm là người ít nói, không thích tiếp xúc với các cơ quan truyền thông, cũng chẳng thích phô trương, và con đường chính trị -theo tôi- cũng không phải là hướng đi của ông, nên tôi không nghĩ là ông dễ dàng bị Trung Tướng Khánh dẫn đến một cuộc chính biến nữa để gọi là phục hồi danh dự cho ông, đành rằng ông đang buồn phiền và chắc là buồn phiền về vấn đề ấy.

Chỉnh Lý.

Nhưng tôi lầm, vì cuộc đảo chánh quân sự lại xảy ra khá đột ngột.

Vào những ngày cuối tháng 1/1964, Trung Tướng Khánh từ Ðà Nẳng điện thoại bảo tôi cho xe đón ông trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất (thường thì đón ông bên nhà ga dân sự) và tuyệt đối không cho ai biết là ông về Sài Gòn. Tôi trình Trung Tướng Khiêm và dùng xe của Trung Tướng Khiêm đi đón Trung Tướng Khánh. Lúc ấy đã hết giờ làm việc trong ngày. Sau đó, hai vị cùng ngồi chung xe đi đâu đó mà tôi không rõ vì xe an ninh không được chạy theo như lệ thường. Ðiều này làm cho tôi tự hỏi: "Liệu có cuộc đảo chánh nữa hay không, vì sự vắng mặt bất thường này giống như những ngày cuối tháng 10/1963 vậy?"

Mờ tối ngày 29/1/1964, sau khi từ bộ tư lệnh Quân Ðoàn III về đến nhà, Trung Tướng Khiêm gọi tôi đến nhà ông ngay. Vào cửa, tôi thấy bàn ăn đã sẵn sàng nhưng gia đình ông chưa người nào ngồi vào bàn, ông chỉ tôi ngồi đối diện ông ngay trong phòng khách, và ông ra lệnh:

"Việc này đối với chú là lần thứ hai. Tôi muốn nói là chú biết việc gì phải làm. Chú mà hé môi với bất cứ ai trước khi thực hiện thì chú bị đứt đầu nghe chưa".

"Vâng".

Trong một thoáng thật nhanh tôi liên tưởng đến sự đi đâu đó của hai vị giống như trước ngày 1 tháng 11 năm ngoái (1963). "Ðảo chánh nữa chăng, vì Trung Tướng Khiêm vừa nói đây là lần thứ hai?" Ông tiếp:

"Vào sáng sớm mai, tôi + Trung Tướng Khánh + và Ðại Tá Viên (Cao Văn), lật đổ nhóm ông Minh ông Ðôn, vì các ông này có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập mà trung lập thì sớm muộn cũng vào tay cộng sản. Chú rõ chưa?"

"Dạ rõ".

"Sau giờ này, chú điều động xe truyền tin hành quân của Quân Ðoàn về đậu sau nhà chú. Nhà chú có chỗ kín đáo hông?"

"Dạ có. Sau nhà tôi là vườn chuối, tôi đốn bớt vài cây cho xe vào và sẽ thực hiện khi trời tối. Bên trái nhà tôi là Thiếu Tá Ðào Ngọc Thọ, và bên phải là gia đình Thiếu Tướng Thiệu. Mình ở Quân Ðoàn, hệ thống liên lạc hành quân là chuyện bình thường, chắc chẳng ai quan tâm đâu, thưa Trung Tướng".

"Ðích thân chú phải lên máy liên lạc trực tiếp với Thiếu Tướng Thiệu (ở Biên Hòa) và Thiếu Tướng Có (ở Mỹ Tho). Làm như vậy để biết chắc là mình giữ liên lạc được với hai ổng thôi, và khi liên lạc được rồi phải giữ máy thường trực cho tôi. Công tác này phải xong trước 2 giờ sáng. Nếu có gì trở ngại, chú trình tôi ngay. Chú rõ chưa?"
"Dạ rõ".
"Chú gọi chú Có sang ngủ nhà chú đêm nay. Chú Có không được quyền biết trước công tác này. Chú với chú Có đem xe truyền tin đến sân nhà Trung Tướng Khánh (sát bên phải cổng số 1 Tổng Tham Mưu) trước 3 giờ sáng, nhưng không nên sớm quá. Ðúng 3 giờ sáng, Ðại Tá Viên và Tiểu Ðoàn Dù vào cổng số 1. Chú đón tại cổng, mời Ðại Tá Viên vào nhà ông Khánh, và hướng dẫn Tiểu Ðoàn lên bố trí chung quanh tòa nhà chánh. Phần an ninh trại Trần hưng Ðạo, chú với Trung Tá Luông tổ chức như lần trước. Chú cần hỏi gì thêm không?"

"Dạ không".

"Chú chỉnh đồng hồ theo đồng hồ tôi đây. Trung Tá Luông sẽ nhận lệnh sau".

Sau khi rời khỏi nhà Trung Tướng Khiêm, tôi sang Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn, mời Ðại Úy Truyền Tin (dường như là Ðại Úy Nguyễn Hữu Phụng) lên văn phòng:

"Trung Tướng Tư Lệnh vừa ra lệnh cho tôi, đêm nay Trung Tướng cần giữ liên lạc thường trực với Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, để theo dõi cuộc hành quân vào căn cứ Hố Bò (của cộng sản), vì có tin là một tên quan trọng của chúng vừa đến nơi đây (tôi bịa ra tin này). Ngay bây giờ, anh có thể cho anh em trên chiếc xe AN/GRC 26 chuẩn bị di chuyển sang nhà tôi bên Tổng Tham Mưu".

"Tôi cho lệnh chuẩn bị ngay. Khi xong, xe đến đây chờ lệnh Thiếu Tá".

Cũng phải mất nửa tiếng đồng hồ dọn đường, chiếc xe truyền tin mới vào được vị trí. Lúc đó tối lắm rồi, tôi trợ giúp anh em truyền tin dựng cột antenne vì liên lạc xa. Ðại úy Nguyễn Hữu Có vừa đến và tiếp tay, nên công tác chuẩn bị cho hệ thống liên lạc hành quân được nhanh chóng. Ðại úy Có không thấy tôi nói lý do sự có mặt xe này tại đây nên cũng không hỏi, vì thật ra giữa chúng tôi hiểu nhau về những vấn đề bảo mật, nếu một bên không nói thì bên kia không bao giờ hỏi. Nhóm hành quân chúng tôi chẳng ai ngủ được cả, vì ăn khuya xong là bắt tay vào việc lên máy gọi Sư Ðoàn 5 và Sư Ðoàn 7. Lúc 00 giờ 30 ngày 30/1/1964:

"Cửu Long gọi Ðồng Nai. Trả lời".

"Ðồng Nai nghe 5/5. Có gì cho Ðồng Nai. Trả lời".

"Giới chức của Cửu Long cần gặp thẩm quyền Ðồng Nai trên máy. Trả lời".

"Rõ. Xin chờ đầu máy.... "

"Hoa đó hả? Tôi đây". Ðó là tiếng nói của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

"Thưa Ðại Bàng, Ðại Bàng tôi chỉ cần biết có liên lạc là tốt rồi. Tôi xin phép ngưng. Trả lời".

"Ðược rồi".

Cửu Long là danh hiệu Quân Ðoàn III. Ðồng Nai là danh hiệu Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Ðại Bàng có nghĩa là vị Tư Lệnh.

Ðến Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, hai anh chuyên viên luân phiên gọi liên tục mà cứ như gọi vào khoảng không mù mịt của đêm khuya vì chẳng nghe tăm hơi đầu kia gì cả.

Ðang rầu thúi ruột! Bỗng dưng, đài của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh nhảy vô và lúc đó gần 2 giờ sáng rồi. Sau khi tôi liên lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, cả 3 đài trên hệ thống đặc biệt này giữ máy thường trực. Xin nói rõ thêm, Sư Ðoàn 7 Bộ Binh thuộc Quân Ðoàn IV, nên không có trong hệ thống liên lạc thường trực của Quân Ðoàn III. Nhưng giữa các vị thu xếp trước, nên Sư Ðoàn 7 Bộ Binh vào hệ thống đặc biệt này. Dĩ nhiên là tôi phải "ngụy tạo lý do" để giải thích cho các anh chuyên viên, vì sao mà Sư Ðoàn 7 Bộ Binh tăng phái cho Quân Ðoàn III trong cuộc hành quân đặc biệt từ hôm nay. Ðơn giản, là vùng hành quân dọc theo liên ranh Quân Ðoàn III và Quân Ðoàn IV. Thế thôi.

Ðiện thoại trình Trung Tướng Khiêm xong, tôi ngồi luôn trên xe truyền tin như là ngồi chơi với các anh chuyên viên, nhưng thật ra là tôi ngăn chận những liên lạc đến bất cứ nơi nào khác, vì lúc nãy có một anh thắc mắc về sự có mặt của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh trong hệ thống này. Lúc gần 3 giờ, nhóm chúng tôi di chuyển lại nhà Trung Tướng Nguyễn Khánh, tạm gọi là "bản doanh nhóm lãnh đạo đảo chánh". Kể ra thì tên gọi đó cũng không sai. Trước khi rời nhà, tôi mới cho Ðại úy Nguyễn Hữu Có biết công việc đã làm từ đêm qua và đang làm tiếp. (hai ông cùng tên Nguyễn Hữu Có, nhưng một là Ðại Úy và một kia là Thiếu Tướng)

"Sao đảo chánh hoài vậy Anh?" Vợ tôi hỏi.

"Anh cũng hổng biết. Chỉ biết Trung Tướng (Khiêm) nói là Trung Tướng Dương Văn Minh có kế hoạch trung lập, mà trung lập thì gần tới cộng sản rồi Em".

"Ghê vậy!"

Ðúng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964.

Ðại Tá Cao Văn Viên và Tiểu Ðoàn Nhẩy Dù lặng lẽ qua cổng số 1 Tổng Tham Mưu với nhiệm vụ sẵn sàng tác chiến, nếu như có đơn vị nào đó kháng cự lại.

Trong cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963, Ðại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Nhẩy Dù, bị xếp vào những nhân vật thân tín của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm nên bị Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng cách ly với Lữ Ðoàn. Ngày 2/11/1963, Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bị giết, các vị bị cách ly từ hôm trước được trả tự do nhưng hầu hết đều bị cách chức. Ðại Tá Cao Văn Viên cũng trong số các vị bị cách chức. Ngày hôm sau bà Cao Văn Viên điện thoại tôi:

"Chú Hoa. Trung Tướng của chú (ý nói Trung Tướng Trần Thiện Khiêm) có hứa với chị là sẽ xin với Trung Tướng Minh (Dương Văn Minh) cho Ðại Tá (Cao Văn Viên) trở về chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù để lấy lại danh dự, và 24 tiếng đồng hồ sau đó Ðại Tá sẽ đệ đơn từ chức. Chị nhờ chú theo dõi diễn tiến ra sao rồi cho chị biết ngay nghe chú".

"Vâng".

Ngưng một chút, bà tiếp:

"Mà chú thấy có hy vọng không?"

"Em thì chưa biết gì về việc này, nhưng theo em nghĩ, với vị trí hiện nay của Trung Tướng (Khiêm) trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, hy vọng là Trung Tướng thực hiện được lời hứa với chị".

Và rồi Ðại Tá Cao Văn Viên trở về chức vụ cũ, nhưng sau đó ông có xin từ chức Tư Lệnh Nhẩy Dù hay không thì tôi không biết, nhưng rõ ràng là ông vẫn trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù.

Các đơn vị an ninh thuộc Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã vào vị trí. Trung Tá Nguyễn Văn Luông đi lúc nào tôi không rõ, nhưng chắc chắn là đi rồi. Nhiệm vụ của Trung Tá Luông cùng với toán Quân Cảnh, Nhẩy Dù, An Ninh Quân Ðội, .... đi bắt những vị Tướng mà Trung Tướng Khiêm với Trung Tướng Khánh cho là có kế hoạch trung lập. Ðó là các vị:

- Trung Tướng Trần Văn Ðôn.

- Trung Tướng Tôn Thất Ðính.

- Trung Tướng Mai Hữu Xuân.

- Trung Tướng Lê Văn Kim.

- Và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ.

Riêng Trung Tướng Dương Văn Minh thì tôi không rõ là có tên trong danh sách bị bắt hay không. Trước lúc bình minh, tại bản doanh -nhà Trung Tướng Khánh- có mặt: Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, Ðại Tá Cao Văn Viên, một người Việt Nam dáng vấp trung bình về chiều cao lẫn chiều ngang, và một người Mỹ mặc quần tây dài áo sơ-mi tay ngắn. Anh chàng Mỹ này không phải là người có mặt trong cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 trước đây. Nói cách khác, người Mỹ này không phải Trung Tá Conein. Căn cứ theo lần đảo chánh đó, tôi tin chắc rằng, người Mỹ này là gạch nối giữa nhóm đảo chánh với giới chức thẩm quyền Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Thậm chí, có thể là đại diện của cơ quan tình báo trung ương Hoa Kỳ từ Mỹ. Mà cho dù là gạch nối hay đại diện đi nữa, cũng là bằng chứng một sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963, và cuộc đảo chánh hôm nay 30/1/1964.

Chỉ cần ba nhân vật, một ít lực lượng, với một người Hoa Kỳ quyền thế, cuộc đảo chánh diễn tiến thật êm thấm vì chỉ cần bắt 5 vị Tướng nói trên là xong. Êm thấm đến nỗi tôi tin rằng, người dân Sài Gòn và ngay cả nhiều cơ quan đơn vị quân đội, không hề biết gì về một biến cố quan trọng vừa xảy ra, nếu như đài phát thanh Sài Gòn vẫn phát đi chương trình bình thường. Năm vị Tướng bị bắt, đã đưa ra phi trường Tân Sơn Nhất, và nơi đến là Ðà Nẳng. Trung Tướng Khánh đã chỉ thị ngoài đó đón và đưa về nơi giam giữ. Người bị bắt thứ 6 là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung -tùy viên của Trung Tướng Dương Văn Minh- người mà tôi đặt nghi vấn cao nhất "đã đâm và bắn Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông cố vấn Ngô Ðình Nhu", thì bị đưa lên trại Hoàng Hoa Thám -tức doanh trại Lữ Ðoàn Nhẩy Dù- và giữ tại đó. Tại đây, Thiếu Tá Nhung buộc phải viết tờ khai về những gì đã làm liên quan đến cái chết của ông Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu. Sau ngày đảo chánh 30/1/1964, tôi cũng không biết gì về nội dung trong tờ khai đó. (mãi đến năm 1998, qua bài báo của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, tôi mới biết chính xác là Thiếu Tá Nhung đã giết hai ông ấy. Ðược cựu Ðại Tá Nghĩa đồng ý qua điện thoại, tôi đã bổ túc phần đó trong ấn bản lần 3 vào cuối năm 1998).

Vài hôm sau, Lữ Ðoàn Nhẩy Dù cho biết là Thiếu Tá Nhung đã thắt cổ tự tử. Mẩu tin đơn giản đó liệu có mấy người tin? Bởi Ðại Tá Cao Văn Viên được xem là người thân tín của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông bị giữ trong ngày đảo chánh 1/11/1963, nhưng sau đó nhờ Trung Tướng Khiêm mà ông được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, do vậy mà cho dẫu Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung có chết một cách bình thường cũng là điều mà dư luận khó chấp nhận, huống chi đây là tin Thiếu Tá Nhung thắt cổ! Căn cứ theo lời viết trong tờ khai, Thiếu Tá Nhung khai là anh đâm ông Ngô Ðình Nhu bằng lưỡi lê, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm chống cự khi ông Nhu bị anh đâm chết, nên anh đâm Tổng Thống Diệm luôn. Sau đó, Thiếu Tá Nhung bắn bồi thêm cho mỗi người một viên đạn ân huệ. Cứ theo luật pháp thông thường trong xã hội, giết người phải đền tội là chuyện phải đến thôi. Chuyện phải đến trong hoàn cảnh là như vậy, nhưng Thiếu Tá Nhung có đáng chết hay không lại là vấn đề khác. Có điều lạ là tôi không thấy dư luận đặt nghi vấn: "Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết là do chính ông tự tử, hay ông chết do bị giết rồi tạo cảnh như là chính ông tự tử? Nếu Thiếu Tá Nhung bị giết thì ai là người ra lệnh giết? Ai là người thi hành lệnh đó? Và lệnh giết Thiếu Tá Nhung có đúng hay không"? Nếu cho rằng, giết người mà không do phán quyết của tòa án là sai, thì Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu là sai, và người giết Thiếu Tá Nhung cũng là sai. Tôi nghĩ, nếu truy tố Thiếu Tá Nhung ra tòa án quân sự trong tình hình lúc bấy giờ cầm chắc là bản án tử hình đến với anh. Nếu hành động minh bạch như vậy, sẽ cho thấy nhóm lãnh đạo đảo chánh tôn trọng luật pháp chớ không áp dụng "luật giang hồ" theo kiểu tam-đoạn-luận: "Giết người thì bị người (khác) giết. Anh đã giết người. Anh phải bị người (khác) giết".

Ðến đây tôi xin mở ngoặc để ghi lại lời thuật của ba vị nói về cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung. Trước hết là lời của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, định cư tại San Jose, California. Anh đồng ý cho tôi đưa vào hồ sơ này qua e-mail lúc 2 giờ 31 phút chiều ngày 6/3/2004:

Vào thời điểm 1/11/1963, tôi là Trung Úy, Trưởng Ban An Ninh Căn Cứ Hoàng Hoa Thám Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, thời Ðại Tá Cao Văn Viên làm Tư Lệnh Lữ Ðoàn này. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị giữ tại trại Cải Hối do Phân Ðội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù phụ trách. Tôi được lệnh thẩm vấn Thiếu Tá Nhung và Thiếu Tá Nhung khai rằng, khi đoàn xe chạy đến cổng xe lửa trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân về việc ông Diệm và ông Nhu, thì được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng câu tiếng Pháp "Feu tous les deux" (bắn cả hai).

Ðây là câu trả lời được ghi lại trong ký ức tôi. Luôn tiện tôi xin đưa ra dữ kiện về việc Thiếu Tá Nhung tự tử để quí vị phán xét. Trước khi tôi bắt đầu thẩm vấn, Thiếu Tá Nhung xin phép tôi điện thoại về nhà để nhắn nhủ vợ con yên tâm. Trên nguyên tắc thì người đang bị thẩm vấn không được liên lạc ra ngoài, nhưng tôi muốn tạo tình cảm thuận lợi cho công tác lấy lời khai nên tôi đồng ý. Thẩm vấn xong, tôi giao lại Phân Ðội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù. Ðến sáng hôm sau được báo là Thiếu Tá Nhung đã treo cổ. Tôi đến nơi trông thấy Thiếu Tá Nhung treo cổ bằng sợi dây giày loại giày cao cổ, có để lại mấy chữ ở bìa trắng của tờ báo như sau:

"Em ở lại nuôi các con, bọn Diệm sống lại rồi"'.

Cây viết Parker 51 nắp vàng, còn nằm trên tờ báo. Tôi thuật lại đây để quí vị tùy nghi xét đoán, nếu không thì có nhiều người suy đoán trật quá xa sự thật. Tối thiểu, chúng ta cũng phải căn cứ trên các dữ kiện tôi nêu trên có thể kết luận Thiếu Tá Nhung tự vận hơn là bị giết.

Hết phần trích dẫn trên trang e-mail về lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, và xin tiếp lời thuật của cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh qua điện thoại. Cựu Trung Tá Phạm Ngọc Khanh, định cư tại San Francisco, California. Trong cuộc đảo chánh 30/1/1964, anh là Ðại Úy sĩ quan tùy viên của Ðại Tá Cao Văn Viên. Giữa năm 2001, sau khi đến Washington DC thăm cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên trở về, anh điện thoại cung cấp cho tôi một số tin tức liên quan đến sức khỏe và cuộc sống hằng ngày của vị Tướng đã từng là Tổng Tham Mưu Trưởng liên tục gần 10 năm. Nhân đó, anh thuật cho tôi nghe mẩu tin Thiếu Tá Nhung tự tử sau cuộc đảo chánh ngày 30/1/1964. Lời thuật như sau:

"Cái hôm Thiếu Tá Nhung chết, lúc đó còn sớm lắm, điện thoại từ sĩ quan trực Lữ Ðoàn Nhẩy Dù gọi đến tư dinh báo cáo là Thiếu Tá Nhung đã tự tử, và đưa vào bệnh xá của Lữ Ðoàn rồi".

Ðại Úy Khanh trình cho Ðại Tá Viên, và Ðại Tá Viên ra lệnh:

"Nói với sĩ quan trực (Lữ Ðoàn) gọi bác sĩ cứu được gì thì cứu".

Theo lời Ðại Úy Khanh thì lúc ra lệnh đó, Ðại Tá Viên không có vẻ gì bất ngờ trước cái tin chết người như vậy, nhất là người chết lại là người mà dư luận đặt nghi vấn, thậm chí còn quả quyết anh ấy đã giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu nữa. Ðiều này cho phép chúng ta suy đoán có thể là Ðại Tá Viên biết trước về cái chết của Thiếu Tá Nhung. Nhưng nếu biết trước, thì liệu Ðại Tá Viên có liên quan gì? Bởi vì cái tin Thiếu Tá Nhung tự tử có thể là thật, cũng có thể là không thật. Không thật, vì có thể cái chết đó là do dàn dựng cho Thiếu Tá Nhung, cũng có thể là do áp lực dẫn đến chính Thiếu Tá Nhung phải tự tử. Ðiều này vẫn còn trong bóng tối.

Cũng liên quan đến vụ này, vị thứ ba là cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm vào tối ngày 21 tháng 10 năm 2003, khi nói đến cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, ông nói với tôi là ông nghe nói một số quân nhân Nhẩy Dù đã vì tức giận việc Thiếu Tá Nhung giết Tổng Thống Diệm, nên ra tay giết Thiếu Tá Nhung.

Xin đóng ngoặc.

Thật tình tôi không có bằng chứng để quả quyết là ai ra lệnh giết, nhưng điều mà cựu Ðại Tướng Khiêm nghe nói lại, dường như chưa đủ sức thuyết phục người đọc lẫn người nghe. Quí vị có suy nghĩ gì về sự kiện này không?

Với lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, đối chiếu với lời thuật của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa mà tôi được phép đăng trong chương nói về cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, thì nghi vấn về người ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, trở nên phức tạp. Tôi xin ghi lại những lời đó sau đây:

- Theo lời của cựu Ðại Tá Nghĩa, sau ngày đảo chánh 1/11/1963, ông gặp Thiếu Tá Nhung và hỏi điều ông thắc mắc là tại sao giết cả hai ông, thì Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trả lời một cách tỉnh bơ rằng:

"Một người hay hai người cũng vậy thôi. Hai người thì khó khăn một chút, nhưng chắc ăn hơn. Vì ông Diệm chống cự lại sau khi ông Nhu bị tôi đâm chết, nên tôi phải thanh toán luôn. Có lệnh cũng được, mà không có lệnh cũng vậy thôi. Cho nó chắc ăn. Lúc đó đâu có đợi lệnh được".

- Theo lời thuật của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, thì đầu năm 1964 anh là Trung Úy, sĩ quan An Ninh của căn cứ Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, anh được lệnh thẩm vấn Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, và anh ghi nhận lời khai của Thiếu Tá Nhung như sau:

" ...Khi đoàn xe chạy đến cổng xe lửa trên đường Hồng Thập Tự, tôi xin lệnh Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân về việc ông Diệm và ông Nhu, thì được Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trả lời bằng câu tiếng Pháp "feu tous les deux" (bắn cả hai) . .

Vậy, ai là người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu? Trung Tướng Dương Văn Minh, hay Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân, hay cả hai vị?

Theo cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa, với lời của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung đã nói trực tiếp với ông (tức cựu Ðại Tá Nghĩa), thì nghi vấn của tôi về người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu là Trung Tướng Dương Văn Minh (cấp bậc lúc đảo chánh). Nhưng theo lời khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trước mặt cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim, thì Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đã ra lệnh cho ông (tức Thiếu Tá Nhung) giết chớ không phải Trung Tướng Dương Văn Minh.

Cho đến bây giờ là tháng 3 năm 2004, tức sau khi e-mail của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim với nội dung thuật lại lời khai của cố Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, tôi vẫn giữ nguyên nghi vấn Trung Tướng Dương Văn Minh ra lệnh cho Ðại Úy Nguyễn Văn Nhung (cấp bậc lúc đảo chánh) giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, vì Trung Tướng Dương Văn Minh là vị lãnh đạo cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963. Trong chức vụ và quyền hạn của Trung Tướng Dương Văn Minh, chỉ có ông mới đủ thẩm quyền ra lệnh cho Ðại Úy Nhung giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, chớ không thể nào Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân trong trách nhiệm thay mặt Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng -theo lời của cựu Ðại Tá Dương Hiếu Nghĩa- lại tự ý ra lệnh này được.

Cứ thử nêu một giả thuyết là Trung Tướng Minh có giao quyền rộng rãi cho Thiếu Tướng Xuân tùy cơ ứng biến với Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu đi nữa, thì từ khi đoàn xe rời nhà thờ Cha Tam chạy đến cổng xe lửa dừng lại chờ xe lửa chạy ngang, đã có việc gì xảy ra đâu mà Thiếu Tướng Xuân đến nỗi phải "ứng biến" bằng cái lệnh "bắn cả hai" như Thiếu Tá Nhung khai với sĩ quan an ninh căn cứ Hoàng Hoa Thám là Trung Úy Lâm Sanh Kim lúc ấy? Một giả thuyết như vậy không có sức thuyết phục, vì lệnh "bắn cả hai" là bắn Tổng Thống với Cố Vấn của Tổng Thống, tính cách quan trọng của cái lệnh này ở cấp quốc gia chớ không phải cái lệnh bắn giết địch quân dành cho vị Tư Lệnh ở chiến trường.

Tôi có hai giả thuyết về lời khai của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung:

Thứ nhất. Hoặc lời khai đó là thật, nghĩa là Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân được Trung Tướng Dương Văn Minh giao cho cái quyền rộng rãi đó để tùy tình hình mà giải quyết. Nhưng trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu trong một "tình hình hoàn toàn yên tĩnh" mà Thiếu Tướng Xuân lại ra lệnh "bắn cả hai" thì hành động đó có thể xem là lạm dụng quyền được giao. Như vậy, phải chăng bắt nguồn từ nguyên nhân hận thù nào đó của Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân đối với Tổng Thống Ngô Ðình Diệm? Nhưng nếu do thù hận riêng tư mà Thiếu Tướng Xuân dám ra lệnh giết chết Tổng Thống và Cố Vấn của Tổng Thống, quả là ông liều lĩnh. Liều lĩnh vì cấp trên của ông là Trung Tướng Dương Văn Minh còn đó, cho dù ông có là bạn thân của Trung Tướng Minh đi nữa, không chắc ông dám liều đến như vậy.

Thứ hai. Hoặc lời khai đó do Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung tự bịa ra để khai khi bị thẩm vấn. Nhưng tại sao lại bịa ra? Rất có thể là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung muốn bảo vệ Trung Tướng Dương Văn Minh, vị Tướng mà Thiếu Tá Nhung đang là cận vệ. Hoặc không do nguyên nhân bao che bảo vệ cho Trung Tướng Minh, thì rất có thể là Thiếu Tá Nhung có điều gì đó không bằng lòng Thiếu Tướng Xuân nên khai cho Thiếu Tướng Mai Hữu Xuân chăng? Giả thuyết này có vẻ không vững, bởi lúc Thiếu Tá Nhung cung cấp lời khai này chỉ ba tháng sau ngày Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu bị giết, mà trong dư luận chưa nghe loan truyền về cái lệnh giết Tổng Thống và ông Cố Vấn là công hay tội, thì khó mà nói là Thiếu Tá Nhung đổ tội cho Thiếu Tướng Xuân qua lời khai của ông. Rốt lại, chỉ còn giả thuyết oán ghét hay thù hận của Thiếu Tá Nhung với Thiếu Tướng Xuân thôi. Trong cuộc sống, cũng có những sự kiện xảy ra mà không thể dựa trên những dữ kiện bình thường để suy đoán phần kết luận. Nói nôm na là nghịch lý. Phải chăng trường hợp này là thế?

Trở lại cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung. Theo lời của cựu Thiếu Tá Lâm Sanh Kim mô tả khi đến phòng giam trông thấy thi hài Thiếu Tá Nhung trong tình trạng thắt cổ bằng sợi dây giày loại giày cao cổ. Ðây là loại giày mà quân nhân sử dụng khi mặc quân phục tác chiến. Giá mà cựu Thiếu Tá Kim mô tả rõ thêm là khi bị ông thẩm vấn thì Thiếu Tá Nhung mặc quân phục gì, có thể có thêm tin tức cần thiết. Sở dĩ tôi nêu điều này vì cuộc Chỉnh Lý (cũng là một loại đảo chánh) thực hiện lúc nửa đêm về sáng, năm vị Tướng và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt trong khi cư dân Sài Gòn còn chìm trong giấc ngủ, thì liệu các vị có thì giờ mặc quân phục không? Thôi thì tạm thời chấp nhận Thiếu Tá Nhung mặc quân phục tác chiến lúc bị bắt đưa về giam tại Phân Ðội 204 Quân Cảnh Nhẩy Dù. Vì nếu Thiếu Tá Nhung không mặc quân phục tác chiến tức là không đi giày cao cổ, vấn đề lại thêm rắc rối và phải quay trở lại đào sâu thêm nữa để làm sáng tỏ về cái chết của Thiếu Tá Nhung, vì không đi giày cao cổ thì sợi dây giày thắt cổ anh Nhung từ đâu ra?

Nửa đêm về sáng ngày 30/1/1964, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung bị bắt đưa về căn cứ Lữ Ðoàn Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung trải qua cuộc thẩm vấn tại Lữ Ðoàn Nhẩy Dù là sự thật. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung chết trong tình trạng thắt cổ là sự thật. Nhưng Thiếu Tá Nhung chết trong tình trạng thắt cổ, thì những dữ kiện trên đây chưa đủ để khẳng định điều đó là sự thật. Tôi có hai giả thuyết:

Thứ nhất. Chính Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung tự thắt cổ. Nhưng ông tự thắt cổ là do ông hối hận, do bị áp lực, hay do ông muốn làm một anh hùng vì ông đã giết Tổng Thống với Cố Vấn trong khi không ai làm được, ông bị bắt nhưng ông không muốn bị làm nhục, đã dẫn đến quyết định như vậy? Giả thuyết hối hận không vững, vì luật pháp cũng như dư luận có buộc tội đâu. Giả thuyết do bị áp lực, hoặc giả thuyết ông muốn làm anh hùng, có thể lắm.

Thứ hai. Không phải chính Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung tự thắt cổ. Vậy, ai đã thắt cổ Thiếu Tá Nhung? Người thắt cổ Thiếu Tá Nhung là do chính người đó, hay người đó nhận lệnh của người nào khác nữa? Tôi không có dữ kiện nào về giả thuyết này, mong vào những nhà viết sử, theo thời gian sẽ thu thập được nhiều dữ kiện làm sáng tỏ vấn đề.

Cuối cùng, tôi vẫn đặt nghi vấn cao nhất và duy nhất là Trung Tướng Dương Văn Minh, người ra lệnh giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu.

Nay thì Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, ba con người này đã vào lòng đất tối tăm mù mịt, hay đang bay lượn trên những tầng mây cao với những nàng tiên xinh đẹp, thôi hãy để các vị yên nghỉ! Và nếu như hai con người nào đó "đã ra lệnh giết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, giết ông cố vấn Ngô Ðình Nhu, và ra lệnh giết Thiếu Tá Nhung nếu có, còn sống trên cõi đời này mà còn chút lương tâm, tôi tin là hai con người đó, đã và đang còm cõi với nỗi khổ riêng của họ! Năm 2003, Ðại Tướng Dương Văn Minh, người mà tôi đặt nghi vấn cao nhất là người ra lệnh giết Tổng Thống Diệm với ông Cố Vấn Nhu, đã vào giấc ngủ ngàn thu! Xin cắm một nén hương trước mộ ông, với lời nguyện hương linh ông sớm siêu thoát vào cõi vĩnh hằng xa xôi nào đó, hay cõi đó cũng quanh quẩn trong cõi tạm trần ai này!

Thêm nữa, theo lời của cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cho tôi biết vào tối 21 tháng 10 năm 2003, thì nguyên nhân dẫn ông vào cuộc đảo chánh này là vì Trung Tướng Dương Văn Minh đã đồng ý với ông (tức Thiếu Tướng Khiêm, cấp bậc lúc đảo chánh) trong cuộc đảo chánh ngày 1//11/1963, là chỉ giải quyết ông cố vấn Ngô Ðình Nhu, còn Tổng Thống Ngô Ðình Diệm phải được bình yên và xuất ngoại, nhưng sau đó Trung Tướng Minh đã ra lệnh giết luôn Tổng Thống Diệm làm cho ông bất mãn. Cũng do bất mãn đó mà Trung Tướng Khiêm (cấp bậc trong cuộc đảo chánh 30/1/1964) đồng ý với Trung Tướng Khánh lật đổ Trung Tướng Minh và những vị Tướng thân cận của Trung Tướng Minh. Vậy là suy đoán của tôi trong quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ từ ấn bản 1 đến ấn bản 3, về nguyên nhân Trung Tướng Trần Thiện Khiêm trực tiếp trong cuộc đảo chánh 30/1/1964, chỉ đúng một nửa.

Tôi có dịp dùng cơm với cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên vào tối ngày 6 tháng 9 năm 2003 tại Virginia, nhưng tôi cảm thấy không nên hỏi những gì liên quan đến cái chết của Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, vì gần như phần lớn thời gian trong bữa ăn kéo dài 3 tiếng đồng hồ, cựu Ðại Tướng Viên cho tôi biết thêm vài sự kiện, đồng thời ông giải thích một số sự kiện về những gì tôi viết về ông trong quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ của tôi, nhưng cần giải thích thêm để sự kiện được rờ ràng. Ông cũng giải thích về những sự kiện mà những tác giả khác đã nói về ông. Trong đó, có vẻ ông không bằng lòng tác giả Nguyễn Tiến Hưng, vì có những sự kiện mà ông nói là ông Hưng tưởng tượng hoàn toàn.

Xin đóng ngoặc, và mời quí vị trở lại bản doanh cuộc đảo chánh.

Khoảng 7 giờ sáng, Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi đến bản doanh. Một lúc sau, Thiếu Tá Nguyễn Huy Lợi -cùng nhóm lưu vong với Ðại Tá Thi trong vụ đảo chánh 11/11/1960 thất bại- và nhiều sĩ quan khác cũng đến. Ðại Tá Thi bước vội đến Thiếu Tá Lợi đang đứng bên ngoài nhà, và sau một lúc lời qua tiếng lại, Ðại Tá Thi bốp một phát vào mang tai Thiếu Tá Lợi. Thiếu Tá Lợi đỏ mặt và trong tư thế sẵn sàng bốp lại, nhưng nghĩ sao đó, Thiếu Tá Lợi quay lưng bỏ đi. Ðại Tá Thi vào nhà, có vẻ như để chứng minh ông đúng:

"Thằng khốn nạn đó nó coi thường tôi".

Lời lẽ này đúng hay không chỉ có quí vị trong nhóm lưu vong mới biết, nhưng hành động như vậy, tự Ðại Tá Thi làm giảm phong cách của một sĩ quan cao cấp trong quân đội.

Sau một lúc thảo luận, viết rồi sửa, sửa rồi viết. Một bản Tuyên Cáo được phát đi trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn. Ðại ý nội dung cho rằng, Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập trong cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963, đã có kế hoạch đưa nước Việt Nam đến trung lập, mà trung lập thì trước sau gì cũng vào tay cộng sản. Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập hôm nay, sẽ truy tố các vị đó ra tòa trong thời gian sớm nhất.

Khoảng 10 giờ sáng, điện thoại reo:

"Thiếu Tá Hoa tôi nghe".

"Em mời Trung Tướng Khiêm nói chuyện với Trung Tướng Minh nghe em".

Ðó là lời của Trung Tá Ðỗ Kiến Nhiễu, chánh văn phòng của Trung Tướng Minh. Năm 1955, ông là Thiếu Tá, Tiểu Ðoàn Trưởng của tôi (Tiểu Ðoàn 510 Khinh Quân), nên ông thường gọi tôi bằng em. Xe của Trung Tướng Minh và Trung Tá Nhiễu đã vào cổng lúc hơn 9 giờ.

"Xin Trung Tá chờ đầu máy".

"Mời Trung Tướng tiếp chuyện với Trung Tướng Minh".

Tôi bước đến ghế bố mà Trung Tướng Khiêm đang nằm vì ông bị cảm, tôi trao ống nói cho ông, nhưng:

"Chú nói với Trung Tướng Minh là tôi đang mệt và cần nghỉ ngơi. Tôi sẽ gọi lại sau".

Quả thật là Trung Tướng Khiêm đang mệt, ông bị khàn tiếng. Từ lúc bắt đầu cuộc đảo chánh, Trung Tướng Khiêm là người ra chiều suy nghĩ âu lo và theo dõi chặt chẽ diễn tiến "cuộc hành quân bắt cóc các vị Tướng". Ðến khi các vị đó lên phi cơ quân sự đi Ðà Nẳng, ông nằm dài trên ghế bố. Dù sự thật là như vậy, nhưng chắc gì Trung Tướng Minh tin như vậy. Và rồi Trung Tướng Minh có thể nghĩ rằng, Trung Tướng Khiêm đã bắt hết các vị Tướng thân cận của ông rồi, nên khước từ nói chuyện với ông cũng nên. Tôi thì không nghĩ như vậy. Tuy Trung Tướng Khiêm chưa phải là vị Tướng xuất sắc của chiến trường hay nơi bàn giấy, nhưng ông có một tình cảm chân thành của một con người đối với cấp trên, với bạn bè, và nhất là với các cộng sự viên xa gần lớn nhỏ của ông. Tôi đã chứng kiến nhiều lần khi ông niềm nỡ bắt tay những đồng đội thuộc Tiểu Ðoàn 3 Việt Nam, đơn vị mà có lần Trung Tướng Khiêm rất vui vẻ khi ông nói với tôi là ông rất nhiều cảm tình. Những đồng đội trước kia dưới quyền của Trung Tướng Khiêm tại Tiểu Ðoàn này, đến những năm 60, phần lớn là Thượng Sĩ hay Thượng Sĩ Nhất.

"Thưa Trung Tá, Trung Tướng Khiêm bị cảm và khàn cổ. Thể nào Trung Tướng Khiêm cũng gọi lại Trung Tướng Minh khi sức khỏe cho phép".

Nói thì nói vậy, nhưng khoảng 30 phút sau thì Trung Tướng Khiêm điện thoại nói chuyện với Trung Tướng Minh. Theo lời ông thuật lại với Trung Tướng Khánh và Ðại Tá Viên, tôi biết là Trung Tướng Minh cần gặp ông với Trung Tướng Khánh để thảo luận một số vấn đề cần thiết. Vấn đề gì thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ chỉ quanh quẩn về việc các vị bị bắt thôi, chớ chẳng việc nước việc non gì đâu. Bởi sự thể đã đâu vào đó rồi. Nhưng nếu Trung Tướng Khánh ở vị trí Trung Tướng Minh hiện tại, thì Trung Tướng Khánh không nói chuyện êm thấm nhẹ nhàng vậy đâu, bởi Trung Tướng Khánh vốn là không ôn hòa, nhất là trong tình cảnh đó.

Sau một lúc thảo luận to nhỏ với người Mỹ đã có mặt từ sớm, Trung Tướng Khánh mời Trung Tướng Khiêm và Ðại Tá Viên vào bàn họp. Một số sĩ quan quan tâm hay hiếu kỳ, đang đứng lóng ngóng trong nhà để theo dõi tin tức, được mời ra sân. Tại sân, khá đông sĩ quan các quân binh chủng, cùng một số phóng viên báo chí. Tuy không đông, không nhộn nhịp như cuộc đảo chánh 1/11/1963, nhưng cũng chật sân trước. Lúc bấy giờ trong nhà Trung Tướng Khánh, chỉ có Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm, Ðại Tá Viên, người Việt Nam có vẻ là thân tín của Trung Tướng Khánh, một viên chức Hoa Kỳ, và tôi.

Trung Tướng Khánh lên tiếng trước như là người chủ tọa:

"Thôi, mọi việc xong rồi. Bây giờ thì anh Khiêm làm đi".

Trung Tướng Khiêm, tay phải gỡ kiến xuống và tay trái lau kiến, đó là những động tác biểu hiện sự suy nghĩ của ông. Tiếp đó, ông xoay qua Ðại Tá Viên, vừa cười vừa nói:

"Phần tôi đến đây là đủ rồi. Tôi không thích chính trị đâu, hay là anh Viên nhận đi".

Ðại Tá Viên với nụ cười không hết miệng như lúc nào, ông nói:

"Thôi. Hai anh tính với nhau đi, ai làm cũng được mà. Tôi không thích lao vào chính trị đâu. Phần tôi đến đây là xong. Tôi muốn ở Lữ Ðoàn Dù với anh em của tôi".

Ðại Tá Viên lớn tuổi hơn hai vị kia, nhưng ông rất cẩn thận trong cách xưng hô với mọi người, ngay cả với cấp dưới cũng vậy, chớ không nhất thiết là chỉ cẩn thận với hai vị này.

"Các "toa" không nhận thì "moa" đành nhận thôi".

Nói xong, Trung Tướng Khánh cười khoan khoái. Trung Tướng Khánh nói nhận ở đây, là nhận chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, tức Quốc Trưởng, và kiêm luôn chức Thủ Tướng. Vậy là chức vụ của Trung Tướng Khánh nhiều bằng chức vụ của Trung Tướng Minh với ông Ðốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ trước đây cộng lại. Trung Tướng Khánh đồng ý giữ Ðại Tá Viên trong chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù. Mời Trung Tướng Khiêm giữ chức Tổng Tưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội, nhưng Trung Tướng Khiêm không nhận. Ông muốn ở lại chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Dĩ nhiên là chính ông "muốn" chớ không phải ông "bị" như cách đây tròn 1 tháng. Buổi họp chọn vị đứng đầu quốc gia và đứng đầu chánh phủ tạm ngưng, vì Trung Tướng Khánh phải lên tòa nhà chánh họp báo.

Lúc đó là 2 giờ chiều, tại tầng trệt tòa nhà chánh. Rất đông phóng viên báo chí truyền thanh truyền hình trong nước lẫn ngoại quốc. Trên bàn chủ tọa, Ðại Tá Cao Văn Viên ngồi cạnh Trung Tướng Nguyễn Khánh, còn Trung Tướng Khiêm vắng mặt vì bệnh. Chuẩn Úy Nguyễn Ngọc Linh là thông dịch. Chuẩn Úy Linh tốt nghiệp khóa 12 (hoặc 13) Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Ông là chủ một trường Anh ngữ khá nổi tiếng tại Sài Gòn. Sinh viên sĩ quan khóa này có một số khá đông tốt nghiệp đại học mà báo chí thường gọi là "thành phần khoa bảng".

Tổng quát thì Trung Tướng Khánh cho rằng, một số Tướng Lãnh trong nhóm đảo chánh 1/11/1963, đã âm mưu đưa nước Việt Nam đến trung lập, mà trung lập là thời kỳ chuyển tiếp đến chế độ cộng sản. Và âm mưu này phải phá vỡ từ trong trứng, nếu không, nó sẽ là một sỉ nhục các chiến sĩ và đồng bào đã ngã xuống cho ngọn cờ quốc gia chống cộng. Ðồng thời, dân tộc Việt Nam phải chịu sự thống trị của cộng sản và lệ thuộc Trung Cộng như hằng ngàn năm trong lịch sử. Do vậy, mà nhóm của ông đứng lên làm cuộc "chỉnh lý" hôm nay....

Sau đó, ông trả lời những câu hỏi của báo chí. Phần lớn những câu hỏi đều xoay quanh điều mà ông nói là âm mưu trung lập Việt Nam. Tôi không nhớ hết nguyên văn câu hỏi và trả lời, nhưng những điều dưới đây là tôi tóm tắt theo trí nhớ (đoạn này tôi viết lại lúc trong tù):

"Nhóm lãnh đạo chỉnh lý gồm những ai?"

"Nhóm lãnh đạo của chúng tôi gồm 3 người: Tôi, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Ðại Tá Cao Văn Viên". Vừa nói ông vừa chỉ Ðại Tá Viên.

"Xin Trung Tướng cho biết những bằng cớ về âm mưu trung lập?"

"Hội Ðồng chúng tôi sẽ truy tố các vị đó ra tòa theo luật định. Tòa án sẽ căn cứ vào những bằng cớ để phán quyết".

"Các vị Tướng đó nghe nói đã bị bắt, có đúng không? Nếu đúng, thì các vị đó bị giữ ở đâu?"

"Ðúng. Các vị đó được giữ ở nơi an toàn trong khi chờ ra tòa".

"Nhóm Chỉnh Lý có thành lập chánh phủ dân sự như nhóm đảo chánh trước đây hay không?"

"Chúng tôi thành lập chánh phủ quân sự, nhưng cũng là tạm thời".

"Hiến Chương tạm thời bao giờ được thay đổi?"

"Sẽ được thay bằng Hiến Pháp khi Quốc Hội được bầu lên trong một tình hình ổn định".

"Hàm râu của Trung Tướng cắt theo kiểu đó có nghĩa gì?"

Dường như bị bất ngờ, Trung Tướng Khánh đưa tay vuốt chòm râu cụt ngủn kèm theo nụ cười kéo dài khá lâu, chắc là để tìm câu trả lời trước câu hỏi này.

"Mỗi quân nhân chúng tôi thường có cái gì đó để kỷ niệm cho riêng mình. Hàm râu của tôi cũng không ngoài ý nghĩa đó".

Và cuộc họp báo chấm dứt, nhưng điều mà các phóng viên thắc mắc liên quan đến bằng chứng về kế hoạch trung lập của các vị Tướng bị bắt, thì Trung Tướng Khánh trả lời rất mơ hồ, khiến họ tỏ vẻ không hài lòng. Mà thật ra ngôn ngữ trong chính trị, không nhất thiết một với một là hai như trong ngôn ngữ của các ngành sinh hoạt khác, cho nên có hài lòng hay không hài lòng cũng vậy thôi.

Trước bữa ăn tối, Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm, và Ðại Tá Viên, thảo luận với một số vị dân sự và hành chánh để thành lập chánh phủ. Tôi xin phép chạy về nhà vì con tôi lên cơn nóng, nên không theo dõi được phần thảo luận chi tiết. Sau đó Trung Tướng Khiêm gọi tôi trở lại "bản doanh" gấp:

"Chú sang bộ tư lệnh Quân Ðoàn nói với Ðại Tá Mạnh (Nguyễn Văn Mạnh) Tham Mưu Trưởng, chuẩn bị để sáng mai tôi bàn giao cho Thiếu Tướng Lâm Văn Phát. Còn mấy chú cũng chuẩn bị bàn giao văn phòng rồi trở về Tổng Tham Mưu với tôi".

"Trung Tướng đã nhận lời với Trung Tướng Khánh?"

"Không có người nên tôi phải nhận thôi. Tôi coi Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu luôn. Tôi ngồi ở văn phòng mà trước kia Ðại Tướng Tỵ ngồi đó. Chú sắp xếp lại cho tôi. Phần chú, chú làm chánh văn phòng cả hai bên, nghĩa là Bộ Quốc Phòng và Tổng Tham Mưu. Thôi, chú chạy qua Quân Ðoàn lo cho kịp. Nhớ bảo Ðại Úy Tuấn về lại Tổng Quản Trị luôn". (Ðại úy Nguyễn văn Tuấn, về sau là Ðại Tá, Giám Ðốc Nha An Ninh Hành Chánh khi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm làm Thủ Tướng)

"Chào Trung Tướng, tôi đi ngay".

Sáng 31/1/1964, bàn giao xong, tôi và các quân nhân văn phòng dọn về lại văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Vẫn trên tầng lầu, nhưng khác phòng. Trung Tướng Khiêm nhận hai chức vụ của Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhưng không có bàn giao, vì Trung Tướng Ðôn đã bị bắt từ hôm qua. Cùng lúc, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu nhận chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân, cũng không có bàn giao vì Trung Tướng Lê Văn Kim cũng bị bắt rồi. Tôi nhận bàn giao của Thiếu Tá Ðặng Văn Hoa, gồm văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng và văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng.

Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng gần như hoàn toàn về kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ, dĩ nhiên là về mặt chính trị cũng vậy. Nói rõ hơn trong các biến cố chính trị, nhóm nào được Mỹ ủng hộ thì phần thắng có thể trong tầm tay. Ủng hộ thì có thể có nhiều cách, nhưng sự có mặt của một người Mỹ trong cuộc đảo chánh 1/11/1963 và cuộc đảo chánh lần này, là biểu hiện rõ nhất. Với cuộc đảo chánh 30/1/1964, giữa bộ ba lãnh đạo đảo chánh (chỉnh lý, chỉ là một loại ngôn ngữ chính trị) với Hoa Kỳ, liệu bên nào là bên khởi xướng? Ðiều đó tôi không rờ, nhưng chắc chắn là ba vị này đã tiếp xúc ít nhất là 2 lần với Hoa Kỳ, kể từ lúc tôi đón Trung Tướng Khánh về đến Sài Gòn.

Nhìn từ góc độ cá nhân. Liệu có phải cuộc đảo chánh bắt nguồn từ "cái hận của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm" khi cử ông vào phái đoàn công du Ðại Hàn mà ông tưởng như phần thưởng, để rồi cử ông vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III trong khi ông công du ngoại quốc chưa về? Xin nhớ rằng, Trung Tướng Khiêm là một trong những vị nòng cốt lãnh đạo cuộc đảo chánh 1/11/1963, vì trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân nếu ông không tham gia thì cuộc đảo chánh cũng không dễ gì thực hiện được. Và cũng liệu có phải là từ "cái hận" của Ðại Tá Viên khi bị tách khỏi Lữ Ðoàn Nhẩy Dù trong cuộc đảo chánh 1/11/1963 không? Nếu không phải là "những cái hận" đó, thì tại sao trong buổi họp chọn người lãnh đạo ngay sau khi đảo chánh thành công, Trung Tướng Khiêm nói "phần tôi đến đây là đủ rồi", và tại sao Ðại Tá Viên cũng nói "phần tôi đến đây là xong rồi". Cả hai vị có cùng câu nói tương tự nhau là bao hàm ý nghĩa rằng "tôi không thích chính trị" hoặc "tôi không thích lao vào chính trị", để rồi Trung Tướng Khánh "đành" nhận cả hai chức vụ cao nhất nước? Hãy để câu trả lời chính xác cho cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên.

Nếu chấp nhận giả thuyết "hai cái hận" nói trên là nguyên nhân, thì theo tôi, hành động phục hận của Trung Tướng Khiêm và Ðại Tá Viên mới là "động lực", mà động lực không cũng chưa đủ, vì phải có "ngòi nổ" để phát nổ nữa chớ. Trung Tướng Khánh là mẫu người nhiều tham vọng, và đây đúng là "ngòi nổ" để đẩy động lực kia nổ máy. Tôi muốn nói là Trung Tướng Khánh đã khai thác cái hận của Trung Tướng Khiêm với Ðại Tá Viên bằng cách khích hai vị ấy phục hận. Cũng chưa đủ, phải có "lửa" châm ngòi nổ nữa chớ. Tôi cho rằng Hoa Kỳ là ánh lửa châm ngòi. Như vậy, nếu đúng là phục hận thì Hoa Kỳ cũng có nguyên nhân nào đó chớ chẳng lẽ Hoa Kỳ giúp đảo chánh chỉ để hai vị phục hận riêng tư sao? Chắc chắn là không.

Nhìn vào một góc độ khác, góc độ chính trị ngoại giao. Liệu có phải Hoa Kỳ muốn loại trừ những Tướng lãnh cầm quyền mà trước đó có tiếng là thân Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam không? Chắc trong chúng ta, lứa tuổi chào đời thập 20, 30, không ai quên là Pháp rất không bằng lòng hành động của Hoa Kỳ góp phần đẩy nước Pháp đến việc ký kết Hiệp Ðịnh Ðình Chiến Genève 20/07/1954 với Việt Minh cộng sản, dẫn đến sự kiện nước Pháp thua trận và đoàn quân viễn chinh của Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam năm 1956. Tổng Thống Pháp quốc, Tướng Charles De Gaulle, vào đầu thập niên 1960, trong chuyến viếng thăm Cambodge, ông cổ võ chính sách trung lập cả ba nước Việt Nam, Cam Bốt, và Lào. Quan niệm trung lập của ông De Gaulle, chẳng khác nào xúi ba nước trên bán đảo Ðông Dương vào ảnh hưởng cộng sản, điều đó có nghĩa là vực Việt Nam Cộng Hòa (cùng với Cam Bốt và Lào) ra khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Phải chăng đây cũng là cách phục hận của Pháp đối với Mỹ? Lúc ấy, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm phản ứng mạnh mẽ về lời tuyên bố đó của Tổng Thống Pháp.

Liên quan đến đoạn trên đây, cựu Ðại Tướng Khiêm nói với tôi trong cuộc điện đàm tối 21/10/2003, như sau:

"Tôi không biết tại sao mà Mỹ lại bỏ rơi ông Minh nữa".

Tôi nói với ông về nét nhìn của tôi như đoạn viết ở trên. Ông nói:

"Ðiều chú nói có lý lắm, nhưng có thể còn điều gì đằng sau đó nữa".

Nhưng mà thưa các bạn, với câu nói ngắn ngủi của cựu Ðại Tướng Khiêm trên đây, cộng với nguyên nhân mà Trung Tướng Khánh (cấp bậc lúc đảo chánh) đã tuyên bố trong buổi họp báo cách nay 39 năm sau khi đảo chánh thành công (30/1/1964), theo đó thì Trung Tướng Dương Văn Minh và các vị trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập ngày 1/11/1963, có kế hoạch đưa Việt Nam đến trung lập, có thể làm quí vị suy nghĩ nếu quí vị muốn đào sâu thêm về con người dẫn đến sự kiện ngày 30/1/1964.

Nhìn sang góc độ khác nữa, góc độ chính trị nội bộ. Liệu có phải năm vị Tướng vừa bị bắt kia, thật sự có kế hoạch trung lập Việt Nam hay không vì Trung Tướng Khánh với quyền uy cao nhất nước, đã nói với báo chí là sẽ đưa các vị đó ra tòa (?).Tôi chấm hỏi trong ngoặc đơn như vậy vì tôi nghi ngờ lời ông. Tôi nghi ngờ vì chen lẫn trong lúc ba vị thảo luận thành lập chánh phủ, Trung Tướng Khánh có nói sẽ ra lệnh cho Trung Tá Cao (Albert Nguyễn Cao) và Thiếu Tá Nhiêu (Lê Văn Nhiêu) -sĩ quan tình báo- truy tìm tài liệu về "kế hoạch trung lập". Câu nói đó cho tôi hiểu đôi chút là khi bắt các vị Tướng bị cáo buộc "trung lập", thì trong tay các vị đảo chánh chưa có bằng chứng gì trung lập hết, hoặc nếu có cũng chưa đủ để đưa các vị ấy ra tòa.

Năm 1994, khi tôi viết lại đoạn này thì cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm sống ở Washington D.C. một cách lặng lẽ, không tiếp xúc với ai liên quan đến chính trị. Trong khi cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên thì đi sâu vào thiền, cũng ở Washington D.C. và cuộc sống càng ẩn dật hơn cựu Ðại Tướng Khiêm nữa. Ðiều đó đúng trong thời gian ấy. Nhưng ngày 6 tháng 9 năm 2003, vợ chồng tôi lên Virginia thăm ông bà cựu Ðại Tướng Khiêm, nhận thấy ông và gia đình ông vẫn trong cuộc sống ẩn dật tuy là trong căn nhà khá rộng. Buổi tối cùng ngày, tôi và hai người bạn nữa đến đón cựu Ðại Tướng Viên từ một gian phòng nhỏ trong building khang trang, về nhà anh chị Lý Thanh Tâm dùng cơm tối. Anh Lý Thanh Tâm, một cựu sĩ quan ngành Tổng Quản Trị. Anh Chị Lý Thanh Tâm, là người giúp cựu Ðại Tướng Viên rất nhiều việc trong những năm gần đây. Trong bữa ăn này, tôi thấy sức khỏe của ông rất kém nhưng sự minh mẫn không sa sút bao nhiêu, tôi không hỏi ông về thiền vì sức khỏe của ông như vậy ông không thể ngồi thiền được nữa. Có một điều thật dứt khoát là ông không thể tham gia vào những vấn đề chính trị, đơn giản là sức khỏe của ông trong tình trạng sút kém đến mức khó mà hình dung được nếu không trông thấy ông.

Xin giải thích thêm về cựu Ðại Tướng Cao văn Viên. Trong cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ngày 1 và 2/11/1963, lúc ấy ông là Ðại Tá, bị Hội Ðồng Quân Cách Mạng cách ly khỏi chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù và bị cách chức sau khi Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đảo chánh thành công. Nhưng bà Cao Văn Viên nhờ Trung Tướng Trần Thiệm Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) vì hai vị là bạn thân, vận động với Trung Tướng Dương Văn Minh và Ðại Tá Viên được trở lại chức vụ Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, dĩ nhiên vị sĩ quan thay thế ông mấy ngày phải chuyển sang đơn vị khác. Tháng sau đó, trong một cuộc hành quân trực thăng vận (chuyển quân bằng phi cơ trực thăng đổ ngay tại chiến trường) dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt thuộc quận Hồng ngự, tỉnh Kiến Phong. Cuộc hành quân này đã đánh nhau dữ dội với quân cộng sản từ bên trong lãnh thổ Cam Bốt xâm nhập vào, với sự yểm trợ của Pháo Binh, Thiết Giáp, và Không Quân, Nhẩy Dù đã chiến thắng nhưng chấp nhận số thương vong đáng kể. Trong số bị thương có Ðại Tá Viên, ông và những thương binh khác được đưa về Tổng Y Viện Cộng Hòa điều trị. Chiều hôm đó, Trung Tướng Nguyễn Khánh với chức năng Quốc Trưởng, cùng với Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, vào tận giường bệnh trao gắn cấp bậc Thiếu Tướng cho Ðại Tá Cao Văn Viên. Ðây là thăng cấp mặt trận. Ðến đây là hết phần giải thích.

Một hôm, Trung Tướng Khiêm gọi tôi vào văn phòng, tôi thấy ông có vẻ như có điều gì quan trọng, ông nói:

"Chú phải biết là ngoài Bộ Quốc Phòng và Bộ Tổng Tham Mưu, tôi còn là cố vấn cho Trung Tướng Khánh nữa, nên tôi không có thì giờ nhiều như trước đây. Vì vậy mà chú phải thận trọng khi thu xếp chương trình tiếp khách hằng ngày của tôi để tôi có thì giờ nghiên cứu nhiều vấn đề. Chú hiểu ý tôi chớ?"

"Vâng. Tôi hiểu".

"Dù muốn hay không muốn, tôi cũng phải dính dáng đến chính trị. Ðó là điều không thích hợp với tôi".

"Vâng. Tôi hiểu".

Ngưng một chút, ông tiếp:

"Chú liên lạc Phòng Tổng Quản Trị (Tổng Tham Mưu) làm lệnh thuyên chuyển Ðại Úy Ðặng Văn Châu về văn phòng (Tổng Tham Mưu Trưởng), làm thông dịch viên khi cần".

Ðại Úy Ðặng Văn Châu là chánh văn phòng Tỉnh Trưởng Vĩnh Long, lúc ấy Trung Tá Lê Văn Phước là Tỉnh Trưởng. Sau ngày 1/11/1963, Trung Tá Phước bị cách chức và giải ngũ. Thế là Ðại Úy Châu về văn phòng tôi. Trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng có các sĩ quan sau đây: Tôi, Ðại Úy Nguyễn Hữu Có sĩ quan tùy viên luôn luôn đi theo Trung Tướng Khiêm, Ðại Úy Nguyễn Tinh Tú sĩ quan tùy viên tại tư dinh, và Ðại úy Ðặng Văn Châu thông dịch viên. Trước ngày đảo chánh còn có Ðại Úy Trần Thiện Nguơn, anh của Trung Tướng Trần Thiện Kiêm, nhưng sau ngày đảo chánh anh thuyên chuyển đơn vị khác vì văn phòng dư sĩ quan theo ấn định trong bảng cấp số. Thật ra Trung Tướng Khiêm chỉ sử dụng Ðại Úy Châu thông dịch trong trường hợp tiếp các phóng viên báo chí ngoại quốc, không phải ông không nói được Anh ngữ, nhưng vì nhà báo ngoại quốc thường hỏi những câu hóc búa, thành ra ông cần cái khoảng thời gian thông dịch để chuẩn bị câu trả lời.

Vài tuần sau ngày trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, Trung Tướng Khiêm bảo tôi viết chi phiếu xuất 100 ngàn đồng cho nhà thờ Martino tu sửa những hư hỏng, vì ảnh hưởng trong cuộc chạm súng giữa lực lượng tấn công với lực lượng phòng vệ Phủ Tổng Thống trong ngày 1/11/1963. Tập chi phiếu này tôi nhận bàn giao ngày 31/1/1964 từ Thiếu Tá Ðặng Văn Hoa, chánh văn phòng Tổng Trưởng Quốc Phòng, lúc ấy số tiền trong quỹ mật còn 36 triệu đồng.

Lần thứ nhì, tôi cũng được lệnh viết chi phiếu 100 ngàn đồng cấp cho Trung Tá Nguyễn Văn Luông, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, trong dịp Trung Tá Luông cưới vợ cho con. Tôi nghĩ, ngoài công tác bắt những vị Tướng khởi đầu cũng là kết thúc cho cuộc đảo chánh ngày 30/1/1964 ra, không có nguyên nhân nào khác để Trung Tá Luông được phần thưởng này cả. Cho Trung Tá Luông để cưới vợ cho con, tôi nghĩ, đó chỉ là cái cớ hơn là nguyên nhân.

Trong số những sĩ quan bị bắt sau cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 đang giữ tại Nha An Ninh Quân Ðội, có Trung Tá Nguyễn Văn Minh, và Trung Tá Nguyễn Khắc Bình, là hai trong số những vị tôi quen biết khá nhiều. Trung Tá Minh, Tỉnh Trưởng An Giang trong khi Ðại Tá Trần Thiện Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 33 Chiến Thuật (còn gọi là Khu Chiến Thuật Hậu Giang). Trung Tá Bình, khi còn tổ chức Quân Khu, ông là Tham Mưu Trưởng đệ ngũ Quân Khu đồn trú tại Cần Thơ. Tháng 4/1961, khi giải thể tổ chức Quân Khu để thành lập Khu Chiến Thuật với Vùng Chiến Thuật, Sư Ðoàn 21 Bộ Binh từ Sa Ðéc di chuyển sang Cần Thơ đồn trú ngay trong doanh trại Quân Khu vừa giải thể, và Thiếu Tá Bình (cấp bậc lúc bấy giờ) giữ chức Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Do mối liên hệ công tác đó đã dẫn đến thân tình giữa Ðại Tá Khiêm với hai vị.

Cũng xin nói thêm đôi nét về Thiếu Tá Nguyễn Khắc Bình. Từ Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Thiếu Tá Bình được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm vào chức vụ Tỉnh Trưởng Ðịnh Tường. Theo lời Ðại Úy Nguyễn Hữu Tài hồi năm 1964 -anh của Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có- thì sáng ngày 1/11/1963, Thiếu Tá Bình mang một phúc trình mật từ Mỹ Tho lên Sài Gòn để trình Tổng Thống Ngô Ðình Diệm về những dấu hiệu của một cuộc đảo chánh, nhưng Thiếu Tá Bình bị Ðại Tá Có (cấp bậc lúc bấy giờ) chận bắt.

Bà Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Khắc Bình, sau nhiều lần đến nhà tôi nhờ tôi trình với Trung Tướng Khiêm xin cứu xét giúp cho hai ông được tự do. Trung Tướng Khiêm có vẻ phân vân, chưa quyết định. Lần trình bày thứ nhì của tôi cùng với đơn của hai bà, Trung Tướng Khiêm phê dòng chữ trên hai đơn đó: "Nha An Ninh (Quân Ðội) cứu xét rộng rãi". Sau đó, Trung Tá Minh và Thiếu Tá Bình được tự do. Chưa có quyết định gì về Trung Tá Minh, nhưng Thiếu Tá Bình được thuyên chuyển về văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, và Trung Tướng Khiêm giao trách nhiệm cho Thiếu Tá Bình khai thác đống hồ sơ của đảng Cần Lao, mà Trung Tướng Trần Văn Ðôn đã cho chở đầy một xe vận tải quân sự GMC từ Phủ Tổng Thống về tòa nhà chánh Tổng Tham Mưu từ ngày 2/11/1963, và tôi cho mang lên để ở tầng lầu trên cùng.

Vài tháng sau đó, Thiếu Tá Nguyễn Khắc Bình được thăng cấp Trung Tá. Trong khi Trung Tá Nguyễn Văn Minh vẫn cấp bậc cũ, nhưng ông có cái may khác. Trung Tá Minh lần đầu tiên đến văn phòng tôi kể từ sau ngày được tự do, ông vẫn giữ thông lệ chơi ngọt với tôi nên phần "uống cà phê chơi" của tôi lần này là con búp bê sản xuất "bên Tây" rất đẹp.

Xin nhắc lại là khi ông làm Tỉnh Trưởng An Giang, tôi là chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh đồn trú tại Cần Thơ, cứ mỗi lần ông đến Cần Thơ họp là y như rằng, Trung Tá Minh tặng tôi cái phong bì mà bên trong là 200 đồng (Việt Nam) kèm theo lời nói của ông: "em cầm lấy uống cà phê chơi" dù ông biết rằng tôi không quen uống cà phê.

Sau đó thỉnh thoảng ông tạt vào văn phòng tôi chơi. Một hôm Trung Tá Minh nhờ tôi trình Trung Tướng Khiêm, cho ông thuyên chuyển đến Sư Ðoàn 21 Bộ Binh và ông bằng lòng nhận bất cứ nhiệm vụ gì ở đó. Ông giải thích thêm:

"Em biết hông, theo thầy tướng số, nếu Anh được về hướng đó sẽ có nhiều cơ hội thăng tiến hơn. Em ráng giúp Anh nghe Hoa".

Trong khi chờ quyết định của Trung Tướng Khiêm, Trung Tá Minh cho tôi thêm thông tin liên quan đến ông, rằng Ðại Tá Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh đồng ý cử ông vào chức vụ Chỉ Huy Trưởng Lữ Ðoàn Cà Mau. Và rồi Trung Tá Minh thành công bước đầu, tức là ông được Trung Tướng Khiêm chấp thuận thuyên chuyển đến Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Và bước thứ hai:

"Hoa à! Em ráng giúp Anh lần nữa nghe. Lần này là em thu xếp cho Anh chiếc phi cơ L19, và điều cần là anh phi công với phi cơ có mặt tại sân VIP đúng 7 giờ sáng -không sớm cũng không muộn- và đừng tắt máy. Anh sẽ lên phi cơ ngay. Anh nói nhỏ em nghe: ông thầy tướng số nói nếu như Anh đi đúng như vậy và đúng về hướng Sư Ðoàn 21 thì tương lai Anh sẽ lên tột đỉnh trong quân đội đó em. Ráng nghe Hoa".

Trước khi ra về, ông đưa tôi cái phong biợ tặng anh phi công, và phần 'uống cà phê chơi' của tôi cũng là một phong bì.

Xin giải thích. Trung tuần tháng 12 năm 1962, ngay sau khi Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm (thăng cấp Tướng ngày 6/12/1962) bàn giao Sư Ðoàn 21 Bộ Binh cho Ðại Tá Bùi Hữu Nhơn, thì Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn cùng các đơn vị yểm trợ trực thuộc, di chuyển đến nơi đồn trú mới là Bạc Liêu, vì Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV sẽ thành lập từ ngày 1/1/1963 đồn trú tại trại Lý Thường Kiệt trong tỉnh lỵ Cần Thơ. Còn phi cơ L19 là loại phi cơ sử dụng quan sát từ trên không, và hướng dẫn Pháo Binh hoặc phi cơ khu trục tác xạ. Trường hợp cần thiết, sử dụng chở một sĩ quan hay Tướng Lãnh công tác. Còn Lữ Ðoàn Cà Mau là tên gọi một đơn vị chiến thuật do Sư Ðoàn 21 Bộ Binh thành lập cho nhu cầu ổn định tình hình tỉnh An Xuyên (Cà Mau là tỉnh lỵ), gồm Trung Ðoàn 32 Bộ Binh (trực thuộc Sư Ðoàn 21 Bộ Binh) và Pháo Binh với Thiết Kỵ (Thiết Giáp Kỵ Binh).

Vài tuần sau ngày Trung Tá Nguyễn Văn Minh nhận nhiệm vụ tại Lữ Ðoàn Cà Mau, ông điện thoại về tôi:

"Hoa à! Anh đang có một việc liên quan đến tòa án và họ có giấy gọi Anh về Sài Gòn để trả lời một số câu hỏi. Em ráng nói với chánh văn phòng Bộ Tư Pháp là đơn vị Anh đang hành quân, khi xong thì Anh về trình diện. Em ráng giải quyết càng sớm càng tốt nghe em".

"Mà chuyện gì vậy Trung Tá? Liệu có ghê gớm lắm hông?"

"Không quan trọng đâu em. Chẳng qua là sự việc chưa rõ ràng thôi mà".

"Ðược. Tôi sẽ cố gắng nhưng không hứa chắc chắn nghe Trung Tá, vì tôi chưa hiểu đầu đuôi ra sao".

Sau khi liên lạc với chánh văn phòng ông Tổng Trưởng Tư Pháp, tôi mới biết Trung Tá Nguyễn Văn Minh đang là một trong những nghi can về cái chết của mấy nhân vật chính trị đã bị thủ tiêu ở tỉnh An Giang mà lúc ấy Trung Tá Minh là Tỉnh Trưởng. Chánh văn phòng Bộ Tư Pháp cho biết là ông Tổng Trưởng thuận dời lại đến khi Trung Tá Minh chấm dứt hành quân. Tôi cũng không hiểu là bằng cách nào mà chỉ trong thời gian ngắn sau đó, Trung Tá Nguyễn Văn Minh đã vận động ra sao mà từ đó tôi không nghe thấy gì về vụ này nữa. Khi viết lại những dòng này, tôi tự hỏi: có phải là tôi đã chen chân vào vụ án đó hay không nữa? Thật lòng là tôi chỉ nói đúng theo yêu cầu của Trung Tá Minh chỉ xin dời ngày trình diện của ông thôi.

Về ông thầy tướng số tử vi đã giải lá số tử vi của Trung Tá Nguyễn Văn Minh hay dở ra sao thì tôi không rõ, nhưng có điều là sau cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa tháng 4 năm 1972, có dư luận ngay trong Bộ Tổng Tham Mưu là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (ông đã thăng cấp khá nhanh) có hy vọng thay thế Ðại Tướng Cao Văn Viên trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng .

Xin trở lại Bộ Tổng Tham Mưu.

Ðầu tháng 4 năm 1964, một Sắc Lệnh do Trung Tướng Nguyễn Khánh ký, nâng danh xưng Bộ Tổng Tham Mưu thành Bộ Tổng Tư Lệnh. Và một Sắc Lệnh khác, nâng danh xưng Quân Ðội thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bao gồm: Lục Quân, Không Quân, Hải Quân, Ðịa Phương Quân, và Nghĩa Quân. Vậy là, Bộ Tổng Tham Mưu, từ bấy giờ có danh xưng là Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Vị đứng đầu tức Trung Tướng Trần Thiện Khiêm là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng bên trên còn có vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao trong chức năng Quốc Trưởng, chính vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao này mới có thẩm quyền tuyên chiến.

Trung tuần tháng 4 năm 1964, Hội Ðồng Tướng Lãnh mà nòng cốt là Trung Tướng Nguyễn Khánh, Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng với chức năng Quốc Trưởng, kiêm Thủ Tướng, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, Tổng trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, lên Ðà Lạt họp để giải quyết năm vị Tướng bị bắt giữ từ ngày 30 tháng 1 năm 1964, vì các vị này bị cáo buộc là "chủ trương trung lập hóa Việt Nam và sẽ truy tố ra tòa" mà Trung Tướng Khánh đã tuyên bố trong buổi họp báo chiều ngày 30 tháng 1 năm 1964 tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, sau khi đảo chánh thành công. Kết quả trong tinh thần hòa giải hòa hợp (?), xem như các vị Tướng bị cáo đều không có tội nhưng không được giữ những chức vụ quan trọng trong quân đội. Thật ra không hòa giải hòa hợp cũng không được, vì đâu có bằng chứng gì để truy tố ra tòa. Hòa giải hòa hợp xong, các vị có mặt gồm "nguyên cáo lẫn bị cáo" ôm nhau vui vẻ và "ăn nhậu linh đình", có cả sự "giúp vui" của những cô gái ngay tại biệt thự chọn làm nơi hội họp. Các cô này được phi cơ C47 đưa từ Sài Gòn lên.

Sở dĩ Hội Ðồng Tướng lãnh họp tại Ðà Lạt là vì sau khi năm vị Tướng bị bắt ngày 30 tháng 1 năm 1964 đưa ra giữ ở Ðà Nẳng, nhưng do thiếu tiện nghi sinh hoạt nên Trung Tướng Nguyễn Khánh chấp nhận lời yêu cầu của năm vị mà chuyển lên Ðà Lạt giam trong một biệt thự với những tiện nghi sinh hoạt tốt hơn. Trong thời gian giam giữ các vị tại Ðà Nẳng, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm chỉ thị tôi trách nhiệm thanh toán chi phí, nhưng khi chuyển lên Ðà Lạt thì văn phòng Phủ Thủ Tướng trách nhiệm.

Về hòa giải hòa hợp giữa các vị Tướng Lãnh. Xin quí vị quí bạn lùi lại những ngày cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm 1964. Ðại Tá Nguyễn Cao (có tên Pháp là Albert Cao), Trung Tá Lê Văn Nhiêu, hai vị này thuộc Phủ Thủ Tướng, và Trung Tá Nguyễn Khắc Bình văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, ba sĩ quan này đã phục vụ nhiều năm trong ngành tình báo quân sự, tạo thành một toán công tác tình báo đặc biệt. Theo lệnh của Trung Tướng Nguyễn Khánh, ba vị sĩ quan này truy tìm chứng cớ để kết tội năm vị Tướng bị cáo buộc "chủ trương trung lập". Ðến ngày kết thúc, Trung Tá Bình sau khi từ phòng Trung Tướng Trần Thiện Khiêm bước ra, anh nói với tôi:

"Anh biết hông, tụi tôi truy lục các hồ sơ ở An Ninh Quân Ðội, Tổng Nha Cảnh Sát, rồi bên Phủ Ðặc Ủy Tình Báo, và hầu hết các tòa soạn báo chí, nhưng không tìm ra bất cứ một chứng cớ nào liên quan đến chủ trương trung lập của mấy ông Tướng bị bắt cả".

"Vậy các vị Tướng bị cáo chủ trương trung lập chẳng qua là cái cớ cho cuộc "Chỉnh Lý" (Trung Tướng Nguyễn Khánh gọi như vậy, thật ra cũng là đảo chánh thôi), còn nguyên nhân nằm ở đâu?"

"Tôi cũng tự hỏi như anh vậy".

"Khi anh trình kết quả này, Trung Tướng (Trần Thiện Khiêm) có nói gì hông?"

"Không".

Vậy, nguyên nhân nằm ở đâu? Tôi nghĩ, nguyên nhân ở người Mỹ có mặt trong buổi sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964 tại nhà Trung Tướng Nguyễn Khánh, đây cũng là bản doanh của các vị lãnh đạo đảo chánh. Phải chăng Hoa Kỳ muốn loại trừ hẳn những Tướng lãnh cầm quyền mà trước đó bị cáo buộc là thân Pháp ra khỏi chính trường Việt Nam không?

Nếu đúng như vậy thì rõ ràng là Hoa Kỳ thực hiện mục tiêu theo từng bước: Bước một, lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm vì Tổng Thống Diệm không đồng ý để Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong chiến lược Domino của Hoa Kỳ, nhằm tạo một hàng rào che chắn mặt Nam của Trung Hoa cộng sản. Tổng Thống Diệm đã nhìn thấy thế chính trị Việt Nam Cộng Hòa bị tổn thương trong bối cảnh chính trị quốc tế nếu có mặt quân bộ chiến Hoa Kỳ trong cuộc chiến này. Sau khi lật đổ Tổng Thống Diệm, trao cờ vào tay Trung Tướng Dương Văn Minh và các vị Tướng thâm niên phất tạm. Bước hai, Hoa Kỳ "bật đèn xanh" cho Trung Tướng Trần thiện Khiêm, Trung Tướng Nguyễn Khánh, và Ðại Tá Cao Văn Viên, giành lấy cờ từ tay các vị Tướng bị cáo buộc thân Pháp để phất tiếp. Chính sách của Hoa Kỳ, năm 1954 đẩy Pháp đến chỗ chia đôi đất nước Việt Nam, năm 1956 đã góp phần không nhỏ trong việc đẩy quân đội Liên Hiệp Pháp rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa, và năm 1964 đẩy luôn các vị Tướng bị cho là thân Pháp ra khỏi chánh quyền lẫn quân đội. Thuận lý chớ?

Trở lại vấn đề nội tình Việt Nam. Trong hướng cố gắng tạo chiến công để có tiếng vang về khả năng lãnh đạo, Trung Tướng Nguyễn Khánh lệnh cho Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Vùng II Chiến Thuật, tổ chức cuộc hành quân qui mô vào mật khu Ðỗ Xá, nằm sâu trong vùng rừng già giáp ranh 2 tỉnh Kon Tum và Quảng Ngãi. Lực lượng hành quân vào tận sào huyệt Ðỗ Xá, phá hủy nhiều vũ khí đạn dược và toàn bộ cơ sở tiếp vận (mà cộng sản gọi là hậu cần), nhưng không diệt được lực lượng của chúng. Tuy vậy, một phần lực lượng tham dự hành quân qui mô đó cùng với bộ chỉ huy hành quân của Trung Tướng Trí, được đưa về thủ đô Sài Gòn tham dự cuộc duyệt binh diễn binh tại công trường Lam Sơn, ngã tư đại lộ Nguyễn Huệ với đại lộ Lê Lợi. Nhiều quân nhân được thăng cấp mặt trận và ân thưởng huy chương, mà theo tôi là vượt trên mức thành tích đạt được. Sở dĩ có sự kiện như vậy vì Trung Tướng Nguyễn Khánh muốn tỏ ra chánh phủ do ông lãnh đạo có khả năng tạo được thành tích.

Hiến Chương Vũng Tàu.

Trung tuần tháng 7 năm 1964, ban hành Sắc Lệnh thiết lập cấp Chuẩn Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Những cấp bậc Tướng Lãnh từ trước đến lúc bấy giờ là Thiếu Tướng biểu tượng bằng 2 ngôi sao mỗi bên ve áo hay cầu vai trên áo, Trung Tướng 3 ngôi sao, Ðại Tướng 4 ngôi sao, và Thống Tướng 5 ngôi sao. Cấp Chuẩn Tướng mới thiết lập được qui định là 1 ngôi sao mỗi bên ve áo hay cầu vai trên áo. Ngay sau đó là Sắc Lệnh thăng cấp Chuẩn Tướng cho 9 Ðại Tá, và Trung Tướng Trần Thiện Khiêm được thăng cấp Ðại Tướng, dĩ nhiên là do Trung Tướng Nguyễn Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực (cải danh của Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng)), với chức năng Quốc Trưởng, ký ban hành. Như vậy, có phải là Ðại Tướng Khiêm thăng cấp nhanh quá chăng? Vì ngày 6 tháng 12 năm 1962 ông từ Ðại Tá thăng cấp Thiếu Tướng do công vụ, ngày 2 tháng 11 năm 1963 thăng cấp Trung Tướng do tham gia trong nhóm lãnh đạo đảo chánh 1/11/1963, ngày 15 tháng 7 năm 1964 thăng cấp Ðại Tướng không do nguyên nhân nào cả, trừ khi Trung Tướng Khánh muốn vị Tổng Tư Lệnh phải là cấp bậc 4 sao như dự trù cấp bậc lý thuyết trong bảng cấp số Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhưng liệu khi Trung Tướng Khánh quyết định thăng cấp Tướng cho một số vị là do nhu cầu công vụ, hay đằng sau quyết định đó còn có nhu cầu nào khác chăng?

Sở dĩ tôi nêu câu hỏi đó cho tôi, vì sau ngày trao gắn cấp Tướng cho các vị vừa vinh thăng, thì Trung Tướng Khánh cho triệu tập Ðại Hội Ðồng Quân Lực tại ngôi biệt thự màu trắng ở Vũng Tàu, nơi mà cư dân Vũng Tàu thường gọi là "bạch dinh", để thông qua bản "Hiến Chương" thay thế cho Hiến Ước Lâm Thời sau khi bãi bỏ Hiến Pháp đệ nhất Cộng Hòa. Ðại Hội Ðồng Quân Lực sau khi được bổ sung một số vị mới thăng cấp Tướng, nâng tổng số gần 40 thành viên. Và rồi Ðại Hội Ðồng Quân Lực thông qua bản Hiến Chương, đồng thời bầu Trung Tướng Nguyễn Khánh vào chức Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa. Vậy, theo quí vị, có phải là Trung Tướng Khánh "mua chuộc" hay một ý nghĩa nào đó tương đương với mua chuộc các thành viên trong Ðại Hội Ðồng Quân Lực, nhất là đối với các vị vừa mang những ngôi sao mới toanh trên ve áo?

Tôi chưa kịp đọc bản Hiến Chương này, nhưng qua báo chí cũng như những bản tuyên bố của những tổ chức chính trị, cáo buộc Trung Tướng Khánh là độc tài khi soạn thảo Hiến Chương và điều khiển Ðại Hội Ðồng Quân Lực bầu ông vào chức vụ Chủ Tịch với rất nhiều quyền hành. Thế là ngay sau ngày Hiến Chương được thông qua tại Vũng Tàu mà báo chí thường gọi là "Hiến Chương Vũng Tàu", các tổ chức chính trị, tôn giáo, mà khởi đầu là sinh viên xuống đường mít tinh biểu tình, cáo buộc Trung Tướng Nguyễn Khánh là độc tài, đòi hủy bỏ Hiến Chương Vũng Tàu, và đòi Trung Tướng Nguyễn Khánh từ chức.

Một hôm, tôi mang hồ sơ của Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đến Phủ Thủ Tướng ở số 7 đại lộ Thống Nhất, để trình tận tay Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh đúng lúc đoàn biểu tình vừa dừng trước cổng và hô to:

Ðả đảo Nguyễn Khánh! Ðả đảo Nguyễn Khánh!

Lúc bấy giờ, Trung Tướng Khánh từ trong Phủ Thủ Tướng bước ra dưới sự bảo vệ của hàng rào cận vệ võ trang chống biểu tình. Khi đoàn biểu tình trông thấy ông thì họ lại hô to:

Ðả đảo Nguyễn Khánh! Ðả đảo Nguyễn Khánh!

Lúc ấy tôi không thể tưởng tượng được là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh cũng giơ tay lên và cũng hô to:

Ðả đảo Nguyễn Khánh! Ðả đảo Nguyễn Khánh!

Bỗng dưng đoàn biểu tình trở nên im lặng. Tôi nghĩ là đoàn biểu tình quá bất ngờ về hành động của Trung Tướng Khánh làm cho họ mất đối thủ, vì chính ông cũng đả đảo ông thì còn ai để đoàn biểu tình đả đảo nữa. Và rồi Trung Tướng Khánh chen vào đoàn biểu tình cười nói huyên thuyên chẳng khác một thành viên nhiệt tình trong đoàn biểu tình vậy. Phải công nhận phản ứng của Trung Tướng Khánh rất cao tay, chớ không phải ông quên ông là Trung Tướng Thủ Tướng Nguyễn Khánh đâu quí vị à!

Cuối cùng Trung Tướng Khánh tuyên bố hủy bỏ Hiến Chương mới công bố mấy ngày trước đó. Thế là thủ đoạn chính trị của ông đối với Ðại Hội Ðồng Quân Lực quá dễ, nhưng với lực lượng chính trị và tôn giáo thì ngược lại. Một bên có quân có súng nhưng phục tùng, một bên khác không súng nhưng lại có một sức mạnh nếu không nói là phi thường thì sức mạnh đó cũng đủ đập tan chiếc ghế Chủ Tịch Việt Nam Cộng Hòa của Trung Tướng Nguyễn Khánh.

Ðúng là quân nhân phải chấp hành kỷ luật một cách triệt để, nhưng đó là nhiệm vụ quân sự thuần túy, còn trường hợp thông qua bản Hiến Chương tại Vũng Tàu thì không thể coi là nhiệm vụ quân sự mà là nhiệm vụ chính trị, và cao hơn nữa là nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia. Vậy, quyền quyết định thông qua hay không thông qua bản Hiến Chương, các vị thành viên Ðại Hội Ðồng Quân Lực phải tự mình quyết định lá phiếu của mình chớ! Nhưng rồi bản Hiến Chương đã thông qua dễ dàng, điều đó có nghĩa là các vị đã đồng ý nội dung cho dù từ trong thâm tâm quí vị rất có thể là không phải như vậy. Nếu đúng như vậy thì quí vị đã không thực hiện được vai trò thành viên của tập thể lãnh đạo quốc gia rồi còn gì, và quí vị phải chịu chung lỗi lầm sai trái khi đồng tình với nội dung bản Hiến Chương bị cáo buộc là độc tài.

Hội Ðồng Quân Lực thu hẹp vội vã họp tại Trung Tâm Hành Quân/Bộ Tổng Tư Lệnh để tìm giải pháp cho sự khủng hoảng, nhưng suốt ngày vẫn không thành công. Cuối cùng, giải pháp lãnh đạo bởi ba người mà báo chí gọi là "tam đầu chế", gồm: Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Trung Tướng Dương Văn Minh, và Trung Tướng Nguyễn Khánh. Rốt cuộc cũng chỉ có Trung Tướng Khánh nắm quyền, vì Ðại Tướng Khiêm với Trung Tướng Minh, hoặc không đủ thủ đoạn đối phó với Trung Tướng Khánh, hoặc không muốn dấn thân vào chính trị. Và dù muốn hay không muốn, hai vị cũng phải chịu chung trách nhiệm về lỗi lầm của Trung Tướng Khánh trong giải pháp "tam đầu chế".

Nhưng vấn đề không dừng ở đây, vì Trung Tướng Khánh tự thấy chiếc ghế quyền lực của ông thực sự lung lay, thế là Trung Tướng Khánh nhắm thẳng vào Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm mà ông cho là nguyên nhân, là người đứng đằng sau mọi hình thức chống đối ông. Tôi nhận định như vậy vì có một người không có tên trong tổ chức quân đội, trong tổ chức hành chánh, hay bất cứ tổ chức hoặc cơ quan nào của chánh phủ, nhưng lại là người có thế lực chỉ vì ông là em vợ của Trung Tướng Nguyễn Khánh, tên của ông là Phạm Quang Tước. Những tháng trước đó, ông Tước thường đến văn phòng tôi với vài món lặt vặt tặng tôi. Mỗi khi gặp tôi, ông nói chuyện huyên thuyên về mọi chuyện, trong khi tôi nghe rất ít vì luôn bận việc của văn phòng Bộ Quốc Phòng và văn phòng Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhưng từ sau ngày Trung Tướng Khánh buộc phải thỏa mãn yêu sách của giới chính trị hủy bỏ Hiến Chương, cũng là hủy bỏ chức Chủ Tịch mà ông đã được bầu, thì ông Tước cũng lạnh nhạt với tôi. Rồi từ lạnh nhạt đến xem tôi là kẻ thù cũng chỉ vài bước thôi, và vài bước đó đã qua khi ông Tước nói với tôi:

"Ðại Tướng của anh phải cẩn thận đó, nếu như cứ lấn tới nữa thì tánh mạng không an toàn đâu". Nói xong là ông đi ngay mà chẳng cần chào hỏi như trước nữa.

Ðại Tướng Khiêm rất buồn Trung Tướng Khánh, nhưng vì ông ít nói nên tôi không nghe ông phân bua, cũng chẳng buồn giải thích với những người chung quanh. Hoặc có thể là Ðại Tướng Khiêm xem thường Trung Tướng Khánh mà không cần thanh minh chăng? Nếu đúng vậy, thì Ðại Tướng Khiêm áp dụng câu "im lặng cũng là khinh bỉ".

Chuyện 10 kí lô vàng thoi.

Sau ngày Chỉnh Lý 30/1/1964 -cũng là hay là đảo chánh- vài tuần, Trung Tướng Khiêm (cấp bậc lúc bấy giờ) gọi tôi vào văn phòng:

"Chú xuống nhà Trung Tướng Minh (Dương Văn) nhận vàng đem về cất, rồi liên lạc xem cơ quan nào giữ thì giao cho người ta".

"Thưa Trung Tướng (cấp bậc lúc bấy giờ), tôi chưa rõ công tác này. Xin Trung Tướng cho biết tôi sẽ trình như thế nào với Trung Tướng Minh?"

"Chú cứ nói là tôi bảo chú xuống nhận vàng là được rồi".

Sở dĩ phải hỏi lại là vì có bao giờ tôi nhận cái lệnh tương tự như vậy đâu, bây giờ nghe nói nhận vàng một cách quá nhẹ nhàng nên hỏi để biết mình không nghe lầm. Tôi đến tư dinh Trung Tướng Dương Văn Minh mà nơi đây báo chí thường gọi là "dinh hoa lan". Chờ một lúc, sĩ quan tùy viên đưa tôi vào văn phòng Trung Tướng Minh. Lại chờ một lúc nữa. Với thái độ vui vẻ, vừa bước vào phòng là Trung Tướng Minh đưa tôi cái túi xách và nói luôn:

"Anh mở ra xem và đếm lại coi có đủ 10 kí không, rồi mang về đưa Trung Tướng Khiêm".

Ðó là cái túi xách màu xanh, cũ mèm, bên ngoài có chữ "Air Việt Nam". Ðếm xong:

"Thưa Trung Tướng, trong túi này có 10 thoi nhưng không biết có phải là 10 kí hay không thì tôi không rõ".

"Anh cứ mang về trình Trung Tướng Khiêm chớ có cân đong đo đếm gì đâu mà anh sợ".

"Vâng. Chào Trung Tướng".

Vừa vào văn phòng Trung Tướng Khiêm là tôi mở túi ra để trình ông xem, nhưng ông không xem mà nói:

"Chú nhận rồi thì cất trong tủ sắt đi, cơ quan nào nhận giữ thì chú giao cho người ta".

"Vâng".

Theo tôi biết, số vàng này do Trung Tướng Ðỗ Cao Trí -lúc giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I- tịch thu của ông Ngô Ðình Cẩn ở Huế, đem vào Sài Gòn giao cho Trung Tướng Minh. Bây giờ Trung Tướng Minh giao lại Trung Tướng Khiêm. Xin nhắc lại là sau cuộc đảo chánh lật đổ và giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Ðình Nhu, và ông Cố Vấn Chỉ Ðạo Miền Trung Ngô Ðình Cẩn (bị tòa kêu án tử hình và thi hành bản án sau đó chẳng bao lâu), Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng thành lập "Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Ðình Họ Ngô", do Trung Tướng Lê Văn Kim giữ chức Chủ Tịch. Ðã có Ủy Ban đó, nhưng không biết tại sao số vàng này lại "vòng vo lưu lạc" như vậy nữa, kể cả mấy tháng nay nó nằm trong tủ sắt ngay sau lưng tôi.

Khi mối giao hảo giữa Trung Tướng Khánh với Ðại Tướng Khiêm căng thẳng, Ðại Tướng Khiêm hỏi tôi:
"Chú còn giữ mấy kí vàng đó không?"

"Dạ còn thưa Ðại Tướng".

"Bao nhiêu vậy?"

"Dạ 10 kí vàng thoi".

"Chú liên lạc xem cơ quan nào nhận thì giao cho người ta, giữ hoài mất công lắm".
"Vâng. Ngày mai tôi xuống Ngân Hàng Quốc Gia hỏi xem nơi đây có biết không, thưa Ðại Tướng".

Tôi đến Ngân Hàng Quốc Gia, mới biết đây là cơ quan nhận số tài sản đã tịch thu của gia đình anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm do Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Ðình Họ Ngô bàn giao. Sau khi được ông Giám Ðốc giải thích thủ tục giao nhận, tôi hẹn hôm sau mang đến.

Sáng hôm sau, tôi lững thững xách cái túi Air Việt Nam vào. Khi ông Giám Ðốc thấy cái túi cứ tưởng tôi đi ngang chợt ghé chớ không nghĩ là 10 kí lô vàng bên trong, vì cái túi quá cũ chẳng ai thèm lượm nếu chợt thấy nó bên đường. Khi biết vàng bên trong, ông Giám Ðốc quá sức ngạc nhiên:
"Thiếu Tá đi với ai?"

"Một mình tôi thôi mà".

"Sao Thiếu Tá liều mạng , dễ chết lắm đó!"
"Ði một mình đâu có ai để ý mà chết. Nếu bên cạnh tôi có thêm Quân Cảnh hay nhân viên nào đó đi theo thì kẻ gian cho là tôi mang thứ gì quí giá bên trong nó sẽ theo chân ngay. Lúc ấy mới là lúc dễ chết đó ông Giám Ðốc. Nói cho vui nghe, chương trình của trường quân sự cao cấp chúng tôi có dạy về "9 nguyên tắc chiến tranh", trong đó có nguyên tắc "bất ngờ" mà chúng tôi không bao giờ quên ứng dụng nó, như trường hợp này chẳng hạn".

Chúng tôi cười xòa và bắt tay vào việc. Thủ tục giấy tờ xong, ông Giám Ðốc hướng dẫn tôi xuống tầng hầm của Ngân Hàng Quốc Gia. Ôi chao! Mặt bằng của tầng hầm này có lẽ rộng hơn mặt bằng của tầng trệt thì phải, và tôi nghĩ là nó nằm ngay dưới mặt đường "Bến Chương Dương" nữa đó. Ði một vòng rộng lớn, xem các bà các cô đếm bạc. Nhân viên đếm bạc toàn mặc áo blouse trắng không túi. Ðến chỗ cân trọng lượng:
"Số vàng này cân hả ông Giám Ðốc?"

"Cân chớ. Cân cho biết bao nhiêu để ghi vào biên bản thôi Thiếu Tá".
"Trời ơi! Hồi tôi nhận từ tay Trung Tướng Minh (Dương Văn Minh) tôi chỉ đếm đủ 10 thoi là mang về trình "sếp" chớ có cân lượng gì đâu".

Tôi được giải thích là cái cân này rất nhạy và rất chính xác. Một hột cát bé xíu là cân hoạt động rồi. Lần lượt cân từng thoi một, bù qua sớt lại vừa đủ 10 kí. Xong, đến trước một cái tủ thật lớn, hai nhân viên ngân hàng cùng tra hai chìa khóa vào và cùng mở một lúc. Lại cùng mở thêm cánh cửa bên trong nữa, một cái thúng lớn chứa đầy vàng lá óng ánh, ông Giám Ðốc nói:

"Ðây là 42 kí lô vàng lá do Ủy Ban Tịch Thu Tài Sản Gia Ðình Họ Ngô bàn giao tháng trước đó Thiếu Tá".
Thế là 10 thoi vàng này đổ vào cái thúng đó luôn.

"Như vậy là xong rồi hả ông Giám Ðốc?"

"Xong rồi Thiếu Tá".
Câu chuyện 10 kí lô vàng thoi đến đây là hết. Xin mời trở lại đoạn cuối của cuộc đảo chánh không đổ máu ngày 30/1/1964.

Ðoạn kết.

Vậy là Trung Tướng Dương Văn Minh, với chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng hành sử chức năng Quốc Trưởng từ 2/11/1963 đến 29/1/1964, đó là thời gian quá ngắn để vị lãnh đạo thể hiện khả năng và bản lãnh của mình, nhưng với câu mà ông nói với những vị Tướng Lãnh trong Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu vào chiều ngày 2/11/1963, tức ngay sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thành công:

"Các "toa" còn cần gì "moi" không để "moi" còn đi đánh tennis?"

Quả thật là ông thiếu trách nhiệm của người lãnh đạo quốc gia ngay sau cuộc đảo chánh với biết bao vấn đề đặt ra, chỉ riêng phần ổn định nhân sự trong các tổ chức trung ương sau cuộc khủng hoảng chính trị đã là vấn đề quan trọng hàng đầu, vì nhân sự bao giờ cũng chiếm đến 50% trong mọi thành công hay thất bại. Thêm nữa, dân chúng thì hoang mang trong khi cộng sản lợi dụng tình hình rối ren để gia tăng áp lực quân sự tại nhiều nơi. Ấy vậy mà Trung Tướng Minh tỏ ra nhàn nhã, chừng như ông giao khoán công việc quốc gia cho Chánh Phủ Nguyễn Ngọc Thơ và Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Ðội, để ông đi đánh tennis thì phải!

Lẽ dĩ nhiên không nên căn cứ vào mỗi câu nói trên mà đưa ra nhận xét về vị lãnh đạo quốc gia, nhưng trong 3 tháng cầm cờ lãnh đạo trong tay, rõ ràng là Trung Tướng Dương Văn Minh đã không thể hiện bất cứ khả năng hay bản lãnh của vị Tướng lãnh đạo quốc gia. Chẳng những thế, cả Chánh Phủ cũng lúng túng trong chính sách Ấp Chiến Lược thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm để lại.

Trên cương vị Tướng Lãnh trong quân đội, quân đội đòi hỏi phải có một kiến thức quân sự vững chắc để biết đánh và biết thắng địch, phải có một nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy để quân sĩ tin tưởng, tôn trọng, và nhiệt tình thi hành nhiệm vụ. Nhưng khi vị Tướng trên cương vị lãnh đạo quốc gia, vị Tướng đó cần có thêm bản lãnh và thủ đoạn chính trị để lãnh đạo toàn dân, để đương đầu với kẻ thù đang xâm lăng đất nước, để đương đầu với những thử thách quốc tế, nhất là với các quốc gia Ðồng Minh, trong trách nhiệm bảo vệ tổ quốc và phát triển dân giàu nước mạnh

Ðồng ý rằng, Trung Tướng Dương Văn Minh rất được lòng của nhiều thành phần trong xã hội, nhưng cảm tình này là do bản tính hiền hòa vốn có của ông, chớ không do tài năng bản lãnh của vị lãnh đạo quốc gia. Nhưng chẳng lẽ vị lãnh đạo quốc gia chỉ cần trang bị có ngần ấy thôi sao?

Vậy, Trung Tướng Dương Văn Minh, theo quí vị, là vị Tướng thích ứng đến mức nào trong vai trò lãnh đạo quốc gia?
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 14:58 Collapse   Print  
- ba -

Biểu Dương Lực Lượng
ngày 13 tháng 9 năm 1964

*****

Sự "mâu thuẫn một chiều" từ phía Trung Tướng Nguyễn Khánh đối với Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, như cái hố ngày càng rộng và sâu thêm, cơ hồ khó mà hàn gắn lại nếu không nói là không thể hàn gắn được. Hai vị không có những cuộc tiếp xúc trực tiếp nhau nữa, trong khi những hình thức chống đối Trung Tướng Khánh từ các tổ chức chính trị không ngưng nghỉ, càng làm cho Trung Tướng Khánh tức tối thêm và mục tiêu chính mà ông cần triệt hạ vẫn là Ðại Tướng Khiêm. Rất có thể những sự kiện chính trị nội tình Việt Nam Cộng Hòa xảy ra trong tháng 7 và 8 năm 1964, chưa đủ để ông thẳng tay với Ðại Tướng Khiêm, vì dù sao Ðại Tướng Khiêm cũng là người chính yếu đưa ông đến tột đỉnh vinh quang hiện nay.

Và rồi Trung Tướng Nguyễn Khánh có cái cớ mà tôi nghĩ là nguyên nhân của Trung Tướng Khánh, để ông xuống tay với người bạn đồng khóa và rất thân của ông. Và nếu nhìn theo góc cạnh tình cảm, Ðại Tướng Khiêm cũng là ân nhân của Trung Tướng Khánh nữa.

Ngày 13 tháng 9 năm 1964, 07 giờ sáng, tôi đưa Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và gia đình gồm vợ và hai con của ông, cùng với Ðại Úy Nguyễn Trọng Hồng -sĩ quan tùy viên- lên phi cơ đi Ðà Lạt, và dự trù trở về Sài Gòn vào buổi chiều cùng ngày. Ðại Úy Hồng thay thế Ðại Úy Nguyễn Hữu Có đã thuyên chuyển sang Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, làm sĩ quan tùy viên cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên. Phi cơ rời phi trường Tân Sơn Nhất, và khi mất hút trong những đám mây lang thang trên không phận Gia Ðịnh, tôi lên xe quay về nhà với dự định đưa gia đình dạo phố vì lâu lắm mới có một ngày chủ nhật rảnh rang như hôm nay.

Nhưng không. Vì khi về đến nhà là nghe tiếng súng ròn rã ở hướng Bộ Tổng Tư Lệnh, và hướng Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Tôi chạy sang Bộ Tổng Tư Lệnh. Ðang mở cửa văn phòng thì gặp ngay Ðại Tá Huỳnh Văn Tồn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh (đồn trú ở Mỹ Tho) cũng vừa đến. Với nụ cười cố hữu trước khi vào chuyện, ông hỏi:

"Ðại Tướng đâu rồi anh Hoa?

"Ðại Tướng và gia đình đi Ðà Lạt, nhưng khoảng 8 giờ mới đến trên đó. Có chuyện gì vậy Ðại Tá?

"Chúng tôi "Biểu Dương Lực Lượng" để cảnh cáo ông Khánh. Có cách nào anh liên lạc được với Ðại Tướng sớm hơn không?

"Chỉ có cách là nhờ hệ thống Bộ Chỉ Huy Không Chiến của Không Quân thì may ra, nhưng tôi nghĩ là mình không nên để bên đó biết cuộc nói chuyện như vậy, thưa Ðại Tá. Với lại khoảng 20 phút nữa thì mình liên lạc được thôi mà".
Ngay lúc đó điện thoại reo:

"Thiếu Tá Hoa tôi nghe".

"Trung Tướng Khánh đây. Ðại Tướng Khiêm đâu rồi?

"Thưa Trung Tướng, Ðại Tướng Khiêm đang trên không trình Sài Gòn-Ðà Lạt. Trung Tướng có cần liên lạc ngay bây giờ không, thưa Trung Tướng?
"Khi đến nơi, anh nói Ðại Tướng Khiêm điện thoại ngay cho tôi".

"Vâng. Nhưng điện thoại Trung Tướng ở tư dinh hay ở Phủ Thủ Tướng, thưa Trung Tướng?

"Phủ Thủ Tướng"

Tôi liền gọi lên Ðà Lạt, dặn trên đó trình với Ðại Tướng Khiêm liên lạc ngay với Trung Tướng Khánh khi đến nơi. Vừa gác ống nói vừa xoay qua Ðại Tá Tồn:

"Trung Tướng Khánh cần nói chuyện với Ðại Tướng đó Ðại Tá".

"Ổng ở đâu vậy?

"Dạ ở Phủ Thủ Tướng. Vị lãnh đạo hôm nay là ai vậy Ðại Tá?

"Trung Tướng Ðức với tôi".

Trung Tướng Dương Văn Ðức là Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật. Bộ Tư Lệnh đồn trú tại Cần Thơ.

Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm bị quản thúc.

Vài phút sau, điện thoại reo:

"Thiếu Tá Hoa tôi nghe".

"Hồng đây anh. Anh gọi Ðại Tướng có việc gì vậy?

"Sài Gòn đang có biến động do Trung Tướng Ðức với Ðại Tá Tồn lãnh đạo. Trung Tướng Khánh dặn Ðại Tướng khi đến Ðà Lạt là gọi về ổng ở Phủ Thủ Tướng đó. Anh trình Ðại Tướng ngay đi. Có tin gì thì cho tôi biết với nghe".

Mấy phút sau đó, Ðại Úy Hồng gọi tôi:

"Trung Tướng Khánh bảo Ðại Tướng ở lại Ðà Lạt cho đến khi nào ổng cho về mới được về. Ðại Tướng bảo anh đến nhà lấy một ít áo quần và đồ dùng cần thiết, cho phi cơ mang lên Ðà Lạt ngay hôm nay. Nhờ anh ghé nhà tôi lấy túi áo quần gởi lên giùm tôi luôn. Vợ tôi đang chuẩn bị đó. (Trong những năm 1970-1975, Ðại Tướng Khiêm giữ chức Thủ Tướng, Ðại Tá Hồng là chánh văn phòng. Hiện anh định cư tại Houston).

"Chiếc (phi cơ) C47 còn trên đó không?

"Sau khi nói chuyện với Trung Tướng Khánh, Ðại Tướng cho phi hành đoàn lái về Sài Gòn rồi".

"Vậy tôi sẽ yêu cầu chiếc đó trở lên Ðà Lạt ngay chiều hoặc tối nay. Nhớ, có tin gì thêm thì gọi tôi ngay nhé. Ngược lại, tôi cũng gọi anh khi có tin tức mới nhất".

Cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" của Trung Tướng Dương Văn Ðức đến buổi trưa là xẹp xuống sau mấy tiếng đồng hồ ồn ào, tự lui quân về Mỹ Tho và Cần Thơ. Tình hình thủ đô cũng như những vùng lân cận trở lại yên tĩnh. Nhưng đó chỉ là bề mặt thôi.

Và đây là lời của Ðại Tá Tạ Thành Long, thuật tóm tắt cho chúng tôi nghe khi cùng bị giam tại trại tập trung tù chính trị ở Nam Hà (miền bắc) năm 1981, về cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" nói trên. Lúc bấy giờ anh Long là Trung Tá Tham Mưu Phó hành quân Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV tại Cần Thơ:

"Giữa đêm 12 rạng 13/9/1964, Trung Tướng Ðức ra lệnh tổ chức bộ chỉ huy hành quân và cấp tốc di chuyển sang Sư Ðoàn 7 Bộ Binh ở Mỹ Tho, và chuyển quân lên Sài Gòn vào sáng sớm. Làm việc suốt đêm và di chuyển trên chặng đường Cần Thơ-Mỹ Tho trong đêm tối mà không được bảo vệ an ninh lộ trình, một cuộc vận chuyển rất nguy hiểm trong tình hình lúc bấy giờ, nhưng cũng may là đến nơi bình yên. Sau khi phối hợp với Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, tất cả cùng chuyển quân lên Sài Gòn".

"Theo kế hoạch, các đơn vị phải dừng lại ở Bình Chánh (một quận của tỉnh Gia Ðịnh ven ngoại ô thủ đô), chỉ có Trung Tướng Ðức và các sĩ quan cần thiết mới được vào Sài Gòn. Nhưng Trung Tướng Ðức cho lực lượng tiến đến Phú Lâm, ngưỡng cửa phía tây của thủ đô. Trung Tướng Ðức giao cho tôi (tức Trung Tá Long) đến tòa đại sứ Hoa Kỳ liên lạc với bộ phận tình báo ở đó xem tình hình sắp tới ra sao. Ðến nơi, chờ một lúc mới tiếp xúc được với nhân viên tình báo. Ông ta lên tiếng:

"Các ông đã không thực hiện đúng lời hứa. Tại sao các ông đưa lực lượng vào Sài Gòn? Hành động của các ông gây khó khăn cho chúng tôi và cho cả các ông nữa. Ông chờ tôi liên lạc về Hoa Kỳ nhận lệnh".

Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau đó:

"Hoa Thịnh Ðốn quyết định các ông phải rút quân về vị trí ngay, nếu không, các ông hoàn toàn chịu trách nhiệm về cuộc biến động hôm nay.

"Tôi quay về Bộ Tổng Tư Lệnh trình cho Trung Tướng Ðức về kết quả cuộc tiếp xúc đó thì ông cho lệnh rút quân. Và chuyện kể chỉ có thế "

"Cuộc Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13 tháng 9 năm 1964, chỉ diễn ra trong khoảng mười tiếng đồng hồ thì lặng lẽ rút lui. Ngay sau đó, Trung Tướng Ðức bị bắt tại Cần Thơ đưa lên phi cơ về Sài Gòn, ông đã nóng giận to tiếng khoa tay múa chân tại phi trường Tân Sơn Nhất khi Quân Cảnh và An Ninh Quân Ðội "dìu" lên xe đưa về cơ quan an ninh.

Chắc là Hoa Kỳ khó chịu về cái hơi hám "độc tài" của Trung Tướng Khánh nhưng chưa đến mức đảo chánh lật đổ, nên "nhờ" Trung Tướng Ðức ra oai cảnh cáo dưới tên gọi "Biểu Dương Lực Lượng", và lực lượng cảnh cáo hăng quá nên đưa quân áp sát thủ đô suýt nữa là chiếm luôn các cơ sở trọng yếu như các cuộc đảo chánh trước đây đã làm. Thế là bộ phận tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ giáng cho một lệnh xuất phát từ Hoa Thịnh Ðốn, và lực lượng biểu dương vội vàng rút lui có phần mất trật tự một chút. Rõ ràng là Mỹ chưa bật đèn xanh hoặc đèn xanh giới hạn thì cái ghế Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực không phải dễ.

Ðại Tướng Khiêm bị cách chức.

Xin mời trở lại với Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm. Sau một tuần bị quản thúc trong một dinh thự tại Ðà Lạt, ông và gia đình được Trung Tướng Khánh cho về Sài Gòn. Những ngày tiếp theo, Ðại Tướng Khiêm rất buồn và không vào văn phòng làm việc. Buổi sáng và chiều, tôi mang hồ sơ về nhà trình ông giải quyết.

Trung Tướng Khánh ra lệnh Ðại Tướng Khiêm bàn giao chức vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng cho ông, và tôi thì bàn giao hồ sơ của văn phòng Bộ Quốc Phòng cho Trung Tá Nguyễn Khắc Bình (về sau, Trung Tá Bình là Chuẩn Tướng, Ðặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo, và Tư Lệnh Cảnh Sát). Trong hồ sơ này có cả hồ sơ 10 kí lô vàng thoi mà tôi nói ở phần cuối của cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964.

Như vậy, Trung Tướng Khánh, Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực, Thủ Tướng, nay kiêm thêm chức Tổng Trưởng Quốc Phòng. Một mình ông nắm giữ các chức vụ tối quan trọng giống như trường hợp Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trước ngày bị lật đổ và bị giết chết vậy.

Vào ngày cuối tháng 9 năm 1964, Trung Tướng Khánh điện thoại tôi:

"Anh trình với Ðại Tướng Khiêm, 12 giờ trưa nay tôi đến ăn cơm tại nhà Ðại Tướng Khiêm".

"Xin Trung Tướng vui lòng điện thoại với Ðại Tướng Khiêm đang có mặt tại nhà, thưa Trung Tướng".

"Không. Anh về trình đi". Ra lệnh xong là ông gác ống nói.

Thật khó nghĩ cho tôi, vì hai gia đình đang hờn giận nhau nếu không nói là Trung Tướng Khánh đang "ghìm" Ðại Tướng Khiêm, và trường hợp này chẳng khác nào Trung Tướng Khánh lôi tôi vào thế trận giống như tôi đang trở thành thành viên trong nhóm sĩ quan dưới quyền ông vậy.

Tôi đến tư dinh Ðại Tướng Khiêm, trình xong, Ðại Tướng Khiêm im lặng trong khi bà Khiêm tức giận:

"Tại sao ổng không điện thoại đến đây mà lại nói chuyện với chú?

"Bà phải hỏi ông Khánh sao lại hỏi chú Hoa? Thôi, bà lo cơm cho kịp".

Ðại Tướng Khiêm đỡ lời cho tôi. Nếu Ðại Tướng Khiêm không đỡ lời thì tôi chỉ biết trả lời là "Tôi cũng không biết tại sao nữa".

Phần tôi, mỗi khi có khách đến nhà Ðại Tướng Khiêm dùng cơm, tôi lo sắp xếp bàn ăn, tổ chức an ninh, và những gì cần thiết liên quan đến bữa ăn đó. Hôm nay cũng vậy, cộng thêm sự thận trọng cần thiết. Sau khi chỉ định công việc và cách thức xếp bàn ăn cho mấy anh làm việc tại nhà Ðại Tướng Khiêm, tôi về văn phòng.

Mưu sát Trung Tướng Khánh.

Khoảng nửa giờ trước giờ ăn, tôi trở lại tư dinh Ðại Tướng Khiêm. Như thường lệ, kiểm soát công tác chuẩn bị trong phòng ăn, tôi sang bên cạnh kiểm soát các nhân viên an ninh để biết chắc là công tác đang diễn tiến như dự định. Chợt thấy Trung Tá Luông đi tới đi lui mấy lần, điều mà chưa bao giờ xảy ra vì không liên quan gì đến chức vụ Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tư Lệnh của ông cả.

Trung Tá Nguyễn Văn Luông, năm 1958 là Thiếu Tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 35 Bộ Binh thuộc Sư Ðoàn 12 Khinh Chiến, đồn trú tại Kon Tum. Lúc ấy tôi là Trung Úy, Trưởng ban 3 kiêm Ban 5 bộ chỉ huy Trung Ðoàn này. Trong cuộc đảo chánh 1/11/1963, ông là Thiếu Tá Chỉ Huy Phó Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu (lúc chưa cải danh Bộ Tổng Tư Lệnh), ngay sau đó thăng cấp Trung Tá và giữ chức Chỉ Huy Trưởng thay thế Trung Tá Lê Soạn về hưu.

Tôi đến cạnh ông:

"Ô! Trung Tá. Trung Tá có gì cần gặp Ðại Tướng hả?

"Không. Không có gì".

"Không có gì sao Trung Tá đi qua đi lại với vẻ suy tư vậy?

Trung Tá Luông kề tai tôi với giọng ngập ngừng:

"Hôm nay tụi tôi ám sát ông Khánh".

Tôi rất kinh ngạc về câu nói của ông:

"Bằng cách nào?

Ngưng một lúc, ông tiếp:

"Vào bàn ăn độ 5 phút, ông Anh từ trên lầu gọi điện thoại xuống đây (vừa nói ông vừa chỉ điện thoại trên bàn cạnh cửa, sát phòng ăn), lúc đó tôi sang mời ông Khánh qua nghe điện thoại và nói là của Phủ Thủ Tướng gọi. Khi ông ta vừa qua khỏi khung cửa thì anh Yểm câu cổ và đâm chết".

"Ðại Tướng có biết việc này không Trung Tá?

"Không".

"Vậy là không được. Tôi muốn Trung Tá hủy bỏ dự định này, nếu không, tôi sẽ trình Ðại Tướng ngay. Tôi chắc rằng, Ðại Tướng không bao giờ đồng ý về một hành động như vậy đâu. Xin Trung Tá hãy hình dung việc gì xảy ra tiếp đó, vì cả tháng nay mỗi khi Trung Tướng Khánh đến đây là y như rằng, tiểu đội cận vệ của Trung Tướng Khánh với vũ khí cầm tay gần như bao quanh nhà này. Chỉ cần tiếng động lạ nào đó trong phòng ăn, là tiểu đội đó nhào vô tức thì, và liệu sự kiện xảy ra có phải là những xác chết -kể cả chúng mình- nằm la liệt ở đây không? Lịch sử sẽ lưu lại những gì cho mai sau, nếu không phải là "tiếng xấu muôn đời" chỉ vì tranh giành quyền lợi mà giết chết lẫn nhau! Hủy bỏ đi Trung Tá".

Trầm ngâm một lúc:

"Anh chờ tôi một chút".

Trung Tá Luông lên lầu và khoảng 5 phút sau, ông lại kề tai tôi với giọng tự nhiên:

"Ðược rồi. Ông Anh đồng ý hủy bỏ việc đó".

Tư dinh Ðại Tướng Khiêm gồm 3 căn nhà số 1, số 2, và số 3 có cửa thông nhau, trong dãy số 4 (của nhiều dãy) trong cư xá trại Trần Hưng Ðạo, tức khuôn viên Bộ Tổng Tư Lệnh. Nhà 2 tầng, vách gạch, lầu đúc bê tông, kiến trúc mang dáng vấp Châu Âu, vì do quân đội Pháp xây dựng dùng làm bản doanh bộ tư lệnh quân viễn chinh của họ. Phòng ăn ở căn số 1, ngay cạnh phòng ăn có cửa thông qua căn số 2, nơi có cái bàn dành cho sĩ quan tùy viên trực tại nhà. Trên bàn có máy điện thoại và những vật dụng cần thiết của một văn phòng thu hẹp. Tầng trệt căn này không có người ở. Căn số 3 là gia đình của vợ chồng người em gái của bà Khiêm ở. Em rể của bà là luật sư Bùi Văn Anh, chính là người mà Trung Tá Luông nhận chỉ thị sau khi tôi phản đối vụ mưu sát nói trên. Tôi không trực tiếp nghe luật sư Anh nói về vụ này, mà những gì tôi ghi lại ở đây là do Trung Tá Luông nói với tôi. (Ðầu năm 1975, Trung Tá Luông là Ðại Tá, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Khu 3 tại Biên Hòa, và anh Lưu Yểm là Ðại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Biên Hòa)

Trước 12 giờ một chút, Trung Tướng Khánh đến cùng với 2 xe Jeep chở đầy nhân viên cận vệ với vũ khí trong tay. Vẫn như hành động trong thời gian gần đây, toán cận vệ có mặt quanh nhà nhưng không anh nào ngồi hay đứng yên một chỗ mà luân chuyển nhau từ vị trí này đến vị trí khác, miễn sao các anh ấy trông thấy được bàn ăn bên trong.

Vì là bữa ăn rất căng thẳng nên tôi không ra vào như lệ thường. Khoảng 10 phút đầu tiên, không khí trong phòng ăn thật yên lặng nếu có đôi mắt bàng quan nào đó nhìn vào. Nhưng, sau đó, lời qua tiếng lại tuy không đến nỗi ồn ào nhưng rõ ràng là bữa ăn đầy sóng gió. Lời lẽ gay gắt qua lại giữa bà Khiêm với Trung Tướng Khánh, cho tôi nhận xét "không cân sức" về phía bà Khiêm trong khi Ðại Tướng Khiêm đăm chiêu suy nghĩ hơn là tranh cãi, vì Trung Tướng Khánh đang có trong tay tất cả quyền lực quốc gia, đâu dễ dàng bị thuyết phục cho dù ông bà Khiêm là bạn thân với gia đình ông. Chữ "bạn thân" chẳng qua là thuở chưa có quyền lực đấy thôi, chớ bây giờ thì khác. Khác xa lắm rồi!

Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong

Khi Trung Tướng Khánh rời phòng ăn với thái độ gần như bình thường, cứ như không có chuyện gì xảy ra cả. Ðó là cái lạnh lùng của người có quyền lực đối với "kẻ thù"! Mà liệu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm có phải là kẻ thù của Trung Tướng Nguyễn Khánh hay không? Chính trị, biết đâu mà lường phải không quí vị? Tôi vào phòng ăn:

"Thưa Ðại Tướng, điều gì xảy ra mà Trung Tướng Khánh to tiếng vậy Ðại Tướng?

"Ông Khánh "muốn" (hàm chứa ý nghĩa một mệnh lệnh) tôi phải ra ngoại quốc, nếu không thì tánh mạng tôi khó an toàn".
"Ðại Tướng nghĩ sao?
"Tôi quyết định đi. Chú lo thủ tục cho tôi và gia đình tôi càng sớm càng tốt. Chú với chú Châu, nếu được thì cùng đi với gia đình tôi".

"Tôi sẽ theo Ðại Tướng. Còn anh Châu thì tôi sẽ hỏi ý kiến anh ấy và trình Ðại Tướng sau, thưa Ðại Tướng".

"Chú Châu" mà Ðại Tướng Khiêm nói ở đây là Ðại Úy Ðặng Văn Châu. Năm 1963, anh là chánh văn phòng tỉnh Vĩnh Long, lúc ấy Trung Tá Lê Văn Phước là Tỉnh Trưởng. Sau cuộc đảo chánh 1/11/1963, Trung Tá Phước bị cách chức và anh Châu cũng mất chức luôn. Sau cuộc đảo chánh 30/01/1964, Ðại Tướng Khiêm bảo tôi liên lạc phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tư Lệnh thuyên chuyển anh Châu về văn phòng chúng tôi để thông dịch Anh ngữ cho Ðại Tướng Khiêm khi có phóng viên báo chí ngoại quốc phỏng vấn. Ðại Tướng Khiêm nói tiếng Anh rất khá, nhưng với báo chí quốc tế nên có thông dịch để có thì giờ suy nghĩ cho câu trả lời.

Khi hỏi ý kiến, anh Châu đồng ý đi. Vậy là số người "lưu vong" có Ðại Tướng Khiêm, vợ và hai con ông, tôi, và Ðại Úy Châu. Anh Châu sang Bộ Quốc Phòng xin "sự vụ lệnh", đến Sở Hành Chánh Tài Chánh số 6 lãnh phụ cấp xuất ngoại vì "sự vụ lệnh" ghi "thay mặt chánh phủ sang Anh quốc và Cộng Hòa Liên Bang Ðức, cám ơn hai quốc gia này đã giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa chống cộng sản". Lại đến Bộ Ngoại Giao xin "thông hành ngoại giao" và chiếu khán ở tòa đại sứ Anh quốc và Cộng Hòa Liên Bang Ðức. Xong, xuống Tổng Nha Hối Ðoái và Ngân Hàng để đổi ngoại tệ. Phần phụ cấp bằng tiền Việt Nam đổi được 10 ngàn mỹ kim, và phần tiền Việt Nam mà tôi giữ trong tủ sắt của văn phòng đổi được 10 ngàn mỹ kim nữa. Ðó là số tiền dự trữ trong tủ sắt để Ðại Tướng cấp phát cho các đơn vị Tình báo sử dụng. Trong cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13/9/1964, tôi mang về nhà và Ðại Tướng Khiêm bảo tôi cứ giữ đó. Nay, tôi đưa Ðại Úy Châu đi đổi luôn. Ðúng lúc mọi thủ tục sẵn sàng thì Trung Tướng Khánh điện thoại tôi:

"Anh không được đi mà chỉ một mình Ðại Úy Châu theo Ðại Tướng Khiêm".

Ra lệnh xong là ông gác ống nói ngay. Tôi điện thoại lại thì Thiếu Tá Thịnh, bí thư, anh Thịnh cho biết Thủ Tướng không tiếp chuyện. Thế là tôi không trình bày được gì cả.

Tôi đến trình Ðại Tướng Khiêm, Ðại Tướng không nói gì nhưng rõ ràng là bà Khiêm không hài lòng. Tôi nhận ra rằng, bà Khiêm không hài lòng không phải vì tôi không được đi, mà không hài lòng chỉ vì bà ngờ tôi "chưa chi đã trở mặt" đây. Tôi áp dụng câu của Ðại Tướng Khiêm có lần nói với tôi rằng: "Sự trong sáng không cần phải đính chánh mà thời gian sẽ chứng minh cho mình, tuy có chậm nhưng rất hiệu quả". Tôi trở về văn phòng.

Hôm sau tôi đến Phủ Thủ Tướng xin gặp Thủ Tướng Khánh, và ông tiếp:

"Anh có chuyện gì?

"Thưa Thủ Tướng, tôi không được đi theo Ðại Tướng Khiêm trong chuyến đi chưa biết ngày nào trở về. Vậy, tôi xin Thủ Tướng vui lòng cho tôi một số tiền đủ đổi 10 ngàn mỹ kim và một giấy phép để đổi số tiền đó. Số tiền này tôi sẽ trao Ðại Tướng Khiêm như là món quà nhỏ để Ðại Tướng và gia đình có thêm khoản tiền chi tiêu ở ngoại quốc trong thời gian đầu. Xin thưa với Thủ Tướng rằng, tôi đến đây là tự tôi chớ Ðại Tướng Khiêm không hay biết gì về hành động này, thưa Thủ Tướng".

Không cần suy nghĩ, ông trả lời ngay:

"Ðược. Tôi cho anh".

"Xin cám ơn Thủ Tướng".

Chính tôi đi đổi tiền, và tôi thuật lại Ðại Tướng Khiêm nghe khi tôi trao tiền cho ông. Ông rất cảm động:

"Tôi cám ơn chú".

Chiều ngày 6 tháng 10 năm 1964, Ðại Tướng Khiêm gọi tôi đến tư dinh của ông. Vào phòng khách, ông mời tôi ngồi, điều mà chưa bao giờ xảy ra mỗi khi tôi đến nhận lệnh ngoại trừ hai lần ra lệnh về đảo chánh. Tự ông, đem bánh ngọt với nước trà ra mời tôi. Tôi hiểu rằng, "sếp" của tôi sắp tâm sự chia tay đây rồi vì ngày mai ông và gia đình rời Việt Nam lưu vong. Năm năm làm việc trực tiếp dưới quyền ông trong trách nhiệm một sĩ quan tham mưu đặc biệt, trong một chừng mực nào đó, tôi hiểu được những cử chỉ cùng những thái độ của ông thể hiện điều ông muốn hoặc ông sắp làm. Xong miếng bánh với hớp trà, ông vào chuyện:

"Tôi cám ơn chú, trong mấy năm qua chú đã làm việc với tất cả nhiệt tình và trung thực. Giờ đây, trước khi rời Việt Nam lưu vong không biết ngày về, tôi muốn nói với chú rằng, nếu chú và những chú khác, còn nhớ đến tôi thì đừng bao giờ làm chính trị, vì làm chính trị ít khi người ta dành lại tình cảm cho bạn bè và đôi khi cũng không còn tình cảm cho thân nhân của họ nữa".

Tay phải ông gỡ kiến cận xuống và tay trái ông cầm miếng nỉ lau, đó là thói quen mỗi khi ông suy nghĩ. Mang kiến vào, ông lại mời tôi:

"Chú ăn bánh uống trà đi".

"Vâng. Xin mời Ðại Tướng".

Thái độ của ông làm tôi lúng túng. Tôi nghĩ, không phải ông ngưng lại để mời tôi ăn bánh uống trà, mà là chính ông đang nén lại nỗi xúc động của ông khi ông đang sống trong góc cạnh Tình cảm. Ðại Tướng Khiêm là mẫu người giàu tình cảm, rất có tình có nghĩa với những quân nhân mà trước kia cùng đơn vị với ông cho dù người đó hiện là sĩ quan hay hạ sĩ quan cũng vậy. Tôi đã nhiều lần chứng kiến hình ảnh lúc ông niềm nỡ bắt tay những anh hạ sĩ quan cùng phục vụ tại Tiểu Ðoàn 3 Việt Nam hằng chục năm trước đó.

Ðại Tướng Khiêm tiếp lời:

"Trung Tướng Khánh đã xử sự với tôi như chú thấy đó, thật là không còn chút tình nghĩa gì hết".

"Có vài vị Tướng Lãnh nêu thắc mắc với tôi rằng: "Tại sao Ðại Tướng lại im lìm để Trung Tướng Khánh dùng cả thủ đoạn không tốt với Ðại Tướng". Riêng tôi, tôi thấy Trung Tướng Khánh là mẫu người nhiều tham vọng chính trị, chính với Ðại Tướng là người đã góp phần quan trọng đưa Trung Tướng Khánh lên đến tột đỉnh địa vị ngày nay, nhưng Trung Tướng Khánh cứ quả quyết Ðại Tướng là người đang tìm cách đẩy ổng ra khỏi những chiếc ghế mà ổng đang ngồi, thưa Ðại Tướng".

"Tôi biết chớ chú. Nhưng tranh giành làm gì!

Trong phòng trở nên yên lặng. Một lúc sau:

"Các sĩ quan do tôi đào tạo là người có khả năng và là người tốt nữa. Chắc chắn chú sẽ được các vị khác sử dụng, và tôi tin là không có gì khó khăn cho chú đâu. Thôi, ngày mai tôi đi, chú ở lại mạnh giỏi. Cho tôi gởi lời thăm thím".

"Thưa Ðại Tướng, tôi chân thành cám ơn Ðại Tướng đã dìu dắt tôi trong 5 năm qua. Tôi kính chúc Ðại Tướng và gia đình được mạnh khỏe và luôn gặp điều may trên đường lưu vong. Kính chào Ðại Tướng".

Tôi đứng thẳng người và chào ông một cách trân trọng như khi tôi chào ông để nhận chức chánh văn phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh năm 1961 vậy. Ðại Tướng Khiêm siết chặt tay tôi thật lâu, và cả hai đều bùi ngùi trong cuộc chia tay này!

Ngày 7 tháng 10 năm 1964, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm và gia đình rời Việt Nam Cộng Hòa trên chuyến bay của Air France đi Paris để "lưu vong" dưới danh nghĩa thật là vinh dự (!): "Thay mặt chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa sang Anh quốc và Ðức quốc, cám ơn hai quốc gia đồng minh đã và đang giúp Việt Nam Cộng Hòa chống cộng sản".

Ngay chiều hôm đó, tôi và gia đình dọn ra khỏi cư xá trong khuôn viên bộ Tổng Tư Lệnh, và sẵn sàng nhận lệnh thuyên chuyển đến đơn vị hay cơ quan nào đó, vì có bao giờ một chánh văn phòng của ông Tướng thất sủng lại tiếp tục phục vụ tại đơn vị cũ đâu, nhất là đơn vị cũ lại là văn phòng Tổng Tư Lệnh.

Trung Tướng Nguyễn Khánh thêm chức Tổng Tư Lệnh Quân Lực.

Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm ra đi không bàn giao chức vụ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày hôm sau, Trung Tướng Nguyễn Khánh vào nhận thêm chức đó. Có nghĩa là Trung Tướng Khánh nắm giữ cả 4 chức vụ cao nhất nước: Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực, Quốc Trưởng bao gồm Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Thủ Tướng, Tổng Trưởng Quốc Phòng, và Tổng Tư Lệnh Quân Lực.

Ngay hôm đầu tiên Trung Tướng Khánh nhận chức, tôi viết "Phiếu Trình" trình vào Trung Tướng Khánh, xin chỉ định đơn vị tôi trình diện. Ông phê 3 chữ: "Ở tại chỗ". Thế là tôi vẫn ngồi lại văn phòng này nhưng chưa rõ chức vụ. Xin nói thêm, "Phiếu Trình" là một loại văn kiện trong hồ sơ tham mưu, sử dụng khi cần trình một vấn đề gì để xin chỉ thị của cấp trên.

Cũng ngày hôm ấy, tôi thấy thêm một thủ đoạn của Trung Tướng Khánh. Ðó là hai ngày trước khi Ðại Tướng Khiêm lưu vong, văn phòng tôi có nhận được một "Nghị Ðịnh" thiết lập "quỹ mật" cho ông Tổng Tư Lệnh với số tiền đầu tiên là 20 triệu đồng (Việt Nam). Phía dưới Nghị Ðịnh có ghi chú "chờ lệnh". Giới chức thiết lập quỹ là Trung Tướng Khánh nhân danh Thủ Tướng cấp cho Tổng Tư Lệnh, và bây giờ chức Tổng Tư Lệnh cũng trong tay Trung Tướng Khánh. Vậy là, giới chức cấp quỹ với giới chức sử dụng quỹ, đều là ông. Lúc ấy, hối suất chánh thức là 35 đồng Việt Nam bằng 1 mỹ kim.

Xin giải thích đôi nét về "quỹ mật". Nguyên tắc của quỹ mật là chi tiêu không cần chứng minh, nhưng giới chức sử dụng phải chịu trách nhiệm trực tiếp với giới chức cấp quỹ khi giới chức cấp quỹ yêu cầu chứng minh, nhưng thực tế thì trong những năm qua tôi chưa thấy yêu cầu này xảy ra lần nào. Xem chừng lấy tiền trong ngân khố của chánh phủ quá dễ chăng?

Nhưng còn ghê gớm hơn nữa kìa. Theo lời bà Khiêm nói với tôi rằng, khi mà gia đình Ðại Tướng Khiêm với gia đình Trung Tướng Khánh không còn coi nhau là bạn bè thân thiết như trước nữa, bà biết bà Khánh đã hai lần đưa cho người em làm Tổng Lãnh Sự Việt Nam Cộng Hòa tại Hong Kong, mỗi lần 500 triệu đồng Việt Nam Cộng Hòa để bán lấy đồng mỹ kim. Ai mua tiền Việt Nam đó nếu không phải là quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, để mang trở về mua hàng trên thị trường Việt Nam Cộng Hòa tiếp tế cho quân của chúng đánh lại quân ta? Sự thật đến mức nào tôi không rõ, nhưng những thông tin này là từ bà Khiêm đến tôi và tôi ghi lại đây là chính xác.

Xin mở ngoặc để nối tiếp phần trên. Trong tạp chí Thế Kỷ 21, số 147 tháng 7 năm 2001 phát hành tại Nam California, có loạt bài "Công Cuộc Nghiên Cứu Việt Sử Tại Bắc Mỹ" (1975-2000), và bài số 10 với tựa: "Nhóm Viết Hồi Ký" của tác giả Trần Anh Tuấn, nói về "Sĩ quan cấp Tá viết hồi ký". Dưới đây là vài đoạn trích từ trong bài này.

"Cấp Tá viết hồi ký khoảng 18 người, theo thứ tự tên gọi là: Trương Dưỡng, Trần Kim Ðịnh, Vương Văn Ðông, Phạm Bá Hoa, Ðặng Trần Huân, Ðỗ Kiểm, Trần Khắc Kính, Hoàng Ngọc Liên, Vũ Văn Lộc, Phan Nhật Nam, Trần Ngọc Nhuận, Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Trịnh Tiếu, Võ Ðại Tôn, Trần Ðình Trụ, Tạ Tỵ, và Ngô Văn Xuân".

"Nói một cách tổng quát, khi chúng ta rời bỏ thế giới hồi ký của cấp Tướng để đọc hồi ký của cấp Tá là chúng ta sang một thế giới khác. Một thế giới của văn nhân. Một đàng là quyền lực quốc gia, và một đàng là văn chương nhân bản".

" ...... Về hình thức, nhiều hồi ký cấp Tá với những áng văn chương trong sáng, chữ dùng nhiều khi đắc địa, có thể trích làm bài giảng văn mẫu trong các trung tâm Việt ngữ tại hải ngoại. Ðiển hình của hồi ký loại này là tác phẩm của Phan Lạc Phúc, Phan Lạc Tiếp, Phạm Bá Hoa, Ðặng Trần Huân, Vũ Văn Lộc, ......."

Sau khi tác giả điểm qua hồi ký của hai nhà văn Phan Lạc Phúc và Phan Lạc Tiếp, đến quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ của tôi (Phạm Bá Hoa), tác giả Trần Anh Tuấn viết:

" ..... Hồi ký của cựu Ðại Tá Phạm Bá Hoa có nội dung khác hẳn những hồi ký vừa kể". ".......... Ðây là một hồi ký chính trị, ghi lại những biến cố trên chính trường Việt Nam Cộng Hòa từ năm 1963 cho đến ngày 30/4/1975. Giai đoạn lịch sử này tương ứng với thời gian tác giả đóng vai trò tuy không có hào quang của một nhân vật trên mặt nổi, nhưng lại là người sắp xếp và do đó thấu hiểu những uẩn khúc của hậu trường, cùng diễn trình của nhiều biến cố có tầm mức lịch sử ngay từ lúc khởi thủy. Việc ghi nhận này rất thẳng thắn và thành thật. Ngòi bút Phạm Bá Hoa can đảm, trung thực, bất vị thân... "

"Ðặc biệt, Ðôi Dòng Ghi Nhớ" ghi nhận sự kiện kinh khủng trong chiến tranh Việt Nam. Ðó là việc, lấy nguồn tin từ bà Trần Thiện Khiêm, tác giả cho biết bà Nguyễn Khánh đã hai lần đưa cho người em làm Tổng Lãnh Sự Việt Nam Cộng Hòa tại Hong Kong, mỗi lần 500 triệu, tổng cộng một tỷ bạc Việt Nam Cộng Hòa để đổi lấy đô la. Sau tiết lộ kinh khủng đó, tác giả Phạm Bá Hoa đặt một câu hỏi chắc như đinh đóng cột, rằng, "Ai mua tiền Việt Nam trên đất Hong Kong nếu không phải là Cộng Sản Việt Nam?". Câu nghi vấn đó của tác giả Phạm Bá Hoa, nay đã được phía bên kia kiểm chứng là xác thực. Nếu muốn, xin độc giả tìm đọc "Ðồng Ðô La Trong Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước" dựa theo hồi ký của Thăng Long Huỳnh Bá Việt và những người làm công tác tài chánh đặc biệt trong chiến tranh với sự cộng tác của các nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Hiền Phương, Thanh Giang, và Hoàng Xuân Huy, để biết Ban Kinh Tài Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (của cộng sản) đã mua tiền Việt Nam Cộng Hòa từ đâu để đem về chi phí cho chiến trường miền Nam..... "

Sau đoạn nhận xét rất tinh tế của tác giả về cách dùng chữ của người miền Nam trong khi có vài chữ tôi dùng chữ của người miền Bắc để giảm nhẹ ý nghĩa sự tức giận của Trung Tướng Trần Thiện Khiêm đối với Trung Tướng Dương Văn Minh, tác giả Trần Anh Tuấn kết luận:

"Ðiều tác giả Phạm Bá Hoa có thể yên tâm là, ít nhất có một độc giả tin ông, tin ở tấm lòng trung can nghĩa khí của ông. Ðôi Dòng Ghi Nhớ, vì thế, là một trong rất ít hồi ký chính trị hoàn tất sau biến cố 30/4/1975 có cơ tồn tại với thời gian. Ông là một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có tư cách".

Xin đóng ngoặc, và trở lại văn phòng Tổng Tư Lệnh.

Trung Tướng Khánh cho giải tán văn phòng Tổng Tư Lệnh, và tổ chức thành "Nha Ðổng Lý Văn Phòng Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, được Trung Tướng Khánh cử giữ chức Ðổng Lý Văn Phòng. Lớn ơi là lớn, nhưng kỳ ơi là kỳ! Dưới quyền Thiếu Tướng Vỹ có:

-Thiếu Tá Thịnh, bí thư.

- Tôi, Trưởng Phòng Quân Sự Vụ, với toàn bộ nhân viên và trách nhiệm của văn phòng Tổng Tư Lệnh trước đây, ngoại trừ những vấn đề riêng tư của ông Tổng Tư Lệnh.

- Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng Dân Sự Vụ.

- Thiếu Tá Tâm (tôi không nhớ họ), Trưởng Phòng Báo Chí.

Công tác kế tiếp là Trung Tướng Khánh giao cho Chuẩn Tướng Phạm Ðăng Lân, Chỉ Huy Trưởng binh chủng Công Binh, đúc bê tông tầng trên phòng họp số 1 trong tòa nhà chánh (nơi tạm giữ những vị bị Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng xem là trung thành với Tổng Thống Diệm trong cuộc đảo chánh 1/11/1963) để làm văn phòng mới của Tổng Tư Lệnh. Ðồng thời xây cái hầm ngầm ngay phía dưới phòng họp số 1 để làm hầm trú ẩn với tiện nghi cần thiết cho bộ chỉ huy hành quân khoảng 30 người. Từ bàn viết của ông Tổng Tư Lệnh nhìn đến cuối phòng trước mặt, sát góc bên trái có cầu thang xoáy ốc xuống hầm. Nếu không phải nhân viên phục vụ nơi đây, phải để ý lắm mới trông thấy được cái quan trọng của cầu thang xoáy ốc này. Hầm làm xong từ mặt đất lên đến nóc là 2.2 thước, chung quanh và cả nóc hầm được tấn bằng những tấm kim khí thật dày, lớp đất trên nóc hầm dày đến 1.5 thước. Ngay trên hầm là một đoạn của con đường vòng đai bên trong hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa Bộ Tổng Tư Lệnh với một góc của phi trường Tân Sơn Nhất. Trong lúc đơn vị Công Binh đang đổ đất lấp nóc hầm thì Trung Tướng Khánh nói với Chuẩn Tướng Phạm Ðăng Lân, lúc ấy tôi đứng cạnh chờ trình công văn gấp của Phòng 3:

"Làm xong hầm này tôi chấp tất cả phi cơ của "thằng" Kỳ đó".

Nói xong ông cười khoái chí, chừng như ông không còn lo ngại Thiếu Tướng Kỳ đảo chánh ông bằng Không Quân vậy. Tôi không hiểu câu nói của ông là thật hay đùa, nhưng cho dù là đùa hay thật thì tự ông nói lên nỗi lo của ông về sự chống đối của những đồng đội quanh ông. Nhưng tại sao Trung Tướng Khánh lại sợ như vậy? Mẫu người nhiều tham vọng với một bụng thủ đoạn như ông, phải tự hiểu tại sao ông bị cô lập giữa đồng đội và lúc nào cũng sợ đồng đội của ông. Qua những hành động của ông từ trong cuộc đảo chánh ngày 30/01/1964 đến bấy giờ, theo tôi, ông là vị Tướng có vẻ như mang tham vọng vượt lên trên tất cả mọi người để trở thành vị lãnh đạo bậc nhất của Việt Nam Cộng Hòa trong nét nhìn thán phục của các quốc gia lân bang trong vùng, và cả Hoa Kỳ nữa. Cái tham vọng của Trung Tướng Khánh dễ dàng nhận thấy qua 4 chức vụ cao nhất nước đang trong tay ông: "Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng + Tổng Tư Lệnh Quân Lực". Với 4 chức vụ đó, làm sao biện minh là ông không có tham vọng? Làm sao biện minh là ông không độc tài?

Thêm nữa, Trung Tướng Khánh còn cấp cho Công Binh 10 triệu đồng để xây cái hầm sâu trong lòng núi đá ngay sau lưng Trường Thiếu Sinh Quân/Vũng Tàu nữa. Tôi không rõ những chi tiết về cái hầm này, chỉ được nghe ông nói trong buổi họp tham mưu của Bộ Tổng Tư Lệnh rằng:

"Trường hợp cuộc chiến dẫn đến sự xâm nhập của không quân địch thì hầm này là nơi đặt bản doanh hành quân của Bộ Tổng Tư Lệnh".

Ðến khi trường này chuẩn bị di chuyển để bắt đầu phá núi xây hầm, cũng là lúc Trung Tướng Khánh lưu vong nên kế hoạch bị hủy bỏ.

Ngay trước ngày Quốc Khánh đầu tiên 1/11/1964 -kể từ sau cuộc lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm- Trung Tướng Khánh tấn phong chánh phủ dân sự do giáo sư Trần Văn Hương làm Thủ Tướng, và kỹ sư Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng. Quốc Trưởng là nhà cách mạng quốc gia lão thành, hoạt động không mệt mỏi, từng vào tù ra khám vì hoạt động cách mạng, nổi tiếng là trong sạch, và chống cộng sản một cách triệt để. Thủ Tướng là nhà giáo kỳ cựu, có tiếng là thanh liêm, nhiệt tình, chống cộng sản không khoan nhượng, nhưng có dáng vẻ và phong cách của một công chức cần mẫn hơn là nhà hoạt động chính trị. Cả hai vị đều do Trung Tướng Khánh nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Ðội (Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng đã đổi danh xưng là Hội Ðồng Quân Ðội) đề cử sau khi tham khảo cơ quan do ông thành lập có tên gọi "Hội Ðồng Dân Quân".

Dưới nét nhìn nào đó cho thấy Trung Tướng Khánh muốn dư luận thấy ông giảm bớt cái hơi hám "độc tài" mà ông luôn bị cáo giác trong các cuộc mít tinh biểu tình, và nhất là trong những vị hoạt động chính trị, nên ông nhường chức Quốc Trưởng và Thủ Tướng cho hai vị dân sự. Nhưng thật ra, với chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Ðội, ông vẫn tự cho mình cái chức năng trên Quốc Trưởng chẳng khác dưới chế độ cộng sản độc tài bao nhiêu.

Dù sao thì chánh phủ dân sự cũng tô điểm đôi chút cho hình ảnh chính trị Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, bớt tính cách năng nổ đầy u ám của một vị vờ tướng cầm quyền có pha chút "hơi hám quân phiệt" lãnh đạo.

Ngày 1/1/1965, Trung Tướng Khánh xuống Cần Thơ chủ tọa lễ kỷ niệm "Ngày Quân Ðoàn IV hai tuổi". Ông nhân danh Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Ðội thăng cấp Trung Tướng cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Quân Ðoàn này.

Trong cuộc đảo chánh 1/11/1963, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu là Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tham gia tích cực. Ðảo chánh thành công, ngày hôm sau ông được thăng cấp Thiếu Tướng, giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Chẳng bao lâu sau đó, ông bàn giao cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên để nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Vùng IV Chiến Thuật cách nay vài tháng. Nay, ông được thêm một ngôi sao mỗi bên cầu vai.

Trung Tướng Khánh là người rất xông xáo, nay đơn vị này mai đơn vị khác. Ông thường thăm và khen thưởng tại chỗ về những thành tích cá nhân cũng như tập thể đơn vị. Mỗi lần đi bằng phi cơ, tôi được lệnh mang theo tất cả hồ sơ công văn của các phòng trình lên để ông làm việc ngay trên phi cơ. Chiếc phi cơ C47 mà Không Quân dành cho ông, có trang bị bàn viết, giường nằm, tủ lạnh nhỏ, và vài tiện nghi lặt vặt khác. Thường khi như vậy, ngoài Trung Tướng Khánh ra, còn có sĩ quan tùy viên, cận vệ, vài nhân viên an ninh, vài nhân viên truyền tin, và tôi. Ðến thành phố nào đó là tôi tìm phi cơ khác của Không Quân Việt Nam, Không Quân Hoa Kỳ, hoặc Hàng Không dân sự, để mang công văn trở về Bộ Tổng Tư Lệnh hoàn lại các Phòng Sở. Việc bảo vệ số công văn này luôn được quan tâm đúng mức. Ðây là nét đặc biệt của Trung Tướng Nguyễn Khánh mà vị Tổng Tư Lệnh trước ông là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, và những vị sau ông là Trung Tướng Trần Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, và Ðại Tướng Cao Văn Viên, không có. Tôi không dám đoan chắc đó là điều tốt, nhưng rõ ràng là ông không để thời gian trống trong nhiệm vụ của ông.

Tôi không biết có phải là do vụ "Biểu Dương Lực Lượng" ngày 13/09/1964 hoặc vụ đó chỉ là "giọt nước làm tràn ly nước" hay không, nhưng từ sau vụ ấy thì Trung Tướng Khánh với Ðại sứ Hoa Kỳ -cựu Tướng Maxwell Taylor- đã bất hòa nhau, và Trung Tướng Khánh đặt bản doanh Bộ Tổng Tư Lệnh ở tòa nhà trắng Vũng Tàu. Tòa nhà này, người dân địa phương thường gọi là "bạch dinh". Hằng ngày, tôi dùng phi cơ nhỏ mang công văn của Bộ Tổng Tư Lệnh từ Sài Gòn ra Vũng Tàu trình ông, xong là quay về Sài Gòn. Ngày hai buổi sáng chiều, tôi đi đều đều như vậy. Ðôi khi có công văn gấp, tôi phải đi ngay dù là ngày chủ nhật hay nghỉ lễ. Thường thì tôi sử dụng chiếc phi cơ L20 do anh bạn cùng khóa với tôi lái. Anh Nguyễn Xuân Lễ, sau khi ra trường thời gian ngắn thì anh chuyển sang Không Quân. Hiện (2006) anh định cư tại Houston.

Trong một chuyến bay trên chiếc vận tải C7 (Caribou) từ Vũng Tàu về Sài Gòn, bị quân cộng sản bắn lên và Ðại Úy Long ngồi cạnh tôi bị trúng đạn xuyên từ dưới mông lên vai, và chết liền. Không biết chúng bắn bao nhiêu viên đạn nhưng chỉ có 1 viên trúng phi cơ và đã gây tử thương một sĩ quan mới tái ngũ vài tháng trước đó, và đang phục vụ tại Bộ Tổng Tư Lệnh. Hôm ấy, chiếc L20 tu bổ, tôi ôm công văn quá giang chiếc L19 ra Vũng Tàu, và lại quá giang chiếc C7 nói trên trở về Sài Gòn.

Quí vị nghĩ xem, ông Tổng Tư Lệnh giận ông Ðại Sứ của nước "chi tiền", dời văn phòng xa hơn trăm cây số, để lại đằng sau cả một bộ tham mưu đầu não của quân đội hơn 600 ngàn người đang từng giờ chiến đấu chống cộng sản. Cho nên có những việc mà vị Trưởng Phòng cần trình bày trực tiếp với vị Tổng Tư Lệnh cũng chỉ dùng điện thoại mà điện thoại thì không hoàn toàn bảo mật được! Phải chăng Trung Tướng Khánh là vị lãnh đạo quốc gia xem chính trường như sân khấu? Ðồng ý chính trường cũng là một loại sân khấu, nhưng nền tảng của sân khấu là nghệ thuật dựng lại những góc cạnh của cuộc sống, trong khi chính trường là nơi thể hiện tài năng, kinh nghiệm, bản lãnh, của người lãnh đạo xây dựng cuộc sống đó. Sở dĩ tôi nói đến "sân khấu" là vì trong năm 1964, nhiều báo chí tại Sài Gòn nói Trung Tướng Khánh có dòng máu nghệ sĩ.

Xin mở ngoặc. Trong cuộc đàm thoại tối ngày 21/10/2003, cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm từ Virginia nói với tôi liên quan đến đoạn trên đây, như sau:

"Chú có biết tại sao ông Khánh với ông Taylor giận nhau hông?

"Dạ không".

"Tại vì ông Khánh chửi ông Taylor (Ðại Sứ Hoa Kỳ) về vụ ông Ðức (Trung Tướng Dương Văn Ðức) biểu dương lực lượng đó. Ông Khánh nói với tôi như vậy sau khi ổng bị đuổi khỏi Việt Nam qua Hoa Kỳ ở với tôi mấy ngày".

Xin đóng ngoặc lại.

Ngày 16/02/1965, Trung Tướng Khánh ra phi trường chậm hơn nửa tiếng đồng hồ, điều mà ít khi xảy ra. Sau khi phi cơ lên đến độ cao để trực chỉ Qui Nhơn, ông ngưng tay duyệt công văn và quay sang tôi:

"Tôi vừa thành lập xong chánh phủ".

"Thủ Tướng Trần Văn Hương còn không, thưa Trung Tướng?

"Bác sĩ Phan Huy Quát thay ông Hương rồi. Với tôi thì mọi việc chẳng có gì khó khăn cả".

Nụ cười của ông lúc bấy giờ nếu cựu Thủ Tướng Hương trông thấy chắc là dễ tức lắm cho dù giáo sư Hương có tiếng là người trầm tĩnh. Tôi không rõ nguyên nhân thay đổi Thủ Tướng, chỉ nghe Trung Tướng Khánh nói rằng:

"Trong giai đoạn này mà làm mất lòng tôn giáo thì không thể chấp nhận được".

Ông là Trung Tướng, với chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Ðội, "đã" ngang nhiên chỉ định Thủ Tướng trong khi Quốc Trưởng vẫn tại chức, lại còn tự cho mình là người giải quyết công việc quốc gia nhanh chóng nữa!

Ðến Qui Nhơn, không có phi cơ về Sài Gòn nên tôi phải ở lại. Tình hình quân sự tại tỉnh Bình Ðịnh ngày càng xấu đi, đến nỗi đêm hôm đó mọi người phải ngủ tại hầm chiến đấu. Tôi sang Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận ngủ nhờ hầm chiến đấu của Bộ Chỉ Huy này. Lúc ấy, Tỉnh Trưởng Bình Ðịnh là Trung Tá Lê Trung Tường. Thiếu Tá Trương Bảy là Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận. (Về sau, Trung Tá Tường là Chuẩn Tướng quân đội, Thiếu Tá Bảy là Chuẩn Tướng cảnh sát).

Sáng hôm sau, cả đoàn dùng trực thăng bay vào Nha Trang. Sau khi thăm Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt mà Chuẩn Tướng Ðoàn Văn Quảng là Tư Lệnh, Trung Tướng Khánh bay ngược ra Vũng Rô, nơi mà hôm trước Hải Quân và Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã bắn chìm chiếc tàu của quân cộng sản chở vũ khí từ ngoài bắc xâm nhập vào. Nói cho đúng, chiếc tàu này bị Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ phát hiện và liên tục theo dõi, đến khi vào duyên hải Việt Nam Cộng Hòa thì họ báo cho Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa biết. Kết quả là tàu địch bị đánh chìm. Khi trực thăng lượn nhiều vòng trên không phận Vũng Rô, tôi nhìn thấy dòng chảy của nhiên liệu từ chiếc tàu chìm phía dưới loang dài trên mặt biển. Lực lượng Người Nhái của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đang trục vớt vũ khí lên tàu, trong khi lực lượng của Quân Ðoàn II đang hành quân lục soát trong khu vực núi Ðá Bia, lân cận Vũng Rô. Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Tư Lệnh Quân Ðoàn II tin rằng, trong khu vực này có thể có kho tồn trữ của quân cộng sản. Chỉ trong ngày 17/2/1965, cả hai lực lượng thu được hơn 1000 khẩu súng đủ loại, tất cả hoàn toàn mới nguyên được bao bọc trong giấy dầu cẩn thận.

Theo nhận định của Phòng Nhì/Bộ Tổng Tư Lệnh, hơn một năm qua, với những bất ổn chính trị trong nội tình Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, quân cộng sản miền bắc đã lợi dụng "khoảng trống an toàn" đó để gia tăng vận chuyển đơn vị chính qui và vũ khí đạn dược vào lãnh thổ chúng ta bằng đường bộ dọc dãy Trường Sơn và đường thủy dọc duyên hải từ bắc vào. Những lần trước, số vũ khí đạn dược tịch thu được ở cửa sông Bồ Ðề tỉnh An Xuyên (Cà Mau), bờ biển Ba Ðộng tĩnh Vĩnh Bình (Trà Vinh). Vụ Vũng Rô này là lần thứ 3 tịch thu được số lượng vũ khí quan trọng .

Khi chánh thức cầm quyền sau cuộc đảo chánh thành công, với một Thông Ðiệp quan trọng, Trung Tướng Khánh chánh thức lên tiếng kêu gọi các quốc gia đồng minh giúp Việt Nam Cộng Hòa chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, điều mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã không làm theo ý muốn của Hoa Kỳ. Nhưng liệu có phải Thông Ðiệp mà Trung Tướng Khánh tuyên đọc là do Hoa Kỳ trao cho ông hay chánh phủ của ông chủ động viết bản văn đó? Nhìn theo góc độ quân sự, cho dù Hoa Kỳ có cần thực hiện "chiến lược Domino" bằng cách thiết lập các căn cứ quân sự trên đất nước chúng ta hay không thì sự hiện diện của quân bộ chiến Hoa Kỳ, trong một mức độ nào đó thật sự là cần thiết.

Trong khi áp lực quân sự từ phía quân cộng sản ngày càng xấu đi thì tình tình chính trị tại thủ đô Sài Gòn vẫn trong tình trạng rối ren. Tuy là Quốc Trưởng với Thủ Tướng đều là dân sự, nhưng thực chất thì quyền hành vẫn trong tay Trung Tướng Khánh. Các nhà chính trị vẫn thường tổ chức những cuộc hội họp mít tinh nhằm tạo áp lực đòi Trung Tướng Khánh rút lui thật sự, vì vậy mà Trung Tướng Khánh luôn luôn lo sợ một ngày "xấu trời" nào đó ông sẽ bị đảo chánh bởi lực lượng quân sự. Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đã lưu vong từ tháng 10/1964, và Trung Tướng Dương Văn Minh cũng lên đường lưu vong 2 tháng sau đó, nhưng điều đó không có nghĩa là "họa đảo chánh" không còn.
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 15:41 Collapse   Print  
- bốn -

Ðảo Chánh
ngày 19 tháng 2 năm 1965

*****

Sáng sớm chủ nhật, 19 tháng 2 năm 1965, tiếng súng nổ ở hướng Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô, hướng căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, và hướng Bộ Tổng Tư Lệnh. Tôi lái xe xuống Biệt Khu Thủ Ðô vì gần nhà. Ðường Lê văn Duyệt từ Chợ Ông Tạ đến "trại Lê Văn Duyệt" (tức Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô) phải hơn nửa tiếng đồng hồ vì kẹt xe. Ðến cổng trại, tôi gặp ngay Thiếu Tá Lưu Ngọc Kỉnh -bạn tôi từ năm 1955- đang là Tiểu Ðoàn Trưởng thuộc Sư Ðoàn 25 Bộ Binh, có nhiệm vụ chiếm giữ Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô:

"Chào anh Kỉnh. Ông nào lãnh đạo vậy anh?

"Anh Hoa, lâu quá mới gặp. Thiếu Tướng Phát (Lâm Văn Phát) lãnh đạo đó".

"Bây giờ Thiếu Tướng đi với cánh quân nào anh biết không?

"Thiếu Tướng lên hướng căn cứ Không Quân và tôi đoán là ổng đang ở trên đó".

"Tôi nghe có tiếng súng bên hướng Bộ Tổng Tư Lệnh. Vậy bên đó có lực lượng nào không anh?

"Có. Trung Tá Thao với 2 Tiểu Ðoàn chiếm giữ bên đó. Nè, anh nói giùm với Trung Tá Thao là tôi đến đây rồi mà chưa có lệnh gì thêm, với lại không có tiếp tế thực phẩm cho anh em. Anh nói Trung Tá Thao liên lạc với tôi và đem tiếp tế đến đây giùm nghe".

"Sao anh không gọi máy nói chuyện với ảnh?

"Lệnh im lặng vô tuyến chưa giải tỏa nên không dùng máy. Thôi, anh đi giùm đi".

"Ðược rồi. Tôi sang Bộ Tổng Tư Lệnh ngay. Chào anh".

Chiếc Jeep phải lách mãi mới quay lại được đường Thoại Ngọc Hầu và chạy sang Bộ Tổng Tư Lệnh. Tại cổng số 1, Quân Cảnh Bộ Tổng Tư Lệnh kiểm soát chặt chẽ người lẫn và xe ra vào cổng. Bên trong, hầu hết là quân nhân mang phù hiệu Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Trước cửa văn phòng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tư Lệnh, tôi gặp Trung Tá Lê Hoàng Thao.

Ðầu năm 1962, anh là Thiếu Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Vĩnh Bình trong thời gian Ðại Tá Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu Chiến Thuật Hậu Giang bao gồm 8 tỉnh bờ nam sông Tiền, kể cả tỉnh Vĩnh Bình. Lúc ấy tôi là Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, kiêm điều hành văn phòng Ấp Chiến Lược của Khu Chiến Thuật Hậu Giang. Do công tác này mà tôi tiếp xúc thường xuyên với quí vị Tỉnh Trưởng đang trắc nghiệm Ấp Chiến Lược, từ đó chúng tôi quen nhau.

"Anh Thao. Hôm nay trông anh oai quá".

"Oai cái gì. Mệt quá trời đây nè".

"Anh Kỉnh cần liên lạc với anh và xin anh lo tiếp tế cho Tiểu Ðoàn của ảnh bên Biệt Khu Thủ Ðô đó".

"Giờ này làm sao tôi lo được, bên đó phải tự túc chớ. Ðược rồi, tôi sẽ gọi ảnh".

"Thiếu Tướng Phát ở đâu anh Thao?

"Bên căn cứ Không Quân. Ổng bắt được ông Khánh rồi (ý nói Trung Tướng Nguyễn Khánh). Tôi cho anh biết là có ông Thảo bên Mỹ về làm vụ này đó nghe. Xong là "sếp" về ngay".

"Sếp" mà Trung Tá Thao vừa nói có nghĩa là Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đang là Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Còn ông Thảo, tức Trung Tá Phạm Ngọc Thảo. Trước kia ông Thảo bên hàng ngũ cộng sản về "hồi chánh" thời Tổng Thống Diệm. Với mức độ tin cậy nào đó, Tổng Thống Diệm đồng hóa cấp Ðại Úy cho ông và cử ông giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Kiến Hòa (tức Bến Tre), một địa phương mà đa số đồng bào có thân nhân hoạt động trong hàng ngũ cộng sản. Do thành tích triệt hạ nhiều hạ tầng cơ sở cộng sản tại đây nên được tiến cấp Thiếu Tá, sau đó lại lên Trung Tá (cấp đồng hóa khi được thăng cấp gọi là "tiến cấp"), và do đề nghị của Trung Tá Thảo mà Thiếu Tá Thao được Tổng Thống cử giữ chức Tỉnh Trưởng tỉnh Vĩnh Bình. Trung Tá Thảo có vẻ như được lòng của Ðại Tá Khiêm, có thể vì ông được Tổng Thống Diệm nâng đỡ, cũng có thể do thành tích của Trung Tá Thảo tại Kiến Hòa, hoặc cả hai kết hợp lại. Nhưng có điều tôi không rõ là Ðại Tá Khiêm có cảm tình với Trung Tá Thảo là thật lòng hay vì yếu tố chính trị? Bởi, theo tôi, Ðại Tá Khiêm là người ít nói nhưng không phải là kém thận trọng, vì dù sao đi nữa thì những gì Trung Tá Phạm Ngọc Thảo đạt được trong thời gian qua, vẫn chưa đủ sức bôi xóa được nguồn gốc quá khứ của ông, để tạo cho ông chỗ đứng vững chắc trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trung Tá Thảo đang làm việc trong tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Do những điều tôi biết về Ðại Tướng Khiêm đến trước ngày ông lưu vong (7/10/1964) thì tôi không tin Ðại Tướng Khiêm phái Trung Tá Thảo về đây tổ chức đảo chánh. Nhưng có thể là nhận thức của tôi sai lầm, vì biết đâu quan điểm chính trị của Ðại Tướng Khiêm từ ngày lưu vong đến nay -dù chưa đầy 5 tháng- đã thay đổi? Dù sao thì Trung Tá Phạm Ngọc Thảo -theo lời Trung Tá Thao- cũng đang có mặt trong cuộc đảo chánh này vẫn làm tôi thắc mắc.

Ðến đây tôi xin mở ngoặc để thuật lại câu chuyện liên quan giữa tôi với cựu Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm trong cuộc điện đàm tối 21 tháng 10 năm 2003. Sau khi ông hỏi tôi những chi tiết trong cuộc đảo chánh này, tôi liền hỏi lại ông: (trong câu chuyện, cựu Ðại Tướng Khiêm xưng là anh Tư và ông gọi tôi là chú, tôi thì xưng em)

"Thưa anh Tư, em xin hỏi anh Tư trong vụ Thiếu Tướng Phát đảo chánh ngày 19 tháng 2 năm 1965, theo lời Trung Tá Lê Hoàng Thao nói với em là có Trung Tá Phạm Ngọc Thảo từ tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ về tham gia, dự trù khi thành công thì anh Tư về cầm quyền. Ðiều đó có đúng không anh Tư?

"Trời ơi! Bây giờ chú hỏi Anh mới biết là tại sao lúc đó mấy anh nhà báo của Mỹ nhất là tờ Washington Post theo phỏng vấn Anh. "Họ hỏi Anh biết gì về cuộc đảo chánh đó? Anh trả lời là Anh không biết gì hết, và đang chờ tin tức từ Việt Nam. Còn cái vụ ông Thảo về Việt Nam là do ông Khánh (Trung Tướng Nguyễn Khánh) gởi công điện gọi ông Thảo về gấp đó. Anh có nghe nói khi ông Thảo về tới phi trường Tân Sơn Nhất, được người nào đó cho biết là ông Khánh đã phái người chận bắt ông Thảo đem đi giết, nên người đó giúp ông Thảo chạy trốn luôn. Về sau, bị nhóm nào đó bắt được và giết chết".

"Vậy thì lời của Trung Tá Lê Hoàng Thao đã không đúng".

Và cựu Ðại Tướng Khiêm hỏi lại tôi:

"Chú có biết là tại sao ông Phát (Thiếu Tướng Phát) đảo chánh ông Khánh (Trung Tướng Khánh) bị thất bại, mà ông Khánh lại lưu vong hông? Ông Phát thua thì phải rồi, còn ông Khánh tại sao thua? Hồi ông Khánh qua ở đây với Anh (Ðại Tướng Khánh có đến nhà Ðại Tướng Khiêm khi ông Khiêm giữ chức Ðại Sứ tại Hoa Kỳ), Anh có hỏi ổng:

"Tại sao ông Phát thua mà Anh cũng thua nữa? Ông Khánh cười cười mà không trả lời.

"Ðiều này em không biết rõ, chỉ biết rằng Hội Ðồng Quân Ðội lúc ấy có Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, và còn nữa nhưng người kể lại cho em nghe thì không nhớ hết, các vị quyết định Thiếu Tướng Phát phải lui quân. Và các vị lại họp tiếp và quyết định trục xuất Trung Tướng Khánh ra khỏi Hội Ðồng Quân Ðội, cách chức Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và buộc lưu vong".

"Anh có gặp Thiếu Tướng Phát khi ổng qua Mỹ này, Anh hỏi ổng tại sao ổng đảo chánh hồi năm 1965. Ông Phát trả lời thật ngắn là "Mỹ xúi". Anh thấy chuyện đời mà buồn! Chú có biết là Anh (tức cựu Ðại Tướng Khiêm), ông Khánh, ông Ðức (Dương Văn), và ông Phát, bốn đứa Anh cùng học một khóa không? Vậy mà khi lên Tướng lại quay mặt đánh nhau! Chú có thấy chính trị nó làm mất tình cảm giữa anh em bè bạn với nhau không!

"Thưa anh Tư, em còn nhớ vào chiều ngày 6 tháng 10 năm 1964, khi chuẩn bị lưu vong, anh Tư gọi em đến nhà, anh đích thân đem bánh rót nước trà mời em. Anh Tư có nói rằng: "Tôi nói với chú cũng như mấy chú trong văn phòng, nếu như còn thương tôi thì đừng bao giờ làm chính trị, vì chính trị đôi khi dẫn người ta đến chỗ không còn giữ lại cho mình tình cảm với người thân, với bạn bè bằng hữu". Mà theo em nghĩ, chính trị tự nó không có gì là xấu cả, chỉ tại người làm chính trị thôi anh Tư".

Ðến đây thì cựu Ðại Tướng Khiêm bận việc gì gấp nên chấm dứt vội vàng. Một lúc sau ông gọi lại cho biết là có việc nên không tiếp tục được. Xin đóng ngoặc.

Trước khi trở lại câu chuyện giữa tôi với Trung Tá Lê Hoàng Thao, tôi xin nói thêm về sự kiện Trung Tá Phạm Ngọc Thảo bị bắt và bị giết. Ngày 18 tháng 1 năm 2004, đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại do ông Hồng Phúc phỏng vấn tôi về cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, nhưng ở phần đầu người xướng ngôn có đọc bức thư của ông Bùi Dzũng từ Paris (con trai của cựu Ðại Tá Bùi Dzinh). Theo đó thì khoảng tháng 7 năm 1965, Trung Tá Phạm Ngọc Thảo bị bắt và bị giết chết sau đó. Theo một vị đã trả lời trong cuộc phỏng vấn cũng của đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại, nguyên nhân là do bà Bùi Dzinh thường tới lui thăm nuôi chồng nên bị lộ tung tích. Lúc ấy cựu Ðại Tá Bùi Dzinh, cựu Ðại Tá Ðỗ Văn Diễn, và Trung Tá Phạm Ngọc Thảo, cùng trốn chung trong một ngôi nhà vùng ngoại ô Biên Hòa. Ông Dzũng cho biết, thật ra người đến thăm thường xuyên là bà Ðỗ Văn Diễn nên bị lộ tung tích chớ không phải bà Bùi Dzinh, tức mẹ của ông Dzũng. Cuối cùng, ông Dzũng yêu cầu đính chánh để mẹ ông được yên nghỉ trong lòng đất. (So với ấn bản lần 3, xin đính chánh theo yêu cầu của ông Bùi Dzũng, ông không phải là bác sĩ. Ða tạ)

Bây giờ xin tiếp tục câu chuyện. Tôi hỏi Trung Tá Lê Hoàng Thao:

"Anh có chắc là Trung Tướng Khánh bị bắt rồi không?

"Chắc chắn mà. Nói thiệt anh nghe, nếu không xong thì 2 trái lựu đạn này đủ giải quyết rồi anh".

Trung Tá Thao vừa nói vừa đưa 2 tay nắm vào 2 trái lựu đạn móc ở giây thắt lưng. Mặc dù anh Thao quả quyết việc Thiếu Tướng Lâm Văn Phát đã bắt được Trung Tướng Nguyễn Khánh nhưng tôi chưa dám tin, vì bắt Trung Tướng Khánh không phải dễ dàng đâu, bởi ông có toán an ninh cận vệ xứng đáng với sự tin cậy của ông.

Tôi lên xe với ý định xuống nhà Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Ðổng lý Văn Phòng Bộ Tổng Tư Lệnh. Vừa ra cổng Bộ Tổng Tư Lệnh, trông thấy xe của bác sĩ Trung Úy Nguyễn Ðức Thành (em ruột của Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Thắng. Cấp bậc lúc ấy), bác sĩ riêng của Trung Tướng Khánh, từ hướng phi trường xuống, tôi ngoắc lại:

"Anh Thành. Anh có biết Trung Tướng ở đâu không?

"Trung Tướng lên phi cơ đi rồi Thiếu Tá".

"Chắc không anh, vì tôi nghe ông Trung Ðoàn Trưởng đang chiếm giữ Bộ Tổng Tư Lệnh nói là Trung Tướng bị bắt rồi?

"Chắc chắn vì tôi đưa đi mà. Lúc phi cơ cất cánh có 2 chiếc Thiết Giáp chạy ra đường băng cản lại nhưng không kịp".

"Trung Tướng đi đâu anh biết không?

"Tôi không rõ lắm, nhưng có thể là bay xuống Sư Ðoàn 21 Bộ Binh (Bạc Liêu)".

"Bây giờ tôi xuống nhà Thiếu Tướng Vỹ, anh có đi với tôi không?

"Tôi bận chút việc, nếu tiện thì tôi đến sau".

"Vâng. Chào anh".

Vào nhà Thiếu Tướng Vỹ, hai ông bà rất thản nhiên chừng như không có việc gì xảy ra hết trơn.

"Lâu quá mới gặp anh. Anh chị mạnh khỏe chớ? Bà Vỹ thật vui khi nói với tôi như vậy.

"Cám ơn chị, tụi tôi vẫn thường thôi".

"Hôm nay anh ở đây dùng cơm với vợ chồng tôi à nghe. Ðây này, anh điện thoại về cho chị đi". Vừa nói chị vừa đưa ống nói điện thoại cho tôi.

"Rất cám ơn chị và xin lỗi chị, chúng tôi có thân nhân từ Vĩnh Long lên thăm, nên chốc nữa phải quay về dùng cơm trưa chị à".

Tôi vào chuyện nóng bỏng luôn:

"Thưa Thiếu Tướng, chắc Thiếu Tướng biết tin Trung Tướng Khánh đã xuống miền Tây rồi?

"Có. Tôi có biết".

Lúc ấy tôi nghĩ mãi không ra là do đâu mà Thiếu Tướng Vỹ biết nhanh như vậy. Tôi thuật lại những gì tôi với bác sĩ Thành nói chuyện với nhau cho ông bà Vỹ nghe, sau đó tôi chào ông bà và trở lại Bộ Tổng Tư Lệnh, tìm gặp Trung Tá Thao:

"Anh Thao, Trung Tướng Khánh đã rời Sài Gòn bằng phi cơ lúc sáng, điều đó là xác thực. Tôi nghĩ là anh nên trình với Thiếu Tướng Phát mà cẩn thận, vì Trung Tướng Khánh nhiều thủ đoạn lắm, tôi e là không ổn đâu nghe".

"Thiếu Tướng Phát nói với tôi là bắt ông Khánh rồi mà".

"Tôi không nói Thiếu Tướng Phát nói không đúng, nhưng anh nên nghe tôi vì tin tôi nhận được là chính xác. Tùy anh".

Tôi vào văn phòng và chờ xem nội vụ mà tôi tin là thất bại.

Buổi trưa hôm ấy, các vị Tướng Lãnh họp trong căn cứ Không Quân để tìm biện pháp giải quyết. Các vị nhiệt tình nhất là Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi. Kết quả buộc Thiếu Tướng Lâm Văn Phát phải rút quân.

Tôi nghĩ, Trung Tướng Khánh chắc là rất bằng lòng khi biết quyết định này, vì Hội Ðồng Quân Ðội thu hẹp dù không có ông nhưng đã giải quyết đúng theo ý ông. Nhưng, các vị Tướng lại họp nữa, và kết quả sau cùng là "trục xuất" Trung Tướng Khánh ra khỏi Hội Ðồng Quân Ðội, đồng thời buộc ông phải lưu vong.

Xin nói thêm rằng, sau cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, Thiếu Tướng Thi với Thiếu Tướng Kỳ là hai vị Tướng Lãnh ủng hộ Trung Tướng Khánh mạnh mẽ nhất, vì cả 3 vị này có cùng quan điểm là phải đánh ra Bắc mới giải quyết tận gốc chiến tranh. Mở cuộc chiến tranh vào lãnh thổ cộng sản miền Bắc là một quyết định chiến lược ngoài tầm tay và cả tầm vói của những vị lãnh đạo của chúng ta cho dù các vị đang nắm quyền lãnh đạo. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta được Hoa Kỳ cung cấp trang bị cho một khả năng phòng thủ, mà chỉ là phòng thủ diện địa chớ không có khả năng chống không quân của địch nữa. Với hoàn cảnh "trói tay" như vậy, quan niệm đánh ra Bắc chỉ là một chiến lược không tưởng, dù rằng quan niệm này không phải là quá sớm. Nhưng dù sao thì những vị Tướng của chúng ta có một quan niệm chiến lược như vậy cũng là điều đáng mừng, vì bộc lộ một trách nhiệm cao độ trong chiến tranh gìn giữ quê hương.

Khi biết mình bị loại ra khỏi Hội Ðồng Quân Ðội, Trung Tướng Khánh gọi về văn phòng:

"Anh Hoa, anh tìm xem ông Ðại Sứ Mỹ ở điện thoại nào và trình tôi ngay".

"Trung Tướng đang ở đâu vậy?

"Vũng Tàu".

"Vâng. Tôi thi hành".

Sau khi tìm mãi không được, tôi điện thoại trình Thiếu Tướng Vỹ thì ông cho biết là Trung Tướng Khánh vừa liên lạc với ông Ðại Sứ Mỹ rồi. Và theo Thiếu Tướng Vỹ biết thì ông Ðại Sứ cho rằng, người Mỹ không can thiệp vào vấn đề chính trị nội bộ của Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều này được hiểu là Trung Tướng Khánh không còn lối nào để thoát. Vậy là con đường lưu vong mà Trung Tướng Khánh thiết lập cho Ðại Tướng Khiêm "khánh thành", kế đó là Trung Tướng Dương Văn Minh trong chức "đại sứ lưu động", và bây giờ chính ông là người lữ hành đơn độc trên con đường mà chính ông chỉ muốn dành riêng cho những vị Tướng mà ông xem như "kẻ thù". Tôi nghĩ, Trung Tướng Khánh không ngờ rằng, tên ông cũng có trong danh sách những vị một thời là "nạn nhân quyền lực" của chính ông!

Xin mở ngoặc để ghi lại lời thuật của anh Vờ Văn Nghi, vào một tối cuối tháng 11 năm 2003 tại thành phố Houston. Anh là bạn tôi, và anh đồng ý cho tôi bổ túc vào ấn bản lần 4 này.

Anh Võ Văn Nghi, tốt nghiệp khóa 10 Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt năm 1954. Cấp bậc sau cùng (năm 1975) là Thiếu Tá, binh chủng Truyền Tin. Năm 1964, anh là Ðại Úy Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn Truyền Tin/Bộ Tổng Tư Lệnh. Anh được cử vào chức vụ Sĩ Quan Truyền Tin/Phủ Thủ Tướng, với nhiệm vụ chính là cung cấp mọi dịch vụ liên lạc vô tuyến khi tháp tùng theo Trung Tướng Nguyễn Khánh. Cùng trong toán Truyền Tin lưu động với anh còn có Ðại Úy Lê Văn Hòa. Anh Nghi với anh Hòa, luân phiên nhau trực đi theo Trung Tướng Khánh. Ngoài Ðại Úy Nghi hoặc Ðại Úy Hòa tùy phiên trực, trong toán Truyền Tin lưu động này còn có một Trung Sĩ và một Hạ Sĩ chuyên viên sử dụng máy WM2.

Giải thích của Phạm Bá Hoa: Ngày 1/11/1964, Trung Tướng Khánh đã tấn phong chánh phủ Trần Văn Hương, sau đó là chánh phủ Phan Huy Quát. Như vậy, Trung Tướng Khánh không còn ngồi trong Phủ Thủ Tướng nữa, nhưng theo lời anh Nghi thì Trung Tướng Khánh vẫn sử dụng bộ phận Truyền Tin của Phủ Thủ Tướng, vì cơ quan này có trang bị máy vô tuyến WM2, loại máy liên lạc được với tất cả các cơ quan hành chánh cũng như tất cả các đơn vị quân đội trên toàn quốc. Do vậy mà anh Nghi thuộc đơn vị Truyền Tin/Phủ Thủ Tướng. Ðiều này cũng được hiểu là khi bàn giao chức vụ Thủ Tướng, Trung Tướng Khánh vẫn giữ nguyên toán truyền tin đặc biệt và lưu động này theo ông, như là toán biệt phái đặc biệt. Hết phần giải thích.

Ngày 19 tháng 2 năm 1965, khi lực lượng Sư Ðoàn 25 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lâm Văn Phát điều động xâm nhập tiến chiếm một số cơ quan trọng yếu trong thủ đô Sài Gòn, thì anh Nghi đang bận việc ngoài phố dù là anh đang trong phiên trực, vì vậy mà anh không kịp đi theo Trung Tướng Khánh khi ông dùng phi cơ C47 dành riêng cho ông để thoát khỏi Sài Gòn. Sau đó, toán Truyền Tin của anh bên cạnh Trung Tướng Khánh báo tin cho anh hay, lúc ấy Trung Tướng Khánh đã đến Vũng Tàu. Và đây là lời của cựu Thiếu Tá Võ Văn Nghi:

''Nghe nhân viên báo tin, tôi vội dùng xe Jeep với bảng số dân sự chạy ra Vũng Tàu. Ðến nơi, thì phi cơ cất cánh đi nữa rồi nhưng chưa rõ đi đâu. Tôi quay về Sài Gòn. May quá, được tin từ toán Truyền Tin lưu động cho biết là Trung Tướng Khánh sẽ đến Biên Hòa họp với các vị Tướng Lãnh ở đó. Tôi chạy lên Biên Hòa, lúc ấy Trung Tướng Khánh chưa đến. Thiếu Tướng Kỳ trông thấy tôi, ổng nói:

"Giờ này mà anh còn đi theo ông Khánh làm gì nữa".

Ngưng một lúc để moi thêm trí nhớ, anh Nghi nói tiếp:

"Trung Tướng Khánh đến. Vào phòng họp, nhưng tôi không được vô. Một lúc sau, anh cận vệ bước ra nói với tôi là Thiếu Tướng Kỳ (Nguyễn Cao Kỳ) với Thiếu Tướng Thi (Nguyễn Chánh Thi) muốn Trung Tướng Khánh từ chức liền, nhưng Trung Tướng Khánh không đồng ý vì ông cho rằng, vụ chiếc tàu của cộng sản chở vũ khí đạn dược xâm nhập Việt Nam Cộng Hòa bị đánh chìm tại Vũng Rô (tỉnh Khánh Hòa, ngày 16/2/1965), đang là vấn đề quan trọng cần phải nghiên cứu để có biện pháp thích ứng với tình hình. Sau đó, Trung Tướng Khánh ra sân bay. Lên phi cơ. Tôi đi theo. Trung Tướng Khánh ra lệnh Ðại Úy Ðoàn, trưởng phi hành đoàn, bay ra Vũng Tàu (giải thích của Phạm Bá Hoa: từ đây, Trung Tướng Khánh gọi về văn phòng bảo tôi tìm ông Ðại Sứ Hoa Kỳ cho ông liên lạc như tôi đã thuật ở trên).

Anh Nghi thuật tiếp:

"Khoảng giữa đêm, Trung Tướng Khánh ra lệnh tất cả lên phi cơ, cất cánh ra Nha Trang. Trước khi đáp xuống Nha Trang, ổng bảo tôi gọi cho ổng nói chuyện với ông Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh (dường như là Thiếu Tướng Lữ Lan). Tôi liên lạc được, nhưng khi trao ống nói cho Trung Tướng Khánh thì đầu máy bên kia không nói nữa. Lúc ấy phi cơ đáp phi trường Nha Trang. Trung Tướng Khánh và tùy tùng xuống phi cơ thì bị một toán Không Quân võ trang bao vây. Trung Tướng Khánh chưa có phản ứng gì thì Thượng Sĩ Ngàn trong phi hành đoàn, dõng dạc nói với toán Không Quân rằng: "Ðây là chuyện của những vị Tướng Lãnh, mấy chú không được hành động gì với Trung Tướng (Khánh) cả". Thế là toán Không Quân giải tán. Thật sự thì tôi không biết Thượng Sĩ Ngàn là người như thế nào trong Không Quân mà lời nói của ổng được toán quân nhân võ trang này nghe theo, nếu không thì tôi cũng chưa biết việc gì xảy ra nữa".

Ngưng một lúc, anh Nghi thuật tiếp:

"Trung Tướng Khánh bảo tôi liên lạc với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ để ổng nói chuyện. Tôi liên lạc được với Thiếu Tướng Kỳ và xin ổng chờ nói chuyện với Trung Tướng Khánh, nhưng khi tôi trao ống nói cho Trung Tướng Khánh thì Thiếu Tướng Kỳ không nói nữa. Giống như trường hợp liên lạc với Thiếu Tướng Lữ Lan (?).Như vậy có lẽ là trung ương đã thông báo cho các đại đơn vị rồi, ít ra cũng là Sư Ðoàn 25 Bộ Binh tại Quảng Ngãi (giải thích của Phạm Bá Hoa: lúc thành lập, Sư Ðoàn 25 Bộ Binh đồn trú tại Quảng Ngãi, về sau di chuyển vào Củ Chi, Hậu Nghĩa). Khoảng 2 giờ sáng (ngày 20/2/1965), Trung Tướng Khánh ra lệnh mọi người lên phi cơ và cất cánh lên Ðà Lạt. Căn cứ Không Quân Nha Trang không cho phi cơ cất cánh, nhưng Trung Tướng Khánh bảo cứ cất cánh, và phi cơ rời khỏi đường băng an toàn. Ðại Úy Ðoàn, trưởng phi cơ báo cáo có hai chiếc khu trục AD6 đã cất cánh từ Sài Gòn ra, có thể là họ đuổi theo chiếc phi cơ này. Trung Tướng Khánh bảo tắt đèn và bay thấp, đổi hướng đi Hong Kong. Nhưng vài phút sau đó, Trung Tướng Khánh bảo quay lại và bay lên Ðà Lạt, đừng đáp Liên Khàng mà đáp sân bay Cam Ly (giải thích của Phạm Bá Hoa: Cam Ly là phi trường nhỏ, sát ngoại ô thành phố Ðà Lạt). Phi cơ bay không đèn, sân bay cũng không đèn, cũng may là trời có trăng nên đáp an toàn. Tôi gọi mấy anh trong biệt điện đem xe dodge ra đón một cách lặng lẽ. Trung Tướng Khánh cho Ðại Úy Ðoàn 20.000 đồng như để khen thưởng anh điều khiển phi cơ đáp an toàn trong đêm tối, rồi ông bảo mọi người nghỉ ngơi.

Tôi hỏi anh Nghi:

"Theo anh thì liệu có giới chức nào ở Ðà Lạt biết Trung Tướng Khánh đến đây không?

"Tôi chắc là không ai biết đâu. Khoảng 10 giờ 30 trưa, anh Truyền Tin gọi tôi dậy vì Trung Tướng Khánh bảo tôi vào phòng gặp ông gấp, và ông ra lệnh: Anh (Ðại Úy Võ Văn Nghi) thảo công điện gởi về Sài Gòn và phổ biến ngay, nói là tôi đồng ý thoái vị. Ðồng thời yêu cầu các đơn vị đảo chánh hãy trở về vị trí".

Tôi xin anh dừng lại để nêu câu hỏi cho rõ:

"Anh có nhớ rõ là Trung Tướng Khánh nói thoái vị hay nói từ chức?

Anh Nghi lặp lại:

"Trung Tướng Khánh nói thoái vị. Lúc ấy tôi thấy khó quá, vì đây là bản văn rất quan trọng mà ổng bảo tôi viết rồi gởi luôn. Tôi trình Trung Tướng Khánh:

"Xin Trung Tướng viết và tôi chuyển ngay".

"Anh viết là được rồi". Lời của Trung Tướng Khánh.

"Dạ, tôi viết rồi trình Trung Tướng ký".

"Không cần. Viết xong anh chuyển đi ngay".

"Viết xong tôi gọi về Truyền Tin Phủ Thủ Tướng và đọc "bạch văn" luôn. Tôi yêu cầu phổ biến ngay trên các đài phát thanh. Sau đó thì Trung Tướng Khánh trở về Sài Gòn. Ông có yêu cầu Bộ Tổng Tư Lệnh phải để cho các quân nhân phục vụ trực tiếp cạnh ông lâu nay, được chọn đơn vị phục vụ. Và tôi trở về chức vụ Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn Truyền Tin/Tổng Tư Lệnh".

Ðến đây là hết phần tường thuật của cựu Thiếu Tá Võ Văn Nghi. Xin đóng ngoặc và trở lại với Hội Ðồng Quân Ðội.

Lời yêu cầu sau cùng của Trung Tướng Khánh là xin Hội Ðồng Quân Ðội cử ông giữ chức Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Tây Ban Nha, Hội Ðồng Quân Ðội không đồng ý. Nhưng theo lời trình của Hội Ðồng Quân Ðội, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu ký Sắc Lệnh thăng cấp Ðại Tướng cho Trung Tướng Nguyễn Khánh. Phải chăng đây là hành động của Hội Ðồng Quân Ðội an ủi Ðại Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong?

Dường như Ðại Tướng Khánh "suy bụng ta ra bụng người" khi ông xin chức Ðại Sứ, vì biện pháp mà ông loại trừ Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm với Trung Tướng Dương Văn Minh là ông cử đi làm "Ðại Sứ lưu động" là xong. Một chức vụ tưởng như thưởng nhưng thật ra là phạt. Chức "Ðại Sứ lưu động" là một chức vụ nghe rất lớn vì không phải chỉ làm Ðại Sứ tại một quốc gia mà là nhiều quốc gia, chỉ tội một điều là không có tòa đại sứ, không xe không nhà, cũng không tùy tùng hay cận vệ, bởi chức vụ này chỉ dành cho những vị Tướng sa cơ thất thế! Cũng vì vậy mà báo chí thường nửa đùa nửa thật khi ví von câu: "được làm vua, thua làm đại sứ". Trong nửa năm qua (1964) sự thật là như vậy, nhưng sự thật này đã hạ thấp vai trò và trách nhiệm của những vị Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa trên chính trường quốc tế, và làm đau lòng những ai hằng quan tâm đến Quốc Gia Dân Tộc!

Ngày 25 tháng 2 năm 1965, Ðại Tướng Nguyễn Khánh rời Việt Nam tự đi làm "đại sứ lưu động" ở đâu đó. Trước khi lên phi cơ, Ðại Tướng Khánh thể hiện "lòng yêu nước thương dân" của ông bằng cách hốt nắm đất cho vào cái túi nhỏ mà ông gọi là "nắm đất quê hương" để mang theo trên đường "nhậm chức đại sứ". Ðến đây xem như xong màn bi hài kịch của một nghệ sĩ trình diễn. Nhưng khổ nỗi, nếu như nghệ sĩ tồi thì chỉ những khán giả thiệt hại về tiền bạc, về công sức, về thời gian, còn trường hợp Ðại Tướng Khánh trong 4 chức vụ lãnh đạo cao nhất với những quyền uy tột đỉnh của đất nước Việt Nam: Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng + Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông đã gây tổn hại tinh thần, tổn hại nền nếp kỷ cương của quân đội, tổn hại uy tín quốc gia trên chính trường quốc tế, kể cả kẻ thù từ quốc gia phía bắc vĩ tuyến 17!

Theo tôi, giá mà Ðại Tướng Nguyễn Khánh giữ những chức vụ lãnh đạo quân đội, điều binh khiển tướng ở chiến trường thì thích hợp với ông hơn là nắm giữ chức vụ lãnh đạo quốc gia. Thật ra, Ðại Tướng Khánh có phong cách và cái uy của vị Tướng xông pha trận mạc. Trong cách nhìn nào đó sau khi để qua một bên về khía cạnh chính trị và những gì thuộc về riêng tư, Ðại Tướng Nguyễn Khánh, Ðại Tướng Cao Văn Viên, và cố Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí, mỗi vị có cách riêng của mình trong nghệ thuật lãnh đạo chiến tranh, và cả ba vị đều là Tướng Lãnh rất xứng hợp trong vai trò lãnh đạo và chỉ huy quân đội trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc.

Tiếc thay, chỉ hơn một năm cầm đủ thứ quyền trong tay, Ðại Tướng Khánh đã làm rối loạn nền nếp sinh hoạt chính trị lẫn kỷ cương quân đội. Phải công nhận Ðại Tướng Khánh làm được nhiều việc, nhưng cái cốt lõi của vai trò lãnh đạo là đem lại sự đoàn kết mọi thành phần trong xã hội thành một khối để toàn dân một lòng gìn giữ quê hương, thì kết quả ngược lại. Liệu chúng ta có nên qui một phần trách nhiệm tinh thần cho Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm khi đưa Ðại Tướng Nguyễn Khánh từ Tư Lệnh Quân Ðoàn I lên đến chức vụ lãnh đạo quốc gia hay không, cho dẫu sự tiếp tay đó là vô tình đã tạo môi trường và cơ hội cho Ðại Tướng Khánh thực hiện tham vọng chính trị? Nhưng nghĩ cho cùng, Ðại Tướng Khiêm đã bị Ðại Tướng Khánh bạc đãi đến mức hận thù rồi, không nên đè nặng lên tinh thần ông thêm nữa.

Xin nói thêm là cuối năm 1965, tôi nhận được bức thư dài 8 trang viết tay của Bà Trần Thiện Khiêm, 8 trang nhưng không có nghĩa là bức thư dài vì chữ viết của Bà rất to rất dễ đọc. Có đoạn Bà cho biết, dù đối xử không tốt với gia đình Bà, nhưng Ðại Tướng Khánh cùng với Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, (đã tử nạn trực thăng trong cuộc hành quân vượt biên năm 1970) đã đến Washington D.C. sống trong gia đình Bà hằng tháng trời dù Bà không mời, khi Bà viết câu: "khách không mời mà vẫn cứ đến cứ ở".

Hội Ðồng Quân Ðội cử Trung Tướng Trần Văn Minh giữ chức Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. (Trung Tướng Minh nói ở đây không phải Trung Tướng Trần văn Minh sau này là Tư Lệnh Không Quân). Chức vụ đứng đầu quân đội hơn 600 ngàn quân, một lần nữa không có ai bàn giao cho người nhận chức. Không quốc kỳ, không quân kỳ, không vị nào chủ tọa, cũng không sĩ quan nào tham dự, chỉ mỗi Trung Tướng Minh và vài sĩ quan thân cận vào nhận việc một cách lặng lẽ! Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mà "xuống giá" đến mức thảm thương như vậy đó! Thảm thương đến mức không bằng buổi bàn giao chức vụ Trung Ðội Trưởng bộ binh khi tôi tốt nghiệp Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức nữa, vì dù sao cũng có Trung Úy Ðại Ðội Trưởng của tôi -Trung Úy Nguyễn Văn Thảo- chủ tọa giao nhận đàng hoàng, có bắt tay chúc mừng thân mật, và cùng nâng chén nước trà bên bụi chuối tại khu vực hành quân trong vùng hẻo lánh thuộc Quận Tam Bình tĩnh Vĩnh Long vào thượng tuần tháng 2 năm 1955.

Ðây là lần thứ tư thay đổi chức vụ đứng đầu quân đội mà không có bàn giao. Lần thứ nhất ngay sau ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm thành công, Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhận chức ngày 2 tháng 11 năm 1963, lúc ấy Ðại Tướng Lê Văn Tỵ nằm quân y viện. Lần thứ nhì, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm nhận chức ngày 30 tháng 1 năm 1964, lúc ấy Trung Tướng Trần Văn Ðôn đã bị bắt. Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức ngày 7 tháng 10 năm 1964, lúc bấy giờ Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm vừa rời Việt Nam lưu vong.

Trung Tướng Minh không thay đổi tổ chức cũng như nhân viên văn phòng, ngoại trừ Ðổng Lý Văn Phòng và Bí Thư của ông. Rất có thể vì chức vụ của ông có chữ "Quyền" đứng trước có nghĩa là "tạm thời", nên ông không thay đổi gì cả, và ông cũng không hề thăm bất cứ một đơn vị nào, thậm chí ngay cả các Phòng của Bộ Tổng Tư Lệnh cũng không được ông ghé mắt vào nữa. Nhưng tại văn phòng, Trung Tướng Minh giải quyết công việc tương đối nhanh chóng và dứt khoát. Phải công nhận là ông xử sự với tất cả quân nhân viên chức rất lịch sự. Không bao giờ ông gọi anh này anh kia, mà bao giờ ông cũng dùng tiếng "vous" (tiếng Pháp) bất luận trước mặt ông là anh tùy phái hay vị sĩ quan.

Tôi không rõ thời oanh liệt của Trung Tướng Minh ra sao, nhưng trong chức vụ Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, ông không khác vị công chức sắp về hưu bao nhiêu, cứ như "sáng vác ô đi tối vác về" đều đặn như vậy trong mấy tháng ngồi trong phòng rộng lớn chính giữa tầng lầu 2 tòa nhà chánh của trại Trần Hưng Ðạo.

Bên phải bàn giấy của ông là những cửa kiếng nhìn xuống võ đình trường rộng lớn uy nghi, với cột cờ cao vời vợi mà trên đỉnh là lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ tung bay trong gió. Cũng từ đây nhìn bao quát là những dãy nhà 2 tầng với kiến trúc khang trang mang dáng vấp phương Tây, dùng làm các phòng sở cơ quan trực thuộc ẩn hiện dưới những tán cây nhiều bóng mát, tô điểm thêm những nét chấm phá cho bản doanh cơ quan cao nhất của quân đội: "Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Một cơ quan có đến 2.000 quân nhân viên chức, trong số có rất nhiều Tướng Lãnh và sĩ quan cao cấp. Chính nơi đây, những vấn đề chiến lược chiến thuật được các phòng sở cơ quan nghiên cứu, soạn thảo, ban hành về tổ chức, trang bị, huấn luyện, nuôi dưỡng, và điều khiển hành quân chống trả quân cộng sản xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa trong mục tiêu chiến lược bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới nói chung, và Việt Nam Cộng Hòa trong bối cảnh một Ðông Nam Á cộng sản nói riêng. Nhưng không biết là Trung Tướng Minh có khi nào đứng bên cửa sổ nhìn bao quát khuôn viên trại Trần Hưng Ðạo này, để mà thấy rõ trách nhiệm của người có đủ tư cách và quyền uy ngồi vào chiếc ghế Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?

Chức vụ Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Trung Tướng Trần Văn Minh, kéo dài đến một ngày tính ra chỉ được gần 4 tháng....
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 15:42 Collapse   Print  
- năm -

Quân Ðội Lãnh Ðạo Quốc Gia
ngày 19 tháng 6 năm 1965

*****

Từ ngày lên cầm quyền, gần như chẳng mấy khi giữa Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu với Thủ Tướng Phan Huy Quát đồng quan điểm về chính sách quốc gia. Không biết trước kia giữa hai vị có điều gì bất hòa nhau hay không, mà trong giai đoạn hai vị là người lãnh đạo cao nhất nước, đang gánh vác trách nhiệm quản trị quốc gia trong thời chiến, nhưng có vẻ như đang quay lưng vào nhau. Thật là đáng buồn!

Bác sĩ Phan Huy Quát nhận chức Thủ Tướng ngày 16 tháng 2 năm 1965. Hơn một tuần sau đó, Ðại Tướng Nguyễn Khánh rời Việt Nam (25/2/1965) lưu vong. Vào những ngày đầu trung tuần tháng 6 năm 1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát gởi đến Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tổng Trưởng Quốc Phòng, một văn thư quay roneo dài 2 trang giấy dầy, khổ 21x33 phân tây, có đóng dấu của Thủ Tướng. Văn thư này có thông báo Trung Tướng Trần Văn Minh, Quyền Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, và tôi đã đọc nó. Lúc ấy tôi là Thiếu Tá, Trưởng Phòng Quân Sự Vụ/Nha Ðổng Lý Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Xin được nhắc lại rằng, sau cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, Trung Tướng Nguyễn Khánh trong chức vụ Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng, hành sử chức năng Quốc Trưởng, đã ban hành Sắc Lệnh vào đầu tháng 4 năm 1964, hệ thống hóa tổ chức quân đội dưới danh xưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm: Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, và Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân. Trong khi đó, Bộ Tổng Tham Mưu trở thành Bộ Tổng Tư Lệnh, và văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng cũng biến cải lại thành Nha Ðổng Lý Bộ Tổng Tư Lệnh gồm: Phòng Quân Sự Vụ mà tôi là Trưởng Phòng. Phòng Dân Sự Vụ do Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng. Và Phòng Báo Chí do Thiếu Tá Tâm làm Trưởng Phòng. Với tổ chức và phương thức điều hành của Nha Ðổng Lý, hầu như tất cả Văn Thư của các Phòng Sở Bộ Tổng Tư Lệnh đều đến Phòng Quân Sự Vụ để trình vào Trung Tướng Tổng Tư Lệnh. Về tổ chức Nha Ðổng Lý, tôi nghĩ rằng, trong quân đội và ngay cả trong phạm vi Bộ Tổng Tư Lệnh, rất ít sĩ quan biết đến, vì đây là một tổ chức rất xa lạ với những sĩ quan tham mưu hiểu biết về cơ cấu tổ chức trong quân đội.

Xin trở lại Văn Thư của Thủ Tướng Phan Huy Quát. Nội dung nói lên sự bất đồng quan điểm giữa Thủ Tướng với Quốc Trưởng về vấn đề thay đổi nhân sự cấp Bộ trong chánh phủ. Vấn đề chưa kết thúc, bỗng dưng Quốc Trưởng cho biết là ông từ chức. Như vậy, chánh phủ cũng phải từ chức theo. Sau cùng, Thủ Tướng Quát yêu cầu Hội Ðồng Quân Ðội, hãy nhân danh quân đội mà nhận lãnh trách nhiệm lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn cực kỳ khó khăn hiện nay. Xin nói thêm là ngay sau cuộc Chỉnh Lý, tổ chức đại diện quân đội vẫn sử dụng danh xưng là Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng như trước đó, đến tháng 11 năm 1964 thì tổ chức này cải danh là Hội Ðồng Quân Ðội.

Do văn thư đó, Hội Ðồng Quân Ðội họp liên tục trong căn cứ Không Quân, và kết quả là Hội Ðồng đồng ý nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát. Ðể thực hiện trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, Hội Ðồng quyết định thành lập một tổ chức với danh xưng "Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia" để lãnh đạo theo nguyên tắc "Ủy Ban quyết định, những thành viên thi hành". Thành viên Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia trên căn bản theo chức vụ đương nhiệm trong quân đội là 11 vị, gồm:

- Chủ Tịch.

- Tổng Thư Ký.

- Thủ Tướng.

- Tổng Trưởng Quốc Phòng.

- Tổng Tham Mưu Trưởng.

- Tư Lệnh Hải Quân.

- Tư Lệnh Không Quân.

- Tư Lệnh Quân Ðoàn I, Tư Lệnh Quân Ðoàn II, Tư Lệnh Quân Ðoàn III, và Tư Lệnh Quân Ðoàn IV.

Sau cuộc tham khảo bầu chọn, kết quả với các chức vụ như sau:

- Chủ Tịch: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.

- Tổng Thư ký: Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.

- Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tức Thủ Tướng: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Thiếu Tướng Kỳ còn kiêm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân.

- Tổng Ủy Viên Chiến Tranh tức Tổng Trưởng Quốc Phòng: Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có. Thiếu Tướng Có còn kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

- Các thành viên:

- Ðề Ðốc Trần Văn Chơn : Tư Lệnh Hải Quân.

- Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi: Tư Lệnh Quân Ðoàn I.

- Thiếu Tướng Vĩnh Lộc: Tư Lệnh Quân Ðoàn II.

- Thiếu Tướng Cao Văn Viên: Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

- Thiếu Tướng Ðặng Văn Quang: Tư lệnh Quân Ðoàn IV.

Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ gọi nội các của ông là "nội các chiến tranh". Trong nội các chiến tranh của ông có một Bộ mới thành lập, đó là Bộ Xây Dựng Nông Thôn, và Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Thắng được cử giữ chức Tổng Trưởng. Bộ này đáp ứng nhu cầu bình định nông thôn trong chiến lược tách dân ra khỏi sự kiểm soát của cộng sản. Nhớ lại sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, chánh phủ Nguyễn Ngọc Thơ rất lúng túng với chính sách Ấp Chiến Lược thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm để lại. Với chánh phủ của Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ, chính sách Ấp Chiến Lược được phát triển đến mức có một Bộ phụ trách, và Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Thắng được đánh giá là một Tướng Lãnh có khả năng, nhiệt tâm, cương quyết, được xem là trong sạch, lãnh đạo Bộ này (và những Ðoàn Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn lần lượt ra đời từ kế hoạch của Thiếu Tướng Thắng).

Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia theo thành phần nói trên là 11 vị, nhưng vì Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng, nên thực tế là 10 thành viên.

Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia chọn ngày 19 tháng 6 năm 1965 ra mắt tân chánh phủ, với danh xưng "Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương". Ðó cũng là ngày đánh dấu Quân Ðội nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia. Cũng vì vậy mà ngày 19 tháng 6 được Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia chọn làm "Ngày Quân Lực". Còn "Quốc Khánh" vẫn giữ ngày 1 tháng 11 hằng năm.

Sau khi bàn giao chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn II xong, Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có điện thoại cho tôi:

"Anh Hoa, anh ở lại đó phụ tá cho anh Tài nghe".

"Vâng. Cám ơn Thiếu Tướng".

"Anh phụ trách về hồ sơ công văn của Bộ Tổng Tham Mưu, anh Tài (Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tài) sẽ là chánh văn phòng và có những công tác đặc biệt. Bây giờ anh chuẩn bị lễ bàn giao giữa Trung Tướng Minh với tôi vào ngày 15 tháng 7 (năm 1965). Anh trình Trung Tướng Minh rồi điện thoại cho tôi biết ngay".

"Tôi nghĩ là Thiếu Tướng nên nói chuyện trực tiếp với Trung Tướng Minh thảo luận nhanh hơn, thưa Thiếu Tướng".

"Anh trình với Trung Tướng Minh là được rồi".

"Vâng. Tôi trình Trung Tướng Minh và sẽ trình lại Thiếu Tướng sau".

Tôi vào trình cho chánh văn phòng là Trung Tá Trần Văn Quiền (không phải tôi viết sai đâu mà tên của ông là như vậy đó), Trung Tá Quiền bảo tôi vào trình trực tiếp với Trung Tướng Minh. Tôi thi hành:

"Thưa Trung Tướng, Thiếu Tướng Có từ Pleiku điện thoại về bảo tôi trình Trung Tướng là ngày bàn giao chức vụ Tổng Tư Lệnh sẽ tổ chức vào ngày 15 tháng 7, thưa Trung Tướng".

Xin giải thích. Bộ Tổng Tham Mưu do Trung Tướng Khánh cải danh thành Bộ Tổng Tư Lệnh, khi Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia hình thành thì Ủy Ban quyết định sử dụng lại danh xưng Bộ Tổng Tham Mưu, trong lúc giao thời này Thiếu Tướng Có gọi là Bộ Tổng Tham Mưu nhưng Trung Tướng Minh vẫn gọi Bộ Tổng Tư Lệnh.

"Vous cứ nói với ông Có là ngày nào cũng được. Hôm đó tôi mặc quân phục đại lễ".

"Vâng. Tôi sẽ trình lại Thiếu Tướng Có như vậy".

Trung Tướng Trần Văn Minh (không phải là Trung Tướng Trần Văn Minh mà sau này là Tư Lệnh Không Quân, cũng không phải là Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô), thường dùng tiếng chữ "vous" (Pháp ngữ) khi tiếp chuyện hay khi ra lệnh, lời của ông chậm rãi, từ tốn, rõ ràng, chẳng mấy khi tôi thấy ông nổi giận. Tôi điện thoại lên Pleiku:

"Thưa Thiếu Tướng, Trung Tướng Minh đồng ý ngày bàn giao 15 tháng 7, và buổi lễ hôm đó Trung Tướng Minh mặc quân phục đại lễ 4 túi".

"Không được. Anh trình với Trung Tướng Minh là tôi mặc quân phục tác chiến. Mình đang trong tình trạng chiến tranh mà".

Tôi vào trình Trung Tá Quiền, ông vẫn bảo tôi vào trình Trung Tướng Minh.

"Thưa Trung Tướng, Thiếu Tướng Có sẽ mặc quân phục tác chiến và Thiếu Tướng Có xin Trung Tướng cũng mặc như vậy".

"Vous nói với Thiếu Tướng Có mặc gì thì tùy ông ấy. Còn tôi, tôi sẽ mặc 4 túi".

Trình qua trình lại, cuối cùng thì hai vị mặc quân phục theo ý riêng của mình. Một vị mặc quân phục tác chiến màu xanh lá cây, một vị mặc quân phục đại lễ màu trắng. Phải chăng vì Trung Tướng Minh đang Quyền Tổng Tư Lệnh (chữ "quyền" đồng nghĩa với tạm thời), một chức vụ mà ông thừa biết là Hội Ðồng Quân Ðội dùng ông để tạm thời trám vào cái khoảng trống đó trong khi tìm người chánh thức, nên ông không chấp nhận ảnh hưởng của vị Tướng nào cả? Cũng có thể vì ông là vị Tướng thâm niên, mà ông không sẵn lòng chịu sự ngang hàng với vị Tướng cấp nhỏ mà lại ít thâm niên, cho dù lời yêu cầu của Thiếu Tướng Có không có gì là kém trang trọng?

Rồi những trục trặc trong lễ bàn giao ngày 15 tháng 7 năm 1965 tại võ đình trường Bộ Tổng Tư Lệnh do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, chủ tọa. Theo lễ nghi quân cách, quan trọng nhất là lúc trao quân kỳ Bộ Tổng Tư Lệnh theo tuần tự như sau:

- Thủ quân kỳ trao cho Trung Tướng Trần Văn Minh.

- Trung Tướng Minh trao cho Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, biểu tượng cho trách nhiệm và quyền hạn Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chấm dứt từ giờ phút này.

- Trung Tướng Thiệu, với tư cách Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chủ tọa buổi lễ, sau khi dõng dạc tuyên bố trao trách nhiệm cho Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có từ giờ phút này, là ông trao quân kỳ cho Thiếu Tướng Có, biểu tượng trách nhiệm và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu từ giờ phút này.

- Thiếu Tướng Có với quân kỳ trong tay, ông tuyên bố nhận trách nhiệm trước vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao và hứa sẽ hoàn thành trách nhiệm, rồi trao quân kỳ lại "thủ quân kỳ".

Nhưng cái trục trặc rất ư là kỳ cục lại xảy ra, vì Trung Tướng Minh không chịu nhận quân kỳ từ tay của quân nhân "thủ quân kỳ", cho nên quân nhân "thủ quân kỳ" phải ngập ngừng một lúc rồi bước đến trao thẳng cho Trung Tướng Thiệu. Sự kiện này làm Trung Tướng Thiệu phải mất vài chục giây ngỡ ngàng mới đưa tay nhận. Lại thêm vài chục giây ngỡ ngàng nữa trước khi ông tuyên bố trao quân kỳ cho Thiếu Tướng Có. Rõ ràng là Trung Tướng Minh không tôn trọng lễ nghi quân cách, dù rằng ông là vị Tướng rất thâm niên mà lại xuất thân từ trường sĩ quan của quân đội Pháp. Quốc kỳ biểu tượng một quốc gia, quân kỳ biểu tượng một đơn vị. Trong tất cả quân kỳ thì quân kỳ Bộ Tổng Tư Lệnh là cao nhất vì đó là biểu tượng của một quân đội, nhưng hôm nay -ngày 15 tháng 7 năm 1965- quân kỳ Bộ Tổng Tư Lệnh được bàn giao như vậy đó! Là một quân nhân, tôi cảm nhận một nỗi buồn!

Giao nhận xong, Bộ Tổng Tư Lệnh trở lại với danh xưng "Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Giải tán Nha Ðổng Lý và tổ chức lại "văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng" như trước. Thiếu Tá Nguyễn Hữu Tài giữ chức Chánh văn phòng, tôi phụ tá cho anh.

Nhận chức xong, ngoài công tác ở bàn giấy và những lần đi thăm các đại đơn vị, Thiếu Tướng Có cho xây tấm vách chắn ngang "cây đòn dông" của Trung Tâm Hành Quân, theo đường thẳng tưởng tượng chỉa thẳng vào giữa văn phòng ông Tổng Tham Mưu Trưởng. Cũng vì "cây đòn dông" này mà khi Trung Tướng Trần Thiện Khiêm nhận chức Tổng Trưởng Quốc Phòng kiêm Tổng Tham Mưu Trưởng vào ngày 31 tháng 1 năm 1964, bà Khiêm bảo tôi nhờ người treo cái kính soi mặt thật lớn dóng hướng và treo lên đó, nhằm làm cho "cây đòn dông" nếu kéo dài theo đường thẳng tưởng tượng sẽ đụng vào tấm kiếng mà "không vào" bên trong được. Và việc thứ hai là Thiếu Tướng Có cho dời hai ngôi mộ của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và ông cố vấn Ngô Ðình Nhu ra nghĩa trang Mạc Ðỉnh Chi, nơi đã dự trù hạ huyệt ngày 5 tháng 11 năm 1963 nhưng đã không thực hiện được. Thiếu Tướng Có cho rằng, "cây đòn dông và hai ngôi mộ" đã là những điều không may cho Bộ Tổng Tham Mưu trong thời gian qua. Ðúng hay không thì sau đó mới rờ, nhưng có điều là thêm một vị Tướng mang cả lòng tin về tướng số, tử vi, địa lý vào chức vụ cao nhất của quân đội.

Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có kiêm nhiệm chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng đúng 3 tháng. Ngày 15 tháng 10 năm 1965, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu lại chủ tọa buổi lễ Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có bàn giao chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên.

Xin nhắc lại, Thiếu Tướng Viên sau khi bàn giao chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân, lên Biên Hòa nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn III. Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn cùng các đơn vị trực thuộc, di chuyển từ trại Lê Văn Duyệt, Quận 3 Sài Gòn, lên đồn trú ở Biên Hòa sau cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964. Nay, Thiếu Tướng Viên trở lại Bộ Tổng Tham Mưu với chức vụ cao hơn trước.

Từ sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng đã lần lượt trong tay 6 vị "Nguyên Soái" mà trong đó 4 lần không có bàn giao, 1 lần bàn giao không đúng lễ nghi quân cách. Và ngày 15 tháng 10 năm 1965 là lần bàn giao thứ 6. Lễ bàn giao tuy mức độ trang trọng không đạt đúng chức vụ đứng đầu quân đội, nhưng giao nhận đàng hoàng. Lần thứ nhất, Trung Tướng Trần Văn Ðôn nhận chức ngày 2 tháng 11 năm 1963 sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ và bị giết chết. Lần thứ hai, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, nhận chức ngày 31 tháng 1 năm 1964 sau khi Trung Tướng Trần Văn Ðôn bị bắt. Lần thứ ba, Trung Tướng Nguyễn Khánh nhận chức ngày 8 tháng 10 năm 1964 sau khi Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong ngày hôm trước (7/10/1964). Lần thứ tư, Trung Tướng Trần Văn Minh, nhận chức ngày 26 tháng 2 năm 1965 sau khi Ðại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong ngày hôm trước (25/2/1965). Lần thứ năm (15/7/1965), Trung Tướng Minh bàn giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có không đúng lễ nghi quân cách. Và lần thứ sáu là ngày 15 tháng 10 năm 1965 này, bàn giao giữa Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có với Thiếu Tướng Cao Văn Viên, đúng lễ nghi quân cách.

Chưa tròn 2 năm mà thay đổi 5 vị Tổng Tham Mưu Trưởng, và Thiếu Tướng Cao Văn Viên là vị Tổng Tham Mưu Trưởng thứ 6. Nếu đem thời gian chia đều thì mỗi vị chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng có bốn tháng rưỡi, thử hỏi làm sao xây dựng được chiến lược chiến thuật thích ứng với mọi biến chuyển của tình hình để quân đội nắm quyền chủ động trên chiến trường, trong khi tình hình quân sự ngày càng đẫm máu với những trận đánh cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn. Từ ngày quân bộ chiến Hoa Kỳ và Ðại Hàn trực tiếp tham chiến, một số Sư Ðoàn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta gần như tập trung vào những cuộc hành quân yểm trợ bình định nông thôn chung quanh các thành phố thị trấn, ngoại trừ lực lượng của Quân Ðoàn IV vùng đồng bằng Cửu Long là vẫn trong thế chủ động, vì vùng này chỉ có căn cứ của Sư Ðoàn 9 Bộ Binh Hoa Kỳ ở Mỹ Tho, và Sư Ðoàn này chỉ giới hạn hoạt động ở bờ bắc sông Tiền (hay Tiền Giang) thôi.

Nếu cứ cái đà tranh giành như thế này hoài thì bất cứ vị Tướng vị Tá nào có tính liều mạng hay bốc đồng, cũng có thể lên cầm quyền chơi mỗi người mấy tháng nếu được vài đơn vị ủng hộ. Ðể rồi khi bị đẩy ra khỏi chiếc ghế lãnh đạo cũng còn hy vọng vớt vát cái chức "Ðại Sứ tại chỗ" hoặc "Ðại Sứ lưu động" chớ có thua thiệt gì đâu. Sự thua thiệt là ở những ai tha thiết với tổ quốc dân tộc, và hơn nửa triệu quân nhân dưới cờ là thua thiệt nhất, vì ngày đêm Họ miệt mài với chiến trận để ngăn chận quân cộng sản xâm lăng, trong khi trung ương thì thường xuyên trong tình trạng rối ren do giành giựt!

Nhận bàn giao xong, Thiếu Tướng Cao Văn Viên cho dọn sang văn phòng mới vừa xây dựng xong, và kiến trúc này do Trung Tướng Khánh cho khởi công từ tháng cuối năm 1964. Thiếu Tướng Viên có quyết định dọn ngay trong ngày bàn giao, một phần cũng vì Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có không chịu dời văn phòng của ông sang Bộ Quốc Phòng. Ðây cũng là một hành động kỳ cục của Thiếu Tướng Có. Ông có hai chức vụ mà cả hai chức vụ đều thuộc loại nhất nhì đối với quân đội, và sau khi bàn giao cho Thiếu Tướng Viên chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng, ông còn lại chức Tổng Trưởng Quốc Phòng chớ có phải "ngồi chơi xơi nước" đâu mà ông lại tranh chỗ ngồi của ông Tổng Tham Mưu Trưởng mới nhận chức do chính ông bàn giao. Ðiều kỳ cục này dẫn đến sự cãi cọ giữa hai phu nhân của hai vị Tướng. Tuy chưa phải là lớn chuyện, nhưng cũng là "thành tích chẳng đáng khuyến khích" chút nào trong ngũ lãnh đạo!

Tôi, với chức vụ phụ tá chánh văn phòng khi Thiếu Tướng Có là Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi chuẩn bị bàn giao cho Thiếu Tá Vĩnh Thái vì tôi phụ trách toàn bộ hồ sơ văn phòng, còn Thiếu Tá Thái là chánh văn phòng Tư Lệnh Quân Ðoàn III, theo Thiếu Tướng Viên về Bộ Tổng Tham Mưu. Trong lúc chúng tôi giao nhận từng thành phần hồ sơ nhất là hồ sơ xếp vào loại mật và tối mật mà tôi giữ trong tủ sắt ngay sau lưng tôi, Thiếu Tướng Cao Văn Viên bước vào:

"Chú Hoa không bàn giao gì hết. Tôi cử chú vào chức vụ chánh văn phòng. Còn chú Thái sẽ nhận nhiệm vụ khác".

Thật ra thì hai ngày trước đó, bà Cao Văn Viên có điện thoại tôi:

"Chú Hoa, Thiếu Tướng cử chú làm chánh văn phòng đó nghe".

"Còn anh Vĩnh Thái thì sao Chị? Em ngại sẽ mích lòng với anh ấy".

"Chú không lo. Thiếu Tướng nói chú Thái thuyên chuyển sang Bộ Quốc Phòng".

"Vậy thì em nhận, và cám ơn Chị".

Sau đó, Thiếu Tá Vĩnh Thái được cử vào chức vụ Tùy Viên Quân Sự tại tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Ðại Hàn Dân Quốc.

Thiếu Tá Vĩnh Thái, năm 1960 đang dạy tại Trường Sinh Ngữ Quân Quân Ðội. Sau ngày 11 tháng 11 năm 1960, thuyên chuyển sang Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, giữ chức chánh văn phòng Tư Lệnh mà lúc đó Ðại Tá Viên vừa nhận chức Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhẩy Dù. Lần lượt theo Thiếu Tướng Viên về văn phòng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, rồi lên Quân Ðoàn III. Vì gắn bó như vậy mà tôi rất thận trọng không dám nhận lời khi Thiếu Tướng Viên điện thoại cho tôi trước khi bà Viên giải thích. Anh Thái cũng là người thường đến Viện Ðại Học nhận giùm bài học đem về cho Thiếu Tướng Viên, đang là sinh viên của Ðại Học Văn Khoa. Tôi nghĩ, việc Thiếu Tướng Viên cử tôi vào chức vụ chánh văn phòng, rất có thể là do tôi quen việc nơi đây, cũng có thể là ông nghĩ đến ngày 1 tháng 11 năm 1963 khi tôi nhận trách nhiệm đưa ông từ "phòng tạm giữ" lên ngồi trong văn phòng tôi. Thật ra thì lúc bấy giờ hành động của tôi chỉ nhằm giúp Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm (cấp bậc đến ngày 1/11/1963), tránh được điều khó xử với bạn của ông thôi.

Vậy là tôi với Ðại Úy Nguyễn Hữu Có, trước đây là chánh văn phòng và tùy viên của Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, nhưng giữa năm 1964 Ðại Úy Có thuyên chuyển sang Nhẩy Dù làm sĩ quan tùy viên cho Thiếu Tướng Cao Văn Viên. Bây giờ, sau hơn một năm, hai chúng tôi ráp lại trong chức vụ chánh văn phòng và tùy viên của Thiếu Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.

Ngày 1 tháng 11 năm 1965, Quốc Khánh Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng Cao Văn Viên được thăng cấp Trung Tướng. Cùng thăng cấp Trung Tướng với ông còn có nhiều vị nữa, và trong số đó có Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Thiếu Tướng Ðặng Văn Quang.

Tháng sau đó, tôi được thăng cấp Trung Tá.

Trung Tướng Cao Văn Viên có vóc dáng cao lớn, thường luyện tập Yoga, với bộ quân phục nhẩy dù, trông ông rất khỏe mạnh. Ông có đủ dáng vẻ của vị Tướng chiến trường. Trung Tướng Viên rất xông xáo, thường đến thăm các đơn vị nhất là các đơn vị đồn trú và hoạt động Vùng I Chiến Thuật và Vùng II Chiến Thuật.

Từ giữa năm 1965 là thời gian bắt đầu và dồn dập có nhiều đơn vị Ðồng Minh -nhất là Hoa Kỳ- lần lượt đổ quân vào Việt Nam. Trung Tướng Viên thường được cử thay mặt Chánh Phủ và nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, có mặt tại các địa điểm đổ bộ để chào đón quân bạn. Ðơn vị đầu tiên mà Trung Tướng Viên chào đón kể từ sau ngày nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng, là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Chu Lai, còn gọi là vịnh Dung Quất.

Vậy là Hoa Kỳ đã thực hiện được mục tiêu chiến lược của họ, "chiến lược Domino" mà trong thực tế là những căn cứ quân bộ chiến của Hoa Kỳ trải dài như những mắt xích nối liền nhau từ Ðại Hàn xuống Nhật Bản, sang Ðài Loan, Phi Luật Tân, đến Việt Nam Cộng Hòa, và Thái Lan. Những căn cứ này là những nơi xuất phát lực lượng Hải Quân, Lục Quân, Không Quân, có khả năng ngăn chận chiến tranh xâm lược của cộng sản tấn công các quốc gia trong vùng Ðông Nam và Ðông Bắc Á Châu. Quân Lực Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương, được trang bị nhiều loại vũ khí tối tân mới được sử dụng lần đầu tiên trên chiến trường Việt Nam. Thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, Hoa Kỳ đã nỗ lực thuyết phục Tổng Thống Diệm, nhưng đã bị Tổng Thống Diệm khước từ một cách cứng rắn.

Xin mở ngoặc để nói đến cuộc phỏng vấn ngày 18 tháng 10 năm 2003, giữa ông Hồng Phúc của đài Tiếng Nói Việt Nam Hải Ngoại từ Washington DC, với ông Bùi Tín cựu Ðại Tá quân đội cộng sản từ Paris. Khi ông Hồng Phúc yêu cầu ông Bùi Tín cho một quan điểm như là so sánh giữa Tổng Thống Ngô Ðình Diệm với ông HCM. Ông Bùi Tín nói rằng, theo quan điểm của ông thì ông Ngô Ðình Diệm (ông Bùi Tín không dùng chữ chức vụ Tổng Thống) yêu nước thật sự vì sau khi nhận chức Thượng Thư Bộ Lại khoảng 4 tháng thì từ chức vì Toàn Quyền Pháp tự ý sửa đổi Hòa Ước 1884 đặt Trung Kỳ dưới quyền bảo hộ của Pháp như Bắc Kỳ. Ông Diệm thông minh hơn ông Hồ, đạo đức hơn ông Hồ, trong sạch hơn ông Hồ, chỉ riêng cái quyết định không bằng lòng cho Hoa Kỳ sử dụng cảng Cam Ranh, ông Diệm đã nói rằng "nếu để một mảnh đất vào tay Hoa Kỳ, sau này khi có hiệp thương giữa hai miền Nam Bắc thì ông phải giải thích như thế nào với đồng bào." Câu này do Vũ Ngọc Nhạ thuật lại cho ông Bùi Tín nghe sau ngày chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, và ông ta gặp lại Bùi Tín ngay trong dinh Ðộc Lập. Vũ Ngọc Nhạ, là một cán bộ tình báo cao cấp được lãnh đạo cộng sản Việt Nam cài vào Phủ Tổng Thống (Việt Nam Cộng Hòa) với chức vụ cố vấn của Tổng Thống. Xin đóng ngoặc.

Nhân lễ Giáng Sinh 1965, Trung Tướng Viên chỉ thị tôi tổ chức buổi tiếp tân trọng thể ngay tại võ đình trường trước tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu. Khách mời:

- Ngoại quốc, gồm: Các vị trong Ngoại Giao đoàn, kể cả các vị Tùy Viên quân sự. Các vị Tư Lệnh lực lượng Ðồng Minh đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, các đơn vị trưởng cùng các sĩ quan tham mưu trực thuộc lực lượng này.

- Nội bộ, gồm: Các vị trong Chánh Phủ, trong Quốc Hội. Tất cả các vị Tướng Lãnh đang phục vụ tại thủ đô và lân cận, các vị Chỉ Huy Trưởng binh chủng, Tổng Cục Trưởng, Cục Trưởng, và các sĩ quan cao cấp phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Tổng số gần 500 vị.

Ðây là lần đầu tiên các cấp chỉ huy lực lượng Ðồng Minh, gồm: Ðại Hàn, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc Ðại Lợi, Thái Lan, và Hoa Kỳ, với các cấp chỉ huy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có cơ hội tiếp xúc tìm hiểu nhau về cá nhân cũng như về kiến thức quân sự. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đều có mặt. Chương trình tổng quát với lời chúc Giáng Sinh ngắn gọn của Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, và của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Tiếp đó là chương trình văn nghệ với những bài hát Giáng Sinh bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Buổi tiếp tân diễn ra trong bầu không khí thân hữu và trang trọng.

Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, là hai vị lãnh đạo cao nhất của đất nước. Trải qua thời gian cầm quyền, tôi nghĩ là những ai quan tâm đến thời sự quốc gia quốc tế, dễ dàng nhận thấy rằng: về chức vụ thì Trung Tướng Thiệu cao hơn nhưng Thiếu Tướng Kỳ lại được đồng bào trong nước cũng như nhiều nhân vật quốc tế biết đến nhiều hơn. Trung Tướng Thiệu thì trầm ngâm, sâu sắc, chỉ xuất hiện khi cần thiết. Thiếu Tướng Kỳ thường tuyên bố điều này điều khác, đôi khi ông tuyên bố tùy hứng mà không cần biết điều đó có thực hiện được hay không. Nói cách khác, Thiếu Tướng Kỳ không có cái sâu sắc trong địa vị chính trị của ông, nhưng trong một chừng mực nào đó, ông lại là nhân vật có vẻ thích ứng với vai trò của ông, vai trò một Thủ Tướng có cá tính "bốc đồng" trong giai đoạn chiến tranh lúc ấy. Phải chăng đó là chính sách của Hoa Kỳ? Nhìn chung thì Trung Tướng Thiệu với Thiếu Tướng Kỳ, không hợp nhau từ bản chất cá nhân, nhưng lại là một cặp lãnh đạo đất nước! Thật ra trong thuật lãnh đạo, trong hàng lãnh đạo rất cần những quan điểm trái ngược, nhưng là trái ngược trong tinh thần thúc đẩy phát triển quốc gia chớ không phải trái ngược trong mục đích đả phá nhau do tinh thần cá nhân hay phe nhóm. Vậy, quí vị quí bạn nhìn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ như thế nào? Xin hiểu là nhìn lại để rút ra bài học kinh nghiệm cho mai sau, chớ không phải nhìn lại để chỉ trích cá nhân, thậm chí là kết án.

Dư luận trong giới chính trị cũng như trên báo chí quốc nội quốc tế, khi nói đến những vị lãnh đạo quốc gia của chúng ta thường nhắc đến "bộ ba" gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, tức Quốc Trưởng + Thủ Tướng + Tổng Trưởng Quốc Phòng. Theo tôi, con người của Trung Tướng Có không có nét nào hợp với Thiếu Tướng Kỳ, cũng không trầm ngâm như Trung Tướng Thiệu. Ông không có tính xốc nổi nhưng cũng không sâu sắc, ông rất hăng say trong trách nhiệm lãnh đạo Quốc Phòng, nhưng dường như kiến thức tổng quát cũng như kiến thức quân sự có những giới hạn, nên không có gì đặc biệt ở cương vị của ông trong nội các chiến tranh. Tôi nghĩ, những công việc có tính cách điều hành của Bộ Quốc Phòng cũng như Bộ Tổng Tham Mưu, thích hợp với ông hơn là những vấn đề chiến lược chiến thuật.

Về cấp hiệu sĩ quan mà Tổng Thống Ngô Ðình Diệm qui định từ đầu năm 1956 (hay 1957?), thay thế cấp hiệu của Pháp (mà quân đội quốc Gia Việt Nam áp dụng khi mới thành lập) là cấp Úy biểu tượng bằng bông mai vàng và cấp Tá là bông mai trắng trên cổ áo hoặc trên mũ lưỡi trai. Nhưng vì kỹ thuật của các nhà sản xuất chưa hoàn hảo nên màu sắc không chính xác giữa trắng với vàng, nhất là thời gian sử dụng càng lâu thì màu sắc càng dễ gây lầm lẫn. Chẳng hạn như một Ðại Úy với cấp hiệu 3 bông mai vàng với một Thiếu Tá cấp hiệu một bông mai trắng đi ngược chiều nhau, nhưng vì màu sắc trên bông mai vàng phai mờ nên ông Thiếu Tá tưởng lầm ông Ðại Úy đi ngược chiều là Ðại Tá, băn đưa tay chào cho dẫu có thắc mắc không biết có phải Ðại Tá hay không vì trông trẻ quá. Vì vậy mà Trung Tướng Nguyễn Hữu Có quyết định cấp hiệu của sĩ quan cấp Tá được gắn thêm một vạch ngang phía dưới bông mai trắng để dễ phân biệt giữa cấp Úy với cấp Tá. Thế nhưng, lúc bấy giờ có dư luận cho rằng, Trung Tướng Có được các nhà sản xuất các loại huy hiệu cấp hiệu quân đội, lo lót một khoản tiền để ông đưa ra quyết định như vậy, vì tất cả sĩ quan cấp Tá đều phải mua cấp hiệu mới theo mẫu đó, và dĩ nhiên là các nhà sản xuất thu được khoản tiền lời lớn. Ðúng hay sai thì tôi không rõ, nhưng có điều chắc chắn là qui định này đã giúp cho sự dễ nhận giữa cấp Úy với cấp Tá. Tôi nghĩ, đây là một quyết định đúng.

Nhân vụ cấp hiệu này xin nói thêm về nhiều loại huy chương được thiết lập trong thời gian Trung Tướng Nguyễn Khánh cầm quyền, trong mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho các sĩ quan tham mưu và sĩ quan chuyên môn, được tưởng thưởng thích hợp và nhiều huy chương hơn để đeo trên ngực áo trong những lễ hội, những lần đón tiếp các phái đoàn quân sự ngoại quốc, hoặc du học du hành ngoại quốc. Trung Tướng Khánh có sáng kiến này là vì có một vị Tướng (dường như là Thiếu Tướng Nguyễn Ðức Thắng) khi xuất ngoại, trên ngực áo chỉ có 3 huy chương cuống trông thật là "đơn côi" và làm cho vị Tướng có vẻ "yếu đi" mặc dù ông có vóc dáng cao lớn và khỏe mạnh.

Về cách giải quyết công văn tại văn phòng, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm với Ðại Tướng Cao Văn Viên có cùng thận trọng như nhau, nhưng Ðại Tướng Viên có phần nhanh hơn. Ðại Tướng Nguyễn Khánh cũng nhanh nhưng mức độ thận trọng không bằng hai vị Tướng nói trên. Trung Tướng Trần Văn Minh thì chỉ làm việc cho hết giờ. Trung Tướng Nguyễn Hữu Có thì thận trọng quá đáng nên có phần chậm chạp. Xông xáo đi thăm các đơn vị tại mặt trận hoặc các đơn vị đang công tác đặc biệt, Ðại Tướng Viên và Ðại Tướng Khánh như nhau, Trung Tướng Có cũng gần như vậy, Ðại Tướng Khiêm thì thỉnh thoảng, còn Trung Tướng Minh thì không có gì để so sánh. Ðại Tướng Khánh, trong hơn một năm cầm đủ thứ quyền trong tay, là thời gian nhiều xáo trộn chính trị, thế nhưng ông đã dành thì giờ để đến với nhiều đơn vị, đó là điều ghi nhận tốt. Ông là vị Tổng Tư Lệnh duy nhất cho mang theo công văn để ông làm việc trên phi cơ trong khi đi thăm đơn vị, nhưng ông cũng là vị Tổng Tư Lệnh kỳ cục nhất khi bất đồng quan điểm với ông Ðại Sứ Hoa Kỳ thì tự dời văn phòng làm việc cách xa Bộ Tổng Tư Lệnh hằng trăm cây số (từ tháng 6 năm 1965, Bộ Tổng Tư lệnh mới trở lại danh xưng Bộ Tổng Tham Mưu) .

Về mối liên hệ tình cảm trong công tác, Trung Tướng Viên nghiêng về Thiếu Tướng Kỳ hơn là Trung Tướng Thiệu, dù rằng Trung Tướng Thiệu chức vụ cao hơn Thiếu Tướng Kỳ. Phải nhận rằng, Thiếu Tướng Kỳ tuy cá tính xốc nổi nhưng dám nói dám làm, dù là làm được lẫn làm không được, nhưng được sự ủng hộ của số đông chiến hữu và đồng bào, nhưng những nhà hoạt động chính trị thì không ủng hộ ông. Lực lượng có khả năng trực tiếp tham gia đảo chánh là Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến thì đứng về phía Thiếu Tướng Khang và Trung Tướng Viên, nên Thiếu Tướng Kỳ có thế đứng vững hơn những Thủ Tướng trước ông. Trong những lúc nói chuyện với tôi và sĩ quan tùy viên, Trung Tướng Viên thường tỏ ra ca ngợi Thiếu Tướng Kỳ và không hề nhắc đến Trung Tướng Thiệu dù Trung Tướng Thiệu đang là Quốc Trưởng. Trung Tướng Viên cho rằng, trong số những khuôn mặt hiện nay (năm 1965-1966) thì Thiếu Tướng Kỳ là người thích hợp hơn hết.

Trong năm 1965 và đầu năm 1966, sinh hoạt ở trung ương tương đối yên ắng, tuy phần lớn trong giới chính trị lão thành cũng như giới thân hào nhân sĩ tỏ ra không ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ. Tôi căn cứ vào những báo cáo mật của Tổng Nha Cảnh Sát thông báo cho Tổng Tham Mưu Trưởng mà ghi nhận như vậy. Trong hệ thống điều hành thông thường, chẳng có qui định nào buộc Cảnh Sát phải thông báo những tin tức về các hoạt động chính trị cho Bộ Tổng Tham Mưu cả, nhưng có thể là do mối liên hệ mật thiết giữa Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ -Thủ Tướng- với Trung Tướng Cao Văn Viên -Tổng Tham Mưu Trưởng- mà hậu thuẫn của Trung Tướng Viên là lực lượng Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến để chống đảo chánh, nên Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát -rất được Thiếu Tướng Kỳ tin cậy- mới có những thông báo như vậy. Ngay sau ngày Thiếu Tướng Viên (hai tuần sau đó ông mới thăng cấp Trung Tướng) nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng, Ðại Tá Ngô Quang Trưởng -dường như lúc bấy giờ ông là Tư lệnh Phó Nhẩy Dù- đến văn phòng tôi, ông nói:

"Anh Hoa, để kịp thời đối phó với những biến động quân sự về phía nội bộ, bất cứ là giờ nào trong ngày nếu như anh thấy có điều gì nghi ngờ về một cuộc đảo chánh hay tương tự như vậy, thì anh báo tin cho tôi ngay, vì lúc nào tôi cũng có một đơn vị túc trực tại căn cứ Hoàng Hoa Thám (tên doanh trại của Lữ Ðoàn Nhẩy Dù, khỏi ngã tư Bảy Hiền, trên đường Sài Gòn-Tây Ninh)"

Khi tôi bổ túc đoạn ngắn này thì cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đã từ trần. Xin cắm nén hương tưởng nhớ đến Ông, một Tướng Lãnh khi xuôi tay yên nghỉ, nhận được lòng ngưỡng mộ và thương cảm của hầu hết các thành phần trong Cộng Ðồng Việt Nam Tị Nạn cộng sải tại hải ngoại!

Ðiều làm cho các vị Tướng lãnh đạo ở trung ương nói chung và Thiếu Tướng Kỳ nói riêng, lo ngại là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn I kiêm Ðại Biểu Chánh Phủ tại Trung Phần, về những lời tuyên bố cùng một số hành động của ông có tính cách trái ngược với trung ương nếu không nói là chống lại trung ương.

Xin nhắc lại. Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi, sau hơn 2 năm lưu vong trên vương quốc Cam-Bốt, được Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng sau cuộc lật đổ và giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đón về, lần lượt thăng cấp Thiếu Tướng, rồi Trung Tướng, và hai lần thăng cấp này hoàn toàn không do công trạng trong chiến trận.

Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi là người có tính bộc trực, thẳng tính, và nóng tính. Buổi sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964, ngay trong sân nhà Trung Tướng Khánh, trong lúc có nhiều sĩ quan quanh quẩn ở đó để theo dời tin tức về cuộc "Chỉnh Lý", Trung Tướng Thi lúc đó là Ðại Tá, đã bạt tai Thiếu Tá Nguyễn Huy Lợi với tất cả sự nóng giận của ông. Hỏi ra tôi mới biết là trong thời gian lưu vong, Thiếu Tá Lợi cũng như các bạn cùng lưu vong, đã khinh thường ông vì ông không làm ra tiền mà trông chờ vào sự "chạy gạo" của các sĩ quan cấp nhỏ hơn ông trong nhóm lưu vong. Chắc vì vậy mà ông bạt tai cho hả giận, và chắc cũng để tỏ ra là ông đã qua thời xuống chó và đang thời lên voi chăng?

Trong thời gian Trung Tướng Khánh bắt đầu có khoảng cách với Ðại Tướng Khiêm, rồi khoảng cách đó ngày càng rộng và sâu thêm, cho đến một ngày khoảng cách đó rộng bằng cả Ðại Tây Dương thì Ðại Tướng Khiêm bị đẩy sang bên kia bờ phía tây gọi là thăm vài nước Châu Âu, thì những vị Tướng thân thiết nhau như: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Thiếu Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, và Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang (1964), có vẻ như không can dự gì vào chuyện giữa Trung Tướng Nguyễn Khánh với Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm cả. Nhưng tôi không rõ là bắt nguồn từ nguyên nhân nào mà Trung Tướng Thi (1966) lại tách ra khỏi nhóm đó, và tách ra từ lúc nào nữa. Chỉ biết là khi Trung Tướng Thi chống đối trung ương trở nên công khai đến mức báo chí đăng tải, thì lúc đó Trung Tướng Thi đang là Tư Lệnh Quân Ðoàn I tại Ðà Nẳng. Xin giải thích: tôi chỉ nói đến những vị Tư lệnh có quân có quyền trong tay và có khả năng đảo chánh lẫn chống đảo chánh thôi.

Xin nói đến Ngày Quân Lực.

Khi Hội Ðồng Quân Ðội nhận trách nhiệm Lãnh đạo quốc gia theo yêu cầu của Thủ Tướng Phan Huy Quát, và thành lập Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia với Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, và chọn ngày 19 tháng 6 năm 1965 ra mắt quốc dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Từ đó, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định chọn ngày 19 tháng 6 hằng năm làm Ngày Quân Lực. Và Ngày Quân Lực 19 tháng 6 đầu tiên được tổ chức trọng thể vào ngày 19 tháng 6 năm 1966. Ngày Quân Lực đầu tiên nói ở đây là Ngày Quân Lực 19 tháng 6, nhưng thật ra còn một Ngày Quân Lực đã được chọn và tổ chức trước đó nữa.

Ðó là Ngày Quân Lực 30 tháng 1. Chuyện như thế này. Xin nhắc đến cuộc Chỉnh Lý ngày 30 tháng 1 năm 1964 do Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Ðại Tá Cao Văn Viên, lãnh đạo lật đổ Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng của Trung Tướng Dương Văn Minh, và thành công. Nhưng sau khi Trung Tướng Khánh công bố bản Hiến Chương tại Vũng Tàu, liên tiếp những cuộc mít tinh biểu tình cáo giác Trung Tướng Nguyễn Khánh là độc tài, từ đó Trung Tướng Khánh cho rằng Ðại Tướng Khiêm đứng đằng sau những vụ đó. Thế là Trung Tướng Khánh đẩy Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong (7 tháng 10 năm 1964). Và rồi Trung Tướng Khánh quyết định chọn ngày 30 tháng 1 làm Ngày Quân Lực.

Ngày Quân Lực 30 tháng 1 được tổ chức vào tối 30 tháng 1 năm 1965, trên sân thượng câu lạc bộ Bộ Tổng Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Ðổng Lý Văn Phòng Tổng Tư Lệnh, chỉ thị tôi Trưởng Phòng Quân Sự Vụ, và Thiếu Tá Hoàng Ngọc Tiêu -tức nhà thơ Cao Tiêu- Trưởng Phòng Dân Sự Vụ, trách nhiệm tổ chức.

Tham dự Ngày Quân Lực 30 tháng 1 năm 1965, gồm: quí vị trong Chánh Phủ, quí vị Tướng Lãnh, quí vị trong Ngoại Giao đoàn, các đơn vị trưởng trong Quân Trấn Sài Gòn, và sĩ quan cao cấp phục vụ tại Bộ Tổng Tư Lệnh. Ngày Quân Lực 30 tháng 1 được tổ chức hôm ấy là lần đầu tiên, cũng là lần duy nhất.

Tôi nghĩ rằng, "Ngày Quân Lực tổ chức ngày 30 tháng 1 năm 1965" rất ít người biết đến, vì không có văn kiện ban hành, cũng không phổ biến bất cứ hình thức nào, Trung Tướng Khánh chỉ ra lệnh ngang qua Thiếu Tướng Vỹ, chúng tôi gởi thư mời, và tiến hành tổ chức thôi. Chương trình buổi lễ rất đơn giản như một buổi tiếp tân ngoài trời. Không diễn văn dài dòng, cũng không một ai phát biểu. Chỉ sau một diễn văn ngắn gọn của Trung Tướng Khánh là vào tiệc, với chương trình văn nghệ rất đông nghệ sĩ tân nhạc nổi tiếng của Sài Gòn lúc ấy trình diễn.

Nhân đây cũng xin nói thêm về những ngày khác, nếu như trước ngày 19 tháng 6 năm 1966 mà có cuộc thăm dò ý kiến trong quân đội thì tôi nghĩ, những ngày sau đây có thể được chọn là Ngày Quân Lực, như: ngày 1 tháng 1, ngày 1 tháng 5, hay ngày 1 tháng 7.

Ngày 1 tháng 1. Trong cuộc chiến giữa thực dân Pháp với Việt Minh cộng sản 1945-1954, chánh phủ Pháp ước tính không thể dẹp tan đối phương trong thời gian 6 tháng như Cao Ủy Pháp tại Ðông Dương đã từng tuyên bố, nên sử dụng chính sách dùng người Việt không cộng sản đánh nhau với người Việt cộng sản, bằng quyết định thành lập một số Tiểu Ðoàn Việt Nam và những đơn vị nhỏ hơn, dưới quyền chỉ huy của Pháp. Ðầu tiên là Chi Ðội Thám Thính của binh chủng Thiết Giáp thành lập ngày 1 tháng 1 năm 1951. Lần lượt sau đó, một vài đơn vị đầu tiên là:

Ngày 1 tháng 2 năm 1951: một đơn vị Truyền Tin.
Ngày 1 tháng 5 năm 1951: một đơn vị Không Quân.
Cùng ngày 1 tháng 5 năm 1951: một đơn vị Quân Vận.
Ngày 1 tháng 8 năm 1951: một đơn vị Nhẩy Dù.
Ngày 1 tháng 9 năm 1951: một đơn vị Công Binh.
Ngày 1 tháng 11 năm 1951: một đơn vị Pháo Binh.
Ngày 1 tháng 3 năm 1952: một đơn vị Hải Quân.

Trong nét nhìn nào đó, những đơn vị Việt Nam đủ tiêu biểu cho Hải Lục Không Quân nhưng quá đỗi khiêm nhường, ngoại trừ Lục Quân có một số đơn vị khả dĩ có khả năng "đánh tay đôi" với quân Việt Minh cộng sản.

Như vậy, ngày 1 tháng 1, là ngày mà đơn vị đầu tiên của Việt Nam được thành lập, dù rằng đơn vị này do Liên Hiệp Pháp chỉ huy và yểm trợ.

Ngày 1 tháng 5. Do Dụ số 43 ngày 23 tháng 5 năm 1952 (sau này gọi là sắc lệnh) của Quốc Trưởng Bảo Ðại, thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 5 năm 1952. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh. Ông là Trung Tá Không Quân Pháp chuyển sang. Tuy có cơ quan đầu não của quân đội, nhưng thực chất các đơn vị Việt Nam đã thành lập trước đó vẫn do sĩ quan Pháp chỉ huy và yểm trợ mọi nhu cầu của đơn vị. Bộ Tổng Tham Mưu non trẻ này tập trung nỗ lực vào trách nhiệm tổ chức 60 Tiểu Ðoàn tân lập bộ binh do Pháp cung cấp dụng cụ chiến tranh. Bộ Tổng Tham Mưu thực hiện quan niệm tổ chức hai loại Tiểu Ðoàn mà cơ quan này cho là thích hợp với chiến trường hiện tại: "Tiểu Ðoàn Việt Nam" có trang bị súng cối và đại liên để đánh nhau với cộng sản cấp Ðại Ðội, vì lúc ấy quân cộng sản trên chiến trường miền Nam cũng chỉ tổ chức đến cấp Ðại Ðội. Và loại "Tiểu Ðoàn Khinh Quân", quân số ít và trang bị nhẹ so với Tiểu Ðoàn Việt Nam, dễ luồn lách hoạt động trong vùng địch.

Ngày 1 tháng 7. Căn cứ quân sự trong vùng lòng chảo Ðiện Biên Phủ của Pháp bị thất thủ vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, trước những cuộc "tấn công biển người" của quân Việt Minh cộng sản dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của quân Trung Hoa cộng sản, dẫn đến Hiệp Ðịnh Ðình Chiến ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ. Lãnh thổ Việt Nam bị chia đôi thành hai quốc gia:

Vĩ tuyến 17 trở lên Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, theo chế độ cộng sản độc tài.

Vĩ tuyến 17 trở xuống Nam là Quốc Gia Việt Nam, theo chế độ tự do.

Trên địa thế, tiêu biểu cho vĩ tuyến 17 là "sông Bến Hải với cầu Hiền Lương", phía bắc thị trấn Ðông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Trung tuần tháng 12 năm 1954, Tướng Collins của Hoa Kỳ và Tướng Paul Ely của Pháp thỏa thuận, theo đó, Bộ Tư Lệnh Quân Viễn Chinh Pháp sẽ trao toàn quyền chỉ huy quân sự cho quân đội Việt Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1955. Sau thỏa thuận này, một phái bộ hỗn hợp Mỹ Pháp được thành lập từ ngày 20 tháng 1 năm 1955, dưới tên gọi "Phái Bộ Liên Lạc Và Huấn Luyện Tại Việt Nam" (tiếng Anh là Training Relations Instruction Mission, gọi tắt là CHIM), với số sĩ quan gồm 200 của Pháp và 217 của Hoa Kỳ.

Từ sau thỏa ước trên, Bộ Tổng Tham Mưu gần như ào ạt tiếp nhận quyền chỉ huy hệ thống tổ chức lãnh thổ, từ Chi Khu (quận), Tiểu Khu (tỉnh), Phân Khu (2 hoặc 3 Tiểu Khu), đến Quân Khu (nhiều Phân Khu), và các đơn vị tác chiến lẫn yểm trợ. Và thật sự là Bộ Tổng Tham Mưu nắm quyền chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam từ ngày 1 tháng 7 năm 1955.

Vậy, ngày "1 tháng 1 năm 1951" là ngày thành lập đơn vị Việt Nam đầu tiên nhưng do sĩ quan Pháp chỉ huy, ngày "1 tháng 5 năm 1952" là ngày thành lập Bộ Tổng Tham Mưu Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, và ngày "1 tháng 7 năm 1955" là ngày Bộ Tổng Tham Mưu chánh thức thật sự nắm quyền lãnh đạo chỉ huy quân đội quốc gia Việt Nam. Tôi nghĩ, nếu phải chọn một ngày trong 3 ngày nói trên thì ngày 1 tháng 5 là danh chánh ngôn thuận để kỷ niệm "Ngày Quân Lực" nếu so với ngày 30/01 hay ngày 19/06, vì thông thường Ngày Quân Lực là ngày thành lập quân đội.

Nhưng tôi cũng nghĩ rằng, rất có thể vì quân đội được khai sinh từ quân đội Pháp trong hoàn cảnh chiến tranh giữa thực dân với cộng sản trong khi người Việt không cộng sản chúng ta chưa có vị trí rõ ràng trên bàn cờ chính trị, nên quí vị không chọn một trong những ngày đó mà chọn ngày quân lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia để kỷ niệm. Ngày này có ý nghĩa vai trò quân đội trong chiến tranh ý thức hệ giữa "Tự Do với Ðộc Tài", giữa cái Thiện với cái Ác. Quyết định chọn ngày 19 tháng 6 làm "Ngày Quân Lực", tiêu biểu nét đặc thù trong chiến tranh giữ nước của chúng ta trước làn sóng đỏ tràn xuống phía nam trong những thập niên 50 đến 70, mà hiệp chủng quốc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia đồng minh đã đặt Việt Nam Cộng Hòa chúng ta vào vị trí "quốc gia tiền đồn" trên mặt trận toàn cầu đương đầu với cuộc chiến ý thức hệ cộng sản thế giới, mà cộng sản Việt Nam là cánh tay nối dài của cộng sản thế giới.

Và kỷ niệm "Ngày Quân Lực 19 tháng 6" đã được Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tổ chức trọng thể hằng năm kể từ năm 1966. Trong chốn riêng tư, ngày 19 tháng 6 năm 1966, còn tiềm ẩn ý nghĩa sự thành công của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, trong nỗ lực giải quyết vụ khủng hoảng chính trị mà báo chí thường gọi là "khủng hoảng miền Trung" nữa. Nói là thành công, nhưng thật sự có phải là thành công hay không, tùy sự đánh giá của quí vị quí bạn.

Từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay, người cựu quân nhân chúng ta trong những hoàn cảnh thích hợp tại mỗi quốc gia hay thành phố định cư, đã cùng nhau tổ chức kỷ niệm Ngày Quân Lực 19 tháng 06. Hành động như vậy, tôi nghĩ là hoàn toàn đúng và nên tiếp tục. Ðúng, vì cho đến nay -đầu năm 2007-, trong Cộng Ðồng Việt Nam chúng ta tị nạn cộng sản tại hải ngoại, không một cá nhân hay một tổ chức nào khả dĩ có đủ tư cách để thay đổi. Với lại chúng ta cần có -phải nói là rất cần- một ngày trọng đại để vinh danh quân đội, vinh danh những đồng đội đã hy sinh, vinh danh những đồng đội Thương Phế Binh đã để lại một phần thân thể trên khắp miền quê hương đất nước, và vinh danh những bà quả phụ đã tảo tần tạo dựng thế hệ nối tiếp trách nhiệm của chúng ta. Ðồng thời, cũng là ngày nhắc nhở chúng ta -những người cựu quân nhân chưa tròn nhiệm vụ đang sống lưu vong khắp chân trời góc biển- hãy tiếp tục nhiệm vụ còn dang dở trong cuộc chiến hôm nay, góp phần vào công cuộc dân chủ hóa chế độ chính trị trên quê hương Việt Nam, và cùng thế hệ hậu duệ nối tiếp xây dựng một chế độ dân chủ tự do thật sự trên quê hương Việt Nam ngày mai.
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 20:38 Collapse   Print  
- sáu -

Khủng Hoảng Chính Trị
ngày 9 tháng 3 năm 1966

****

Ðầu tháng 3 năm 1966, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ -Thủ Tướng- và Trung Tướng Cao Văn Viên -Tổng Tham Mưu Trưởng- ra Ðà Nẳng duyệt lại tình hình Quân Ðoàn I. Sau chuyến đi, bà Viên nói với tôi đại ý rằng:

"Nói là duyệt lại tình hình chớ thật ra là tìm cách giải quyết những bất đồng giữa Thiếu Tướng Kỳ với Trung Tướng Thi về một số vấn đề, nhưng cuối cùng vẫn không giải quyết được gì hết. Trước khi lên phi cơ rời Ðà Nẳng trở về Sài Gòn, Trung Tướng Thi đến bắt tay rồi vòng tay ôm Trung Tướng Viên, mà không hề nói gì với Thiếu Tướng Kỳ, làm như chỉ có Trung Tướng Viên trong chuyến đi này. Thiếu Tướng Kỳ là người dễ nóng giận, nhưng lúc bấy giờ ông im lặng, đứng nhìn, xem như không nghe không thấy Trung Tướng Thi".

Một số vấn đề mà bà Viên nói đến, báo chí tại Sài Gòn cũng đã nói đến, và trong một chừng mực nào đó, được xem là Trung Tướng Thi chống đối Chánh Phủ.

Với thái độ im lặng của Thiếu Tướng Kỳ tại phi trường Ðà Nẳng, không có nghĩa là ông chịu thua Trung Tướng Thi đâu! Và đây là hành động thể hiện thái độ đó của Thiếu Tướng Kỳ. . .

Cách chức Trung Tướng Thi.

Ngày 08 năm tháng 03 năm 1966, buổi họp thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia gồm Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi. Buổi họp có mục đích giải quyết trực tiếp vụ Trung Tướng Thi đã nhiều lần tỏ ra chống lại lệnh của trung ương.

Tôi nói thu hẹp, vì Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia đầy đủ gồm 11 vị, nhưng buổi họp hôm nay chỉ có 4 vị thuộc trung ương nhưng lại không có vị Tổng Thư Ký, mà lại có vị Tư Lệnh Quân Ðoàn I kiêm Ðại Biểu Chánh Phủ Miền Trung. Có thể nói đây là buổi họp thu hẹp đặc biệt.

Ðịa điểm họp là văn phòng cũ dành cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng, hiện đang trống. Trung Tướng Viên dặn tôi trước khi ông vào phòng họp:

"Ðây là họp tối mật, chỉ khi nào cần thì tôi gọi chú. Bất cứ ai khác đều không được vào".

"Vâng, tôi hiểu".

Ðúng là tôi hiểu mục đích của buổi họp, vì chiều hôm qua, Trung Tướng Viên có nói với tôi tuy là không nói rõ. Ðến 1 giờ trưa, Trung Tướng Viên bước ra với nét mặt đầy ưu tư:

"Chú lo ăn trưa ngay và mang vào ăn tại chỗ".

"Sớm lắm cũng phải 40 phút, vì phải xuống nhà hàng Thanh Thế thưa Trung Tướng".

"Thì xong lúc nào mang vào lúc ấy".

"Vâng".

Tôi nhờ Ðại Úy Có xuống nhà hàng Thanh Thế (gần chợ Sài Gòn) mua ngay 15 phần ăn trưa đựng trong hộp, chỉ có vậy mới nhanh thôi. Tuy có 5 vị họp nhưng tôi phải mua 15 phần, vì mỗi vị Tướng đều có sĩ quan tùy viên và cận vệ đi theo.

Khi mang thức ăn vào, tôi trông thấy không một vị nào có nét mặt cũng như dáng vẻ bình thường hay vui tươi như những buổi họp quan trọng trước đó, điều này cho phép tôi suy đoán là vấn đề cần giải quyết, chẳng những chưa đạt được mà trái lại có thể càng trở nên rắc rối hơn.

Từ lúc bắt đầu họp cho đến lúc chấm dứt khi trời tối hẳn, không một vị nào bước ra ngoài, ngoại trừ trường hợp Trung Tướng Viên bảo tôi lo ăn trưa. Với nét mặt đăm chiêu qua những nếp nhăn trên vầng trán của các vị, tôi đoán là cả ngày họp chẳng đạt được kết quả nào. Riêng Trung Tướng Thi có vẻ như tức giận thì phải.

Trước khi ra về, Trung Tướng Viên hỏi tôi về công tác chuẩn bị cho ông thăm Sư Ðoàn 2 Bộ Binh tại Quảng Ngãi và Sư Ðoàn 23 Bộ Binh tại Ban Mê Thuột vào ngày mai 9 tháng 3 năm 1966.

"Thưa Trung Tướng, mọi việc tôi đã chuẩn bị xong".

Chuyện thế này. Buổi sáng, ngay khi đến văn phòng, ông gọi tôi:

"Ngày mai, chú tổ chức cho tôi ra Quảng Ngãi gắn huy chương cho Sư Ðoàn 2. Sau đó lên Ban Mê Thuột gắn huy chương cho Sư Ðoàn 23. Cơm trưa tại đây. Lúc 1 giờ trưa, rời Ban Mê Thuột về Sài Gòn. Có gì trở ngại chú trình tôi ngay".

"Có cần sĩ quan Tổng Quản Trị tháp tùng không, thưa Trung Tướng?

"Không cần. Chú giao cho chú Có là được".

Chương trình của Trung Tướng Viên, tôi đã liên lạc với Không Quân cung cấp phi cơ, cất cánh lúc 7 giờ sáng tại bãi đậu VIP, theo không trình Sài Gòn-Quảng Ngãi-Ban Mê Thuột-Sài Gòn. Cũng đã thu xếp chương trình với Sư Ðoàn 2 và Sư Ðoàn 23 Bộ Binh xong lúc sáng. Bây giờ chỉ cần xác nhận giờ là xong. Tôi điện thoại ra Quảng Ngãi xin tiếp chuyện với Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm:

"Tôi Phạm Bá Hoa, thưa Chuẩn Tướng. Ngày mai, Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng sẽ đến phi trường Quảng Ngãi khoảng 8 giờ 45. Không có sĩ quan cao cấp nào tháp tùng. Sau khi dự thuyết trình tại bộ tham Sư Ðoàn và trao gắn huy chương xong, Trung Tướng sẽ rời Quảng Ngãi lên Ban Mê Thuột chớ không dùng cơm trưa theo ý kiến của Chuẩn Tướng. Xin được xác nhận điều này với Chuẩn Tướng".

"Anh trình với Trung Tướng, Sư Ðoàn có tiệc trà sau khi gắn huy chương, nếu vậy tôi sẽ mời Trung Tướng dùng tiệc trà trong khi thuyết trình. Nếu có gì khác, anh cho ông Tham Mưu Trưởng của tôi biết hỉ".

"Nếu tôi không điện thoại lại có nghĩa là Trung Tướng đồng ý, thưa Chuẩn Tướng".

Tôi điện thoại lên Ban Mê Thuột gặp ngay Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh (?), Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh:

"Thưa Chuẩn Tướng, xin xác nhận về chương trình ngày mai. Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng sẽ từ Quảng Ngãi đến Ban Mê Thuột khoảng 11 giờ. Giờ chính xác tôi sẽ xác nhận kịp thời. Sau lễ gắn huy chương và dùng cơm trưa tại Sư Ðoàn, Trung Tướng sẽ rời Ban Mê Thuột lúc 1 giờ để về Sài Gòn kịp buổi họp với MACV, thưa Chuẩn Tướng". (MACV, dịch sang Việt ngữ là Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam Cộng Hòa).

"Nếu có gì khác, anh gọi tôi ngay nghe anh Hoa. Này, có bao nhiêu sĩ quan tháp tùng với Trung Tướng?

"Dạ không có vị nào cả, ngoài sĩ quan tùy viên của Trung Tướng, thưa Chuẩn Tướng".

Sau khi công tác chuẩn bị chuyến đi ngày mai của Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng được xác nhận với các nơi liên hệ, tôi ra về. Lúc ấy chẳng còn ai trong tòa nhà chánh ngoài sĩ quan trực và nhân viên an ninh. Vừa về đến nhà thì chuông điện thoại reo:

"Trung Tá Hoa tôi nghe".

"Chú liên lạc tìm Trung Tướng Thi (Nguyễn Chánh Thi) và mời ông ấy ngày mai cùng đi chung phi cơ với tôi ra Quảng Ngãi, còn phi cơ của Trung Tướng Thi chờ tại Quảng Ngãi để đón ông Thi ra Ðà Nẳng sau khi lễ xong. Phi cơ cất cánh tại Sài Gòn lúc 6 giờ sáng chớ không phải 7 giờ. Chú rõ chưa?

"Thưa Trung Tướng, tôi nghe rõ".

Tôi liên lạc và chuyển được lời mời của Trung Tướng Viên đến Trung Tướng Thi đang có mặt tại nhà ông ở đường Gia Long, và được Trung Tướng Thi chấp nhận dễ dàng. Tiếp đến là liên lạc với Bộ Tư Lệnh Không Quân xác nhận lại giờ cất cánh và không trình chuyến bay. Lại phải cấp tốc liên lạc xác nhận với Chuẩn Tướng Lãm (Quảng Ngãi) và Chuẩn Tướng Cảnh (Ban Mê Thuột).

Lúc 5 giờ sáng ngày 9/3/1966, điện thoại reo vang:

"Trung Tá Hoa tôi nghe".

"Chú tìm xem Trung Tướng Có ở đâu và cho tôi biết ngay".

"Vâng".

Ðó là lệnh của Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Tôi điện thoại đến tư dinh Trung Tướng Có trong cư xá Bộ Tổng Tham Mưu, nghe tiếng phụ nữ:

"Chào bà. Tôi là Trung Tá Hoa. Xin bà vui lòng cho tôi tiếp chuyện với Trung Tướng".

"Nhà tôi lên xe đi rồi anh Hoa".

"Dạ, cám ơn bà".

Tôi điện thoại đến toán gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, được biết xe của Trung Tướng Có đã ra cổng và quẹo lên hướng phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi gọi lên phòng VIP trong phi trường:

"Tôi, Trung Tá Hoa. Xin lỗi có Trung Tướng Tổng Trưởng Quốc Phòng ở đó không à?

"Tôi đây anh Hoa. Có việc gì không?

"Dạ, Trung Tướng Viên bảo tôi tìm biết Trung Tướng ở đâu thì trình lại Trung Tướng Viên chớ không có gì, thưa Trung Tướng".

Sau đó tôi trình Trung Tướng Viên. Và ông ra lệnh:

"Chú vào văn phòng ngay, báo cho các nơi hủy bỏ chuyến đi của tôi ra Quảng Ngãi với Ban Mê Thuột. Yêu cầu hai vị Tư Lệnh trao gắn huy chương cho các quân nhân trực thuộc, vì tôi bận vào giờ chót".

"Vâng. Chào Trung Tướng".

Trời hãy còn tối. Sĩ quan trực cũng như các nhân viên an ninh tòa nhà chánh, trong mấy năm gần đây đã quen với những trường hợp đènđuốc sáng choang trong văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, nên không ai tò mò lên văn phòng tôi. Tôi gọi Ðại Úy Có và chính anh gọi các nhân viên trực thuộc vào văn phòng làm việc. Sau khi liên lạc xong với Bộ Chỉ Huy Không Chiến, với Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm và Chuẩn Tướng Võ Văn Cảnh xác nhận lệnh của Trung Tướng Viên, nghe tiếng xe bên dưới tôi đến cửa sổ nhìn xuống lầu thấy xe Trung Tướng Viên vừa ngừng ở thềm tầng trệt. Trung Tướng Viên vào một lúc thì xe của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, rồi xe của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đến. Cả hai vị, một cách im lặng, lần lượt vào phòng Trung Tướng Viên. Rồi Trung Tướng Viên vào phòng tôi ra lệnh có vẻ vội vàng:

"Chú xuống lầu đón Trung Tướng Có và Trung Tướng Thi, hướng dẫn vào phòng họp hôm qua. Chỉ một mình Trung Tướng Thi vào đó thôi, sĩ quan tùy viên và cận vệ của Trung Tướng Thi ngồi ở phòng chú và chú trách nhiệm".

Tôi xuống lầu. Trời vẫn chưa sáng. Xe Trung Tướng Nguyễn Hữu Có dừng trên thềm tầng trệt, trong khi sĩ quan tùy viên chưa mở cửa xe thì toán cận vệ của Trung Tướng Có từ xe Jeep phía sau nhảy xuống, súng cầm tay trong tư thế sẵn sàng sử dụng. Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi xuống xe, toán cận vệ kèm hai bên, và sau lưng Trung Tướng Thi một khoảng ngắn là Trung Tướng Có.

Ðến đây thì tôi hiểu việc gì đang xảy ra.

Trung Tướng Có bảo tôi đi trước, như là dẫn đường lên phòng họp hôm qua. Ông nói khẽ:

"Vào xong, anh khóa cửa lại và cho Quân Cảnh gác cẩn thận".

"Vâng".

Tôi nói riêng với Ðại Úy Có:

"Anh thay tôi trách nhiệm canh giữ anh tùy viên với cận vệ của Trung Tướng Thi nghe. Lệnh của Trung Tướng đó. Tốt hơn hết là mình "ngăn cản khéo" không cho các anh ấy đi đâu hết, ngoại trừ vào phòng vệ sinh thì bảo Quân Cảnh giữ".

Ðại Úy Có hơi ngập ngừng một chút vì chưa biết nguyên nhân nhưng anh không hỏi, vì chúng tôi đã qui ước với nhau rằng, nếu một bên không nói thì bên kia không hỏi và hiểu rằng đó là lệnh mật.

Vẫn chưa đến giờ làm việc. Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Viên, cùng vào phòng họp, mà trong đó đã có Trung Tướng Thi, cũng là Ðại Biểu Chánh Phủ tại Miền Trung.

Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau đó, tôi vào trình Trung Tướng Viên về vấn đề ăn sáng. Ðây là tôi cố tình vào và sự cố tình này cũng có lý của nó, vì lúc ấy gần 9 giờ (sáng) mà các vị chưa ăn sáng. Trước đây, thỉnh thoảng có những buổi họp đặc biệt trước giờ điểm tâm, các vị thường gọi tôi vào lo các phần ăn sáng. Tôi nghe các vị nói chen kẽ và qua đó tôi hiểu phần nào mục đích của các vị thuộc trung ương, nhằm thuyết phục Trung Tướng Thi chấp nhận giải pháp sang Hoa Kỳ chữa bệnh một thời gian, nhưng Trung Tướng Thi không đồng ý. Âm thanh của Trung Tướng Thi rất rõ ràng và không kém phần mạnh mẽ, cho phép suy đoán là ông không dễ dàng chịu áp lực của bốn vị Tướng đứng đầu chánh phủ và quân đội.

Trong khi các vị ăn trưa ngay trong phòng họp, tất cả các sĩ quan tùy viên và cận vệ của các vị cũng đang dùng bữa tại phòng tôi. Sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Thi nói với tôi là anh cần về nhà Trung Tướng Thi có việc cần, tôi mời anh ngồi xuống và tiếp tục ăn trưa:

"Anh thông cảm cho tôi nghe. Cái nghiệp chánh văn phòng và tùy viên của tụi mình là không có quyền ra lệnh cho ai hết, mà chỉ có nhận lệnh và chuyển lệnh thôi. Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng dặn tôi là tất cả các bạn không nên rời khỏi đây cho đến khi các vị họp xong. Vậy, mời anh hãy tự nhiên với chúng tôi như lúc nào. Thông cảm nghe anh".

Tôi nghĩ, anh tùy viên muốn ra khỏi đây để báo về nhà Trung Tướng Thi và báo ra Ðà Nẳng cho Quân Ðoàn biết tình trạng của Trung Tướng Thi, vì rõ ràng là Trung Tướng Thi "bị cưỡng bách" trước mắt anh chớ không phải đến đây để họp như ngày hôm qua.

Cuối cùng cũng không đạt kết quả, nên Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp quyết định "quản thúc" Trung Tướng Thi, lúc đầu dự trù tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng sau đó đưa về quản thúc tại nhà ông với sự canh giữ của An Ninh Quân Ðội và Quân Cảnh.

Lúc bấy giờ là buổi chiều, trong phòng làm việc của Trung Tướng Viên, cả 4 vị Tướng đều mệt mỏi với nét mặt đăm chiêu, và trong nhiều phút không vị nào lên tiếng, chừng như mỗi vị có cách nghĩ riêng của mình thì phải? Riêng Trung Tướng Thiệu, mặt ông hơi đỏ lên với những giọt mồ hôi lấm tấm hai bên thái dương mặc dù ông vừa từ phòng lạnh bên kia sang phòng lạnh này, chứng tỏ là không khí buổi họp rất căng thẳng. Trước khi ra về, Trung Tướng Viên tạt vào phòng tôi:

"Chú mời "Ðại Hội Ðồng Quân Lực" họp lúc 10 giờ sáng mai (10/3/1966). Không mời Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 (Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, tại Huế) và Sư Ðoàn 2 (Chuẩn Tướng Hoàng Xuân Lãm, tại Quảng Ngãi). Lý do sẽ cho biết khi họp".

"Phòng họp nào, thưa Trung Tướng?

"Bên phòng họp số 2".

"Vâng".

Ðại Hội Ðồng Quân Lực có 36 vị, gồm: Tất cả các vị trong Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia. Các vị Tướng Lãnh. Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh, Truyền Tin, Quân Vận, và Biệt Ðộng Quân. Các vị Tư Lệnh Quân Chủng, Tư Lệnh Nhẩy Dù, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, đều là Tướng Lãnh, đương nhiên trong thành phần trên rồi. Mỗi lần mời họp đều sử dụng điện thoại, và phải mời các vị ở xa trước để quí vị ấy kịp chuẩn bị phương tiện về Sài Gòn, sau đó mới mời các vị trong Quân Trấn Sài Gòn và lân cận.

Mời xong, chưa kịp thu xếp ra về. Lúc ấy màn đêm xuống khá lâu, điện thoại lại reo:

"Trung Tá Hoa tôi nghe".

"Chú mời xong chưa?

"Dạ vừa xong, thưa Trung Tướng".

"Chú xác nhận lại với các vị là họp lúc 8 giờ sáng, tức sớm hơn 2 tiếng đồng hồ. Chú ráng làm ngay trong đêm nay".

"Vâng. Tôi sẽ lần lượt xác nhận lại, thưa Trung Tướng".

Khi trả lời câu hỏi đầu tiên của Trung Tướng Viên, tôi cứ tưởng sẽ nhận được lời khen của ông, nào ngờ chẳng khen mà lại nhận thêm công tác. Vậy là bắt đầu làm lại. Và cứ theo "bổn cũ" mà làm. Mãi đến gần nửa đêm mới rời văn phòng!

Ngày 10 tháng 3 năm 1966. Tại phòng họp số 2, còn có tên là "Tân Sinh Nông Thôn" trong tòa nhà trệt bên kia đường, xéo về bên phải của tòa nhà chánh, Ðại Hội Ðồng Quân Lực họp dưới sự chủ tọa của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia.

Vào phòng họp, tôi cảm nhận ngay bầu không khí căng thẳng, ngột ngạt, vì tất cả các vị đều im lặng. Tuy khi mời không nêu lý do nhưng giữa các vị chắc đã có liên lạc nhau trước nên cũng hiểu được tại sao có buổi họp đặc biệt này. Tôi nhận ra điều này là do vài vị nói chuyện với nhau trước khi vào phòng họp.

Mở đầu, Trung Tướng Thiệu tuyên bố lý do. Tiếp đến là Thiếu Tướng Kỳ, rồi Trung Tướng Có, liên tục nêu những lời phát biểu cũng như những hành động của Trung Tướng Thi trong thời gian qua, đã lạm quyền trung ương và chống lại trung ương chẳng khác tình trạng "một sứ quân" hay là "một chánh phủ trong một chánh phủ". Thiếu Tướng Kỳ và Trung Tướng Có nói nhiều nhất, nói hăng nhất. Ðúng ra là hai vị luân phiên "hài tội" Trung Tướng Thi nhưng Trung Tướng Thi đang bị quản thúc tại nhà ông, nghĩa là không có mặt trong phòng họp. Những điều mà các vị nêu lên về lời tuyên bố cũng như hành động của Trung Tướng Thi, trước đây báo chí đã đăng tải khi những sự kiện đó xảy ra. Chẳng hạn như Trung Tướng Thi nhân danh Ðại Biểu Chánh Phủ, đã ấn định giá biểu từ Huế vào Sài Gòn cho chi nhánh Hàng Không Việt Nam tại Huế và Ðà Nẳng. Theo giá biểu này thì thấp nhiều so với giá biểu do Tổng Nha Hàng Không Việt Nam qui định. Ðến chuyện Trung Tướng Thi tự ý bổ nhiệm Thiếu Tá Nghĩa (dường như là họ Nguyễn) vào chức vụ Tỉnh Trưởng tỉnh Quảng Tín, sau khi trung ương không chấp nhận đề nghị này. Dĩ nhiên là Thủ Tướng Kỳ vẫn bác bỏ quyết định đó của Trung Tướng Thi. Và v.. v..

Phải thừa nhận rằng, Thiếu Tướng Kỳ cũng như Trung Tướng Thi, mỗi vị đều có những cái đúng và những điều sai, vì cả hai đều có tiếng là nóng tính, dễ giận, nghĩ sao nói vậy, nói tuốt luột những điều mình nghĩ đến mức gọi là "nói thẳng ruột ngựa". Nhưng trường hợp này, theo tôi, Trung Tướng Thi hoàn toàn sai. Quyết định bổ nhiệm Tỉnh Trưởng là quyền của Thủ Tướng tức Thiếu Tướng Kỳ, Ðại Biểu Chánh Phủ chỉ có quyền đề nghị mà thôi. Trung Tướng Thi đôi lần đã tuyên bố với báo chí rằng, "các Tướng Lãnh cầm quyền ở trung ương có hành động tham những".

Sự kiện đúng hay sai cần phải viện dẫn đầy đủ bằng cớ, chớ Trung Tướng Thi không thể căn cứ vào điều ông nghĩ mà ông tự ý hành động vượt quyền như vậy được. Nếu Trung Tướng Thi cho là các vị Tướng cầm quyền tham nhũng, ông cứ đưa ra tòa với những bằng cớ rành rành thì quan tòa làm sao bao che được. Với lại nếu lời tố cáo của Trung Tướng Thi được minh chứng xác thật với bằng cớ, chắc chắn dư luận -nhất là các cơ quan truyền thông- chẳng ngại ngùng gì mà không lên tiếng ủng hộ, như vậy là sự kiện này càng thêm thuận lợi cho Trung Tướng Thi cũng như thuận lợi cho phiên tòa xét xử.

Hoặc Trung Tướng Thi phản đối trung ương bằng cách từ chức là cách hay nhất mà ông có thể làm được. Thậm chí, Trung Tướng Thi có thể đứng ra lãnh đạo cuộc đảo chánh để thành lập một chánh phủ trong sạch lãnh đạo quốc gia, vì đảo chánh không phải là điều xa lạ cũng không phải là điều khó khăn đối với Trung Tướng Thi. Còn trong khi đang tại chức với cấp bậc Trung Tướng, mà ông tự tách mình ra khỏi trung ương để chống đối trung ương thì còn gì là kỷ luật quân đội, còn gì là một chánh quyền thống nhất để bảo vệ quốc gia dân tộc đang bị cộng sản xâm lăng!

Sau nhiều tiếng đồng hồ thảo luận gay gắt, đến phần bỏ phiếu kín: "Thuận hay không thuận cách chức Trung Tướng Thi?". Khi kiểm phiếu có 1 phiếu trắng, còn lại đều thuận. Trung Tướng Có, đẩy ghế ra sau, đứng dậy, và lên tiếng:

"Trong phòng họp này, chúng ta là những người có trách nhiệm trong Ðại Hội Ðồng với tư cách thay mặt toàn quân, bỏ phiếu thuận hoặc không, còn phiếu trắng trong trường hợp này là "lưng chừng", không dứt khoát lập trường. Vậy, ai là người bỏ phiếu trắng nên giải thích cho anh em rõ?

Vừa dứt câu, có tiếng ghế đẩy thật mạnh, tất cả cặp mắt của những vị có mắt gần như đồng loạt quay nhìn, và một người dõng dạc đứng lên. Ðó là Chuẩn Tướng Dư Quốc Ðống, Tư Lệnh Nhẩy Dù:

"Kính thưa Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, kính thưa quí vị. Tôi là người bỏ phiếu trắng. Trung Tướng Thi đã một thời là cấp chỉ huy của tôi trong binh chủng Nhẩy Dù, nên tôi không thể hành động chống Trung Tướng Thi cho dù Trung Tướng Thi có sai trái với quân đội. Tôi vẫn biết rằng, hành động của tôi không làm thay đổi được quyết định chung cuộc, nhưng tôi vẫn làm vì lẽ đó. Và nếu sau này, có điều gì xảy ra với Trung Tướng Viên, tôi vẫn hành động như tôi vừa làm. Và bây giờ, quí vị toàn quyền quyết định về tôi: "Ở lại hay ra khỏi Nhẩy Dù, tôi thi hành ngay". Xin cám ơn".

Cả phòng họp im phăng phắc. Cuối cùng cũng không có quyết định gì về Chuẩn Tướng Ðống, có lẽ các vị thừa nhận tính khẳng khái của vị Tướng Tư Lệnh Nhẩy Dù mà không bàn gì về ông chăng?

Tôi rất khâm phục nghĩa khí và lòng dũng cảm của Chuẩn Tướng Dư Quốc Ðống, ông xứng đáng là vị Tư Lệnh binh chủng Nhẩy Dù. Ðành rằng, nếu Ðại Hội Ðồng Quân Lực có cách chức ông và để ông "ngồi chơi xơi nước" đi nữa, ông vẫn là Tướng Lãnh, nhưng thử hỏi có được bao nhiêu vị Tướng khẳng khái như ông. Sau buổi họp, tôi đến chào Chuẩn Tướng Ðống và xin được bắt tay ông, chỉ vì hành động vừa rồi của ông.

Thế là quyết định cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Quân Khu I và Ðại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp ngày hôm qua, trở thành quyết định chung cuộc của Ðại Hội Ðồng Quân Lực hôm nay, mà Ðại Hội Ðồng Quân Lực trên nguyên tắc là thay mặt toàn quân.

Ngay lúc buổi họp vừa chấm dứt, đa số quí vị thành viên Ðại Hội Ðồng Quân Lực vừa từ từ ra cửa vừa bàn luận tình hình chiến sự gần như là chuyện bên lề, không biết có phải quí vị muốn chuyển sang bầu không khí trách nhiệm thường xuyên để làm nhẹ đi hoặc quên đi cái không khí căng thẳng trong tình đồng đội chen lẫn trong lãnh vực chính trị vừa rồi hay không, nhưng rõ ràng là không khí rộn ràng vui vẻ hẳn lên chớ không nặng nề như lúc ngồi trong phòng họp. Trung Tướng Viên gọi tôi về văn phòng gặp ông:

"Chú tìm Chuẩn Tướng Nhuận và mời đến gặp tôi ngay".

"Hy vọng là tôi tìm được vì nhà Chuẩn Tướng Nhuận ở trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, thưa Trung Tướng".

Ðó là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, là một trong chín Ðại Tá được thăng cấp Chuẩn Tướng hồi tháng 7/1964 ngay khi Trung Tướng Nguyễn Khánh vừa thiết lập cấp bậc Chuẩn Tướng. Ông đang là Chỉ Huy Trưởng binh chủng Biệt Ðộng Quân.

Rất may, Chuẩn Tướng Nhuận có mặt tại nhà. Vào văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng một lúc, khi trở ra ông tạt vào phòng tôi và nói là ông hy vọng tôi giúp ông cho kịp. Nói xong, ông vội vàng đi ngay chừng như thời gian gấp rút lắm. Tôi nói vói theo là tôi "sẽ cố gắng", nhưng thật ra tôi chưa hiểu việc gì tôi phải làm liên quan đến "hy vọng" mà Chuẩn Tướng Nhuận vừa nói, cho đến khi Trung Tướng Viên bấm chuông gọi tôi:

"Chú làm ngay mấy việc. Thứ nhất, chú thu xếp lấy chiếc C47 đưa Chuẩn Tướng Nhuận và các sĩ quan tháp tùng ông ra Huế ngay chiều nay (10/3/1966). Thứ hai, điện thoại ra Huế yêu cầu Thiếu Tướng Chuân (Nguyễn Văn Chuân) chuẩn bị và thực hiện công tác bàn giao chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh cho Chuẩn Tướng Nhuận ngay khi ông Nhuận đến Huế. Sáng ngày mai (11/3/1966), Thiếu Tướng Chuân vào Ðà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Quân Khu I. Thứ ba, điện thoại Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn I, đón Thiếu Tướng Chuân và trình bày tình hình mới nhất để ông Chuân nắm vững tình hình. Và thứ tư, gởi công điện "hỏa tốc" xác nhận lệnh đó với Quân Ðoàn I/Quân Khu I và Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Chú có gì cần hỏi thêm không?

"Dạ không, thưa Trung Tướng".

Một Thông Cáo của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia được phổ biến trên các làn sóng phát thanh vào buổi tối, theo đó, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia đã chấp thuận cho Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Quân Khu I, xuất ngoại chữa bệnh mũi một thời gian. Thông Cáo đơn giản chỉ có thế, nhưng đoạn văn này lại là khởi đầu cho một cuộc khủng hoảng chính trị trong nội tình Việt Nam chúng ta. Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia xem như giải quyết được sự chống đối của Trung Tướng Thi, nhưng lại phát sinh vấn đề khác, giống như nhiều loại thuốc trị bệnh có kèm theo tác dụng phụ của nó vậy. Vấn đề của Trung Tướng Thi là vấn đề lớn, vì nếu không lớn hà tất phải triệu tập Ðại Hội Ðồng Quân Lực, nhưng vấn đề phát sinh thì lớn hơn nhiều và lâu hơn nhiều.

Khủng hoảng bắt đầu.

Sự kiện Thủ Tướng là Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ với Ðại Biểu Chánh Phủ tại miền Trung là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi bất đồng nhau trầm trọng, không giới nào trong xã hội là không biết. Ấy vậy mà nội dung Thông Cáo như thế thì làm sao che được mặt bên kia của vấn đề. Xin nhớ rằng, Trung Tướng Thi rất được lòng của khối Phật Giáo miền Trung, trong đó có cả sinh viên, quân nhân Phật tử, và giới chính trị nữa. Cho nên có tệ lắm thì người ta cũng nhận thức được sự kiện Trung Tướng Thi bị trung ương cách chức và đưa đi lưu vong. Thêm nữa, nếu thật sự Trung Tướng Thi đi ngoại quốc chữa bệnh thì cần gì phải Thông Cáo cho toàn dân biết, chỉ cần cái sắc lệnh của Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, cho phép Trung Tướng Thi xuất ngoại, đồng thời cử vị Tướng khác thay thế trong thời gian ông ấy vắng mặt là đủ. Chính sự có mặt của bản Thông Cáo ở cấp lãnh đạo quốc gia là điều không bình thường chút nào.

Thế là Phật Giáo có phản ứng. Và phản ứng đầu tiên bằng cuộc mít tinh biểu tình tại Ðà Nẳng, đòi chánh phủ phục chức cho Trung Tướng Thi. Ðòi hỏi này nhanh chóng lan ra Huế và vào vài tỉnh lân cận phía nam Ðà Nẳng. Khí thế của các cuộc mít tinh biểu tình ngày càng mạnh mẽ với số người tham gia ngày càng đông, đông đến độ khó ước lượng được là bao nhiêu.

Trước tình hình này, tôi cảm thấy các vị lãnh đạo trung ương dường như không tiên liệu đến, hoặc có tiên liệu nhưng tiên liệu không đến mức báo động cao như vậy. Ngay ngày phản ứng đầu tiên của khối người đông đảo tại Ðà Nẳng, Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, với Trung Tướng Viên, họp trong phòng Trung Tướng Viên. Rồi những ngày sau đó là họp liên miên, không giờ giấc gì cả. Chúng tôi lo ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, và ăn tối luôn. Với thành phần như vậy, có thể gọi là "Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp của thu hẹp", vì không có mặt Trung Tướng Tổng Thư Ký, và hai vị Tướng Tư Lệnh Không Quân với Tư Lệnh Hải Quân. Phải có 3 vị này mới đủ thành phần thu hẹp của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia.

Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, được Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia cử vào chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, đồn trú tại Huế và Quảng Trị, rất có thể vì ông là người sinh trưởng tại miền Trung và là một Phật tử, hy vọng ông có thể thuyết phục được những thành phần chống đối. Nhưng ngay khi nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, ông đã tuyên bố đứng vào "hàng ngũ lực lượng tại Huế chống lại trung ương". Do đó mà ông được xem là Tư Lệnh của lực lượng chống đối tại đây. Sự kiện này cho thấy quí vị trong Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia đã quá đơn giản khi bổ nhiệm một Tướng Lãnh vào một chức vụ rất cần uy tín, bản lãnh, với một phong cách vừa thuyết phục vừa cương quyết, mà theo tôi, Chuẩn Tướng Nhuận không có những yếu tố đó.

Tôi không rõ là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi có đề nghị hay không, mà các vị lãnh đạo quyết định cho ông trở ra Ðà Nẳng gọi là để giải thích sự việc với đồng bào, yêu cầu đồng bào chấm dứt những xáo trộn trong khi chánh phủ cần tập trung nỗ lực vào tình hình quân sự. Ngày 17/3/1966, chiếc C47 của Không Quân đưa Trung Tướng Thi ra Ðà Nẳng. Trước khi lên phi cơ tại phi trường Tân Sơn Nhất, ông tuyên bố với báo chí rằng:

"Tôi chẳng có bệnh mũi gì cả, mà cho dù có bệnh đi nữa thì tôi cũng điều trị tại Việt Nam chớ không đi nước nào hết. Sự thật là như vậy".

Lời tuyên bố này chính là sự xác nhận rõ ràng và dứt khoát. Cũng có nghĩa là ông đã vạch trần nội dung bản Thông Cáo ngày 10/3/1966 của Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia nói về ông. Tôi nghĩ, các vị trung ương chắc đã phải cảm nhận "cái tát" khi xem câu trả lời ngắn ngủi đó trên các báo tại thủ đô Sài Gòn.

Rồi sau đó. Cứ mỗi lần Trung Tướng Thi xuất hiện ở Ðà Nẳng, Huế, hay Quảng Nam, đều được sự ủng hộ nồng nhiệt của đám đông mít tinh biểu tình. Và những lời tuyên bố của ông đều chung một ý là ông cùng với đồng bào nơi đây chống lại các Tướng Lãnh cầm quyền tại trung ương.

Thế là cuộc "khủng hoảng miền Trung" -báo chí thường gọi như vậy- tự dưng được "trung ương" tăng cường thêm hai Tướng Lãnh, do đó mà khí thế càng thêm mạnh! Sai lầm nghiêm trọng của trung ương trong quyết định chọn người vào chức vụ quan trọng, hy vọng sẽ là một trong những bài học lãnh đạo trong tương lai đối với những thế hệ tiếp sau.

Tiếp đến, Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu, Tổng Thư Ký Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia bay ra Huế, cũng với hy vọng trong một chừng mực nào đó, ông có thể thuyết phục được Trung Tướng Thi. Ông đến tòa đại biểu chánh phủ (Huế) cùng với Trung Tướng Thi, trong khi bên ngoài đông nghẹt thanh niên sinh viên. Từ trong đám đông đó có người bước ra hỏi Trung Tướng Chiểu:

"Trung Tướng có công nhận hành động của chúng tôi là đúng không?

"Ðúng". Trung Tướng Chiểu trả lời.

"Trung Tướng công nhận là đúng. Vậy Trung Tướng có ở lại Huế với chúng tôi không?

"Có".

Lập tức, một nhóm thanh niên ùa vào hoan hô Trung Tướng Chiểu và công kênh ông ra xe đưa đến khách sạn bên khu chợ Ðông Ba. Nhóm thanh niên này nói là luôn luôn túc trực bên cạnh Trung Tướng Chiểu và ông cần gì cứ gọi họ. Chữ "túc trực" ở đây được hiểu là "canh giữ" Trung Tướng Chiểu.

Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan -cánh tay phải của Thủ Tướng Kỳ- Tổng Giám Ðốc Cảnh Sát kiêm Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Ðội, cử nhiều toán Cảnh Sát, An Ninh, Tình Báo dưới quyền ông ra Huế và Ðà Nẳng, bám sát tình hình. Mỗi ngày báo cáo hai lần về Phủ Thủ Tướng và thông báo văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng. Còn chính ông, sự đi lại giữa Ðà Nẳng với Sài Gòn bất cứ lúc nào mà ông cho là cần thiết.

Ngoài ra, tổng đài điện thoại Cộng Hòa trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, được lệnh thu băng toàn bộ các cuộc nói chuyện bất cứ là ai, bất cứ từ đâu đến, mà ngang qua hệ thống viễn liên này và trình lên văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng vào đầu giờ buổi sáng, và cuối giờ buổi chiều. Ðây là nguồn cung cấp thông tin xác thật nhất về những lời đối thoại giữa các tỉnh miền Trung với Sài Gòn, bất luận người nói chuyện là ai cũng đều thu vào và trình lên tất cả. Nhờ đó mà tôi biết được những lời đối thoại giữa các vị Tướng từ trung ương với vị Tư Lệnh Quân Ðoàn I cũng như với các vị Tư Lệnh khác.

Tuy có được những công điện mật mã thường xuyên của nhóm an ninh tình báo, cùng với những tờ trình của tổng đài điện thoại Cộng Hòa, nhưng trong những cuộc đàm thoại giữa Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có từ Sài Gòn với Thiếu Tướng Chuân tại Ðà Nẳng, thì không thể nào hiểu được tình hình thật sự khi nhìn từ Bộ Tổng Tham Mưu. Trung Tướng Thiệu gọi tôi:

"Chú liên lạc với Thiếu Tướng Chuân, hỏi tình hình hôm nay ra sao rồi cho tôi biết".

"Vâng. Tôi gọi ngay, thưa Trung Tướng".

Tôi điện thoại ra Ðà Nẳng và Thiếu Tướng Chuân đang có mặt tại văn phòng:

"Tôi Hoa đây thưa Thiếu Tướng. Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia muốn biết sự thật của tình hình bây giờ ra sao. Hoặc là Thiếu Tướng tiếp chuyện trực tiếp với Trung Tướng, hoặc tôi sẽ chuyển trình lại Trung Tướng, thưa Thiếu Tướng".

"Anh trình với Trung Tướng Chủ Tịch là tình hình không có gì đáng ngại đâu. Như thế là được rồi, tôi khỏi phải trình nữa".

Thiếu Tướng Nguyễn Văn Truân, những tháng cuối năm 1954 là Trung Tá, Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt, lúc ấy tôi là sinh viên sĩ quan trừ bị của Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức trong số hơn 200 sinh viên gởi lên đây học, vì Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức không đủ cơ sở. Từ đó, tôi thường liên lạc với ông trong tình thầy trò.

Tôi trình lại Trung Tướng Thiệu thì Trung Tướng Có bảo tôi gọi cho ông nói chuyện trực tiếp với Thiếu Tướng Chuân. Kết quả cuộc đàm thoại đó cũng là những thông tin mà tôi nhận lúc nãy thôi.

Một tháng sau ngày cách chức Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, hầu như tất cả sinh hoạt tại Ðà Nẳng, Huế, và vài tỉnh lân cận, nói chung là rất xáo trộn, đôi lúc được xem là hỗn loạn nữa. Vì vậy mà phòng làm việc của Trung Tướng Viên trở thành nơi làm việc hằng ngày của Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Có. Hội họp liên tục và những quyết định về tình hình miền Trung cũng như liên quan đến các đại đơn vị khác, đều xuất phát từ đây.

Trung Tướng Có quyết định, chính ông phải ra Ðà Nẳng để biết rờ tình hình, chớ mờ mờ ảo ảo như thế này thì không thể giải quyết được mà có thể ngày càng trầm trọng đến mức nguy hiểm. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên, khuyên Trung Tướng Có không nên mạo hiểm, vì rất có thể là Thiếu Tướng Chuân đã bị phía chống đối quản thúc canh giữ nên Thiếu Tướng Chuânkhông thể trình bày sự thật được. Nếu sự thể xảy ra như vậy thì Trung Tướng Có sẽ tự mình dấn thân vào thế bị động của Thiếu Tướng Chuân luôn. Nhưng Trung Tướng Có vẫn giữ nguyên quyết định, và ông đi Ðà Nẳng.

Ðến căn cứ Không Quân Ðà Nẳng, Trung Tướng Có gọi về cho biết, con đường từ căn cứ Không Quân đến bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I đầy chướng ngại vật, nhưng phía chống đối mở lối cho xe của Quân Ðoàn đến đón ông. Rồi cũng không khác Thiếu Tướng Chuân về cách trình bày tình hình, và Trung Tướng Thiệu tin là Trung Tướng Có đã bị quản thúc cùng với Thiếu Tướng Chuân. Thế là trung ương tiếp tục lún sâu vào thế bị động.

Biện pháp quân sự.

Ngày 14/4/1966, trung ương quyết định chuyển quân ra Ðà Nẳng để giải quyết tình hình. Nói cho thật đúng là Thiếu Tướng Kỳ quyết định sử dụng biện pháp mạnh. Trung Tướng Thiệu không phản đối nhưng cũng không hẳn là đồng ý, Trung Tướng Viên vẫn như từ ngày đầu đến giờ là không tham gia quyết định nào cả vì ông cho rằng đây là vấn đề chính trị, vấn đề của chánh phủ mà ông chỉ thi hành lệnh thôi. Trước khi ra về, Trung Tướng Viên gọi tôi vào phòng:

"Sáng sớm mai tôi và bộ chỉ huy hành quân ra Ðà Nẳng, chú lo mấy việc sau đây: Chuẩn bị giường xếp và lương thực 7 ngày cho 10 người ăn. Chú Có và vài chú trong toán an ninh theo tôi. Chú tìm ngay Trung Tá Mã Sanh Nhơn cùng đi với tôi. Trung Tá Nhơn sẽ là Thị Trưởng Ðà Nẳng thay cho Bác Sĩ Mẫn đã theo phía chống đối. Chú liên lạc với văn phòng Thiếu Tướng Kỳ để biết giờ phi cơ Caravelle cất cánh. Chú lo ngay cho kịp".

Giao công tác lo giường xếp với lãnh lương khô cho Ðại úy Có xong, tôi liên lạc với chánh văn phòng của Thủ Tướng Kỳ được biết, bộ chỉ huy hành quân sẽ đi bằng phi cơ Caravelle của Hàng Không Việt Nam và cất cánh lúc 3 giờ sáng trước phòng VIP. Ðiều tôi lo nhất là không biết có tìm được Trung Tá Mã Sanh Nhơn hay không vì gần đây tôi ít có dịp liên lạc với anh, nhưng cuối cùng tôi cũng tìm được. Khi ra sân bay, tôi thấy có một cô gái người Huế cùng đi với Trung Tá Nhơn, và theo lời Trung Tá Nhơn thì cô này có khả năng giúp anh thuyết phục thanh niên học sinh Ðà Nẳng.

Trong cuộc chuyển quân này, Không Quân Hoa Kỳ dứt khoát không cho mượn phi cơ vận tải hạng nặng C130 để chở chiến xa, họ nêu lý do phương tiện chiến đấu chỉ sử dụng trong chiến tranh chớ không can dự vào cuộc khủng hoảng chính trị nội bộ, nhất là đàn áp đồng bào. Họ nói rất đúng, nhưng liệu lý do đó còn có mặt trái của nó hay không? Hãy chờ.

Tại phi trường, tôi được biết Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong, Trưởng Phòng 3/Tổng Tham Mưu, đã điều động Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù vào cuộc hành quân này. Ngoài Thủ Tướng Kỳ, Trung Tướng Viên, còn có Thiếu Tướng Lê Nguyên Khang, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến và Chuẩn Tướng Dư Quốc Ðống, Tư Lệnh Nhẩy Dù.

Từ căn cứ Không Quân Ðà Nẳng, Ðại Úy Nguyễn Hữu Có, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, điện thoại về tôi:

"Trung Tướng và bộ chỉ huy đã đến nơi và trú đóng trong căn cứ Không Quân. Theo tin tức thì ngoài đường phố đầy nghẹt bàn thờ và người của phía chống đối khi họ biết lực lượng tổng trừ bị ra đây giải quyết tình hình. Có vẻ rắc rối lắm. Trung Tướng Có (tại bộ tư lệnh Quân Ðoàn I) tức giận về việc Nhẩy Dù với Thủy Quân Lục Chiến có mặt ngoài này đó anh. Có gì lạ tôi sẽ gọi về anh".

Vậy là "không khí chiến tranh" giữa trung ương với địa phương rất sẵn sàng xảy ra, nếu như phía trung ương có một hành động nào đó mà phía chống đối cho là khiêu khích. Trong ngày đầu tiên, lực lượng trung ương án binh bất động, phía chống đối củng cố công tác bố trí lực lượng trên đường phố trong tư thế "nghênh chiến". Cái đau ở chỗ "cả hai phía đều là phe ta cả!"

Trung Tướng Có điện thoại về phòng Tổng Tham Mưu Trưởng nói chuyện với Trung Tướng Thiệu:

"Tại sao trong khi tôi đang dàn xếp với bên kia thì anh lại đưa quân ra thế này? Bây giờ không còn cách nào nói chuyện với họ được vì họ không tin tôi nữa!

"Ông Kỳ đó".

"Anh cho rút về ngay đi. Nếu không thì tình hình sẽ nguy hiểm lắm".

"Ðược. Tôi sẽ cho lệnh rút về".

Trung Tướng Thiệu ngồi tại bàn viết của Trung Tướng Viên, tự ông viết công điện ra lệnh chuyển lực lượng tổng trừ bị về Sài Gòn và ký ngay trên bản thảo đó. Ông gọi tôi:

"Chú đánh máy xong, trình Trung Tướng Viên ký và gởi đi ngay cho tôi. Xong, trình lại tôi".

"Vâng, tôi làm ngay thưa Trung Tướng".

Ngay đêm hôm đó (15/4/1966), Thủ Tướng Kỳ và Trung Tướng Viên về lại Sài Gòn, giao cho Chuẩn Tướng Trần Thanh Phong chỉ huy. Lệnh này gây rắc rối, vì Chuẩn Tướng Phong kém cấp bậc và kém thâm niên, nên Thiếu Tướng Khang và Chuẩn Tướng Ðống cũng trở về Sài Gòn và trao quyền chỉ huy cho hai vị Tư Lệnh Phó của hai ông.

Tôi thuật lại cuộc nói chuyện giữa Trung Tướng Thiệu với Trung Tướng Có, đồng thời trình công điện "hỏa tốc" (có nghĩa là phải gởi ngay) cho Trung Tướng Viên mà tôi đã đánh máy xong. Ông không nhìn vào mà nói:

"Chú để trên bàn cho tôi".

Sáng hôm sau, Trung Tướng Thiệu đến sớm trong khi Trung Tướng Viên chưa đến, khi đi ngang bàn tôi ông ra hiệu tôi theo ông vào phòng:

"Chú làm xong chưa?

"Thưa Trung Tướng, xong rồi, nhưng Trung Tướng Viên chưa ký".

"Tại sao?

"Tôi không rõ, thưa Trung Tướng".-

"Khi Trung Tướng Viên tới là chú trình ngay cho tôi".

"Vâng".

Trung Tướng Viên đến, và sau khi ông điện thoại với Thiếu Tướng Kỳ, tôi không rõ là Thiếu Tướng Kỳ nói gì mà Trung Tướng Viên duyệt ký công điện đó.

Lực lượng rút về xong thì Trung Tướng Có cũng được phía chống đối cho "tự do" sang căn cứ Không Quân về Sài Gòn. Trung Tướng Chiểu từ Huế cũng vậy.

Trung Tướng Tôn Thất Ðính, một trong năm vị Tướng bị ba vị trong nhóm lãnh đạo "Chỉnh lý ngày 30/1/1964" quản thúc tại Ðà Nẳng rồi chuyển lên quản thúc ở Ðà Lạt, 3 tháng sau đó được tự do nhưng không được giữ các chức vụ có quân có quyền. Trường hợp như vậy báo chí thường gọi là "Tướng không quân". Trung Tướng Ðính ngỏ ý với bà Cao Văn Viên mà ông tin chắc là đến tai Trung Tướng Viên, và rồi Trung Tướng Thiệu với Thiếu Tướng Kỳ cũng biết. Theo đó, Trung Tướng Ðính bắn tiếng rằng: "Nếu được tín nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn I, ông có khả năng giải quyết được tình hình một cách êm dịu". Bà Viên nói cho tôi nghe như vậy.

Và chắc là nghe xuôi tai, với lại trong khi chưa chọn được vị nào khác, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp, quyết định cử Trung Tướng Tôn Thất Ðính vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn I thay Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và tôi được lệnh lo phi cơ đưa ông và các sĩ quan tháp tùng ra Ðà Nẳng. Ngày hôm sau, một mẩu tin trên nhiều nhật báo tại thủ đô Sài Gòn có nội dung vắn tắt như thế này:

"Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Ðính tuyên bố là cọp về rừng".

Ðúng là "cọp lại về rừng", vì sau khi Trung Tướng Ðính nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I thì ông tuyên bố tại Ðà Nẳng cũng như sau đó tại Huế, là ông chờ ngày này đã lâu lắm rồi. Ðồng thời ông nói thẳng ra rằng ông đứng về phía lực lượng chống đối trung ương. Thế là không khí đấu tranh trong hàng ngũ chống đối chánh phủ càng thêm hăng hái, vì có thêm một Tướng lãnh vừa từ trung ương ra là chống lại trung ương ngay.

Lúc này hầu hết vũ khí dự trữ trong các kho Tiếp Vận tại Huế và Ðà Nẳng, đều bị phía chống đối lấy trang bị cho lực lượng của họ. Tư Lệnh lực lượng chống đối tại Huế là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Tại Ðà Nẳng, phía chống đối tổ chức một Quân Ðoàn lấy tên là "Quân Ðoàn Trần Hưng Ðạo" do Ðại Tá Ðàm Quang Yêu giữ chức Tư lệnh. Có một số Cảnh Sát và quân nhân Phật tử tham gia. Nói là Quân Ðoàn nhưng thật ra chỉ là một số quân nhân và cảnh sát Phật tử tập hợp lại thôi, chớ có tổ chức Sư Ðoàn Trung Ðoàn gì đâu. Còn Ðại Tá Ðàm Quang Yêu, đang là Chỉ Huy Trưởng Ðặc Khu Quảng Ðà (tức Quảng Nam Ðà Nẳng), được phía chống đối đưa ông vào chức Tư Lệnh Quân Ðoàn Trần hưng Ðạo.

Theo đề nghị của Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan, Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Ðội, đang có mặt tại Ðà Nẳng, Trung Tướng Viên bảo tôi liên lạc với Cục Quân Cụ (quản trị các loại dụng cụ chiến tranh) đưa lên căn cứ Không Quân 500 khẩu súng trường loại MAS 36 (do Pháp sản xuất từ đệ nhị thế chiến) mà Cục không cần biết lý do. Không Quân chuyển số súng này ra Ðà Nẳng và dùng trực thăng đưa đến hai Quận phía bắc thành phố Huế, trang bị cho các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Ðảng.Lực lượng tình nguyện sẽ chống cộng sản và chống cả lực lượng đang chống đối trung ương.

Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp, đã lần lượt thất bại trong việc chọn người giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I sau khi cách chức Trung Tướng Thi, ngay việc hai vị Tướng lãnh từ trung ương ra Huế và Ðà Nẳng tìm hiểu và giải quyết tình hình tại chỗ, cũng đều thất bại. Từ những thất bại đó, những va chạm qua lại đã xảy ra là điều không tránh khỏi, và trong nội bộ đã hình thành hai nhóm:

- Nhóm thứ nhất gồm: Trung Tướng Thiệu, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Ðặng văn Quang, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV.

- Và nhóm thứ hai gồm: Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Viên, Thiếu Tướng Khang, và Chuẩn Tướng Ðống.

Sở dĩ tôi dùng chữ "Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thu hẹp" vì những quyết định đều do những vị trong số 4 vị trên đây đưa ra chớ không phải đầy đủ trong thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia 11 người. Trình bày như vậy, tôi có ý lách phần trách nhiệm của 7 vị còn lại trong Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia không có mặt trong những quyết định liên quan trực tiếp đến tình hình xáo trộn gần hai tháng qua. Với lại chữ "thu hẹp" mà tôi dùng ở đây cũng không hoàn toàn đúng nghĩa nữa, mà phải gọi là "thu hẹp của thu hẹp"'.

Trong khi đó, các vị lãnh đạo phía chống đối chuyển mục tiêu đấu tranh sang đòi xây dựng một chế độ dân cử. Mục tiêu của phía chống đối, bước đầu là phục chức cho Trung Tướng Thi, khi Trung Tướng Thi về lại Ðà Nẳng thì chuyển sang bước thứ hai là đấu tranh đòi Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, và Trung Tướng Có từ chức, và bây giờ là bước thứ ba hoàn toàn về chính trị.

Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, rõ ràng là từ lúc khởi đầu đến bây giờ đều trong thế bị động, tuy đã có nhiều cố gắng để tái lập ổn định tình hình nhưng tất cả đều không thành công. Từ đó dẫn đến rạn nứt trong nội bộ thành hai nhóm, và nếu tình trạng này không sớm chấm dứt thì rồi đây đất nước sẽ như thế nào? Danh dự và trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc, quí vị quên rồi sao? Lẽ nào lại thế!

Dù thế nào đi nữa thì Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, cũng phải tìm một vị Tướng khác ra thay Trung Tướng Ðính, và vị đó là Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao. Thiếu Tướng Cao từ sau cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963, chỉ giữ những chức vụ không có quân trong tay và những chức vụ cũng chẳng có gì quan trọng theo đúng nghĩa của nó. Các vị chọn Thiếu Tướng Cao cũng là điều khó hiểu, vì Thiếu Tướng Cao là tín đồ Thiên Chúa Giáo. Thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cầm quyền, ông rất được tín cẩn. Bây giờ được cử vào chức vụ có trách nhiệm giải quyết cuộc khủng hoảng với Phật Giáo, thì liệu mức độ thành công có được bao nhiêu! Lại thêm một chọn lựa liều lĩnh nữa chăng?

Khi Thiếu Tướng Cao từ phòng Trung Tướng Viên bước ra, chẳng những ông không có được nụ cười như lệ thường mà trái lại nét mặt của ông chứng tỏ rằng ông rất lo âu về chức vụ mà Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia vừa giao cho ông. Nếu nhận xét cho thật đúng thì Thiếu Tướng Cao sợ hãi!

Ðây là lần thứ tư tôi được lệnh lo phi cơ đưa vị Tướng ra Ðà Nẳng nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I trong một tình hình rối ren nội bộ.

Chỉ vài ngày sau khi Thiếu Tướng Cao có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I, sau giờ làm việc chiều trở về, điện thoại nhà tôi reo:

"Trung Tá Hoa tôi nghe".

"Chú liên lạc tìm sĩ quan tùy viên của Thống Tướng Westmoreland hỏi xem giờ nào phi cơ cất cánh và bãi đậu ở đâu?

"Thưa Trung Tướng, tôi chưa rõ việc này, xin Trung Tướng cho lệnh rõ hơn".

"Tôi cần đi Ðà Nẳng ngay bây giờ. Ông Westmoreland cho tôi mượn chiếc phi cơ U 21 của ổng. Chú hỏi rồi cho tôi biết ngay".

Thống Tướng William C. Westmoreland, đang là Tư lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam. U 21 là chiếc phi cơ phản lực, dường như 8 chỗ ngồi mà Không Lực Hoa Kỳ dành riêng cho ông. Mọi thu xếp xong xuôi, và phi cơ cất cánh lúc 8 giờ tối tại bãi đậu của Không Quân Hoa Kỳ, và trên phi cơ chỉ một hành khách duy nhất là Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Trung Tướng Viên 3 ngôi sao, Thống Tướng Westmoreland 4 ngôi sao, phối hợp nhau trong mọi vấn đề rất chặt chẽ. Mỗi tuần vào đầu giờ làm việc chiều thứ hai đều họp cấp cao tại văn phòng Trung Tướng Viên, giải quyết những vấn đề vượt quá trách nhiệm của hai bộ tham mưu, hoặc vì hai bộ tham mưu không đồng quan điểm nên chưa giải quyết được. Ngoài ra, Thống Tướng Westmoreland còn cử một Ðại Tá (lúc đó là Ðại Tá Freund, ông này thường nói tiếng Pháp), làm sĩ quan liên lạc của ông và có văn phòng tại Bộ Tổng Tham Mưu (ở tầng trệt tòa nhà chánh).

Trước khi lên phi cơ, Trung Tướng Viên dặn tôi:

"Chú chờ tôi ở đây và rất có thể là tôi về khuya lắm".

Tôi muốn biết chuyện gì xảy ra, nên điện thoại hỏi bà Viên vì tôi tin là bà biết. Và đúng như vậy, bà Viên cho biết:

"Thiếu Tướng Cao nói ổng bị ông Loan (Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan) cho người mưu sát ổng ngay tại văn phòng, nên ổng đã bỏ Quân Ðoàn chạy sang tị nạn bên Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ. Trung Tướng ra đó giải quyết ngay trong đêm".

Bỗng dưng tôi có dịp quan sát căn cứ Không Quân về đêm. Dưới ánh sáng như ban ngày do hệ thống đèn pha cực mạnh, những bộ phận chuyên viên bảo trì phi cơ và chuẩn bị bom đạn với hỏa tiễn để phi cơ sẵn sàng cất cánh lên đường ra trận. Những toán quân nhân làm đêm, không phân biệt Việt Nam hay Hoa Kỳ, đều hoạt động liên tục. Cứ độ nửa tiếng đồng hồ là chiếc xe bán thức ăn nước uống của Hoa Kỳ đến để bán cho các quân nhân Việt Mỹ. Làm việc ban đêm là một nhiệm vụ cấp trên giao phó, nhưng nhìn vào cung cách và thái độ của những quân nhân chuyên viên đó, tôi nhận thấy tấm lòng của họ, tấm lòng của "Người Lính Không Quân" đối với "Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm". Xứng đáng biết bao hỡi những chiến sĩ Không Quân âm thầm trong đêm tối.

Trung Tướng Viên về đến lúc 3 giờ sáng. Trước khi lên xe, ông đưa tôi cái thơ không niêm, và nói:

"Tôi về nhà luôn. Chú ghé đưa thư này cho bà Cao và nói rằng, Thiếu Tướng Cao nhờ trao tận tay. Ngoài ra ông Cao không có dặn gì thêm".

Nhà Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao trong cư xá Bộ Tổng Tham Mưu, nhưng tôi không ghé ngay mà tôi vào luôn văn phòng. Tôi muốn biết tình hình xảy ra như thế nào và tôi nghĩ là thư của Thiếu Tướng Cao có thể có những thông tin liên quan đến. Thế là tôi sao chụp một bản trước khi ghé nhà Thiếu Tướng Cao trao cho bà ấy. Sở dĩ tôi hành động như vậy là vì từ cái đêm Tổng Thống Diệm ra lệnh thiết quân luật 20/8/1963 để lùng bắt Thượng Tọa Thích Trí Quang cho đến nay, tôi ghi chép những sự kiện xảy ra, và đồng thời sao chụp các bản tài liệu kèm theo bản văn ghi chép theo câu "nói có sách mách có chứng", để sau này cung cấp cho những sử gia hoặc giả tôi sẽ đăng báo hoặc viết thành sách. Một phần những bản văn ghi chép cùng những bản sao chụp có được, tôi đã thiêu hủy trước khi vào tù tháng 6/1975, chỉ còn lại "tài sản" lưu giữ trong ký ức và một bao đựng những trang giấy viết tay do quân cộng sản lục soát khám xét và xé bỏ tung tóe trước khi bọn họ rời khỏi nhà tôi.

Năm 1986, tôi thuật lại cho các bạn trong phòng giam số 1 trại tù Nam Hà nghe trong 9 đêm liền. Thuật lại như vậy, tôi nghĩ, sự lưu giữ trong ký ức sẽ được dài lâu vì phát ra cũng có nghĩa là thu lại, và mặt khác, trong số các bạn trong phòng giam có những bạn chứng kiến tận mắt hoặc đã tham gia một số sự kiện tại địa phương trong thời ấy như Ðại Tá Ðàm Quang Yêu chẳng hạn, xác nhận những gì tôi thuật. Có lẽ nhờ vậy mà những gì "tồn trữ trong ký ức" của tôi đã giúp tôi hoàn thành quyển "Ðôi Dòng Ghi Nhớ", góp mặt trong hằng loạt sách hồi ký xuất bản tại hải ngoại.

Trở lại thư của Thiếu Tướng Cao. Tôi biết hành động như vậy là không đúng, nhưng tôi muốn có dữ kiện ghi chép chính xác. Tôi không biện minh cho việc tôi làm, nhưng rõ ràng là tôi không hề có ý định gì ngoài điều tôi vừa trình bày. Thư ông chưa đầy trang giấy, chỉ vắn tắt rằng : ".....Vì có người ám hại nên ông phải ra ngoại quốc tìm kế mưu sinh và sẽ gởi tiền về giúp đỡ gia đình. Cuối cùng, ông cầu xin Ðức Mẹ che chở cho vợ con ông".

Ngày hôm sau, tôi được bà Viên cho biết thêm như thế này:

"Nhận chức xong, Thiếu Tướng Cao duyệt lại tình hình từng nơi, đặc biệt là ông chú trọng đến Ðà Nẳng và Huế. Ông thấy cần ra Huế để nắm vững tình hình tại đây về lực lượng dưới quyền ông cũng như lực lượng của phía chống đối. Thiếu Tướng Cao đến Huế bằng trực thăng của Hoa Kỳ, khi chuẩn bị đáp thì từ đám đông phía dưới có người bắn lên và xạ thủ trên trực thăng đã bắn chết người đó. Ông quay về Ðà Nẳng. Rồi ngay trong phòng làm việc của ông tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn, bất ngờ ông phát hiện kịp thời một sĩ quan của ông Loan (Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan) dí súng vào đầu ông từ phía sau, nhưng đúng lúc có một sĩ quan Hoa Kỳ bước vào nên hắn không hành động được. Ông Cao quá tức giận và nói cho ông Loan biết là ông sẽ rời bỏ Quân Ðoàn. Ông Loan quì xuống ôm chân Thiếu Tướng Cao và nói trong vội vàng: 'Thiếu Tướng hiểu lầm rồi, không có chuyện mưu sát gì đâu. Tôi lạy Thiếu Tướng, xin Thiếu Tướng đừng bỏ Quân Ðoàn. Ngay sau đó, ông Cao sang Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Ðệ Tam Thủy Bộ Hoa Kỳ xin Tướng Waltz -Tư Lệnh- giúp cho ông sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị. Thiếu Tướng Cao viết thư đó tại văn phòng Tướng Waltz".

Lại biện pháp quân sự.

Trở lại văn phòng của Trung Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Từ sau ngày Thiếu Tướng Cao bỏ Quân Ðoàn I, các vị Tướng lãnh đạo quốc gia và quân đội, gần như làm việc bất kể ngày đêm tại phòng làm việc của Trung Tướng Viên, có hôm đến nửa đêm mới rời nơi đây. Trong một buổi tối, vẫn là Trung Tướng Thiệu, Thiếu Tướng Kỳ, Trung Tướng Có, và Trung Tướng Viên, và đây là lần đầu tiên Trung Tướng Viên trình bày quan điểm của ông một cách mạnh mẽ, ông nhân danh Tổng Tham Mưu Trưởng, ông không chấp nhận một quân đội trong một quân đội như tình trạng hiện nay. Và ông đề nghị với các vị có mặt là phải dùng biện pháp quân sự để giải quyết dứt khoát tình hình.

Buổi họp đi đến quyết định là chấp thuận kế hoạch của Trung Tướng Viên, và ngày 15/5/1966 là ngày chuyển quân ra Ðà Nẳng. Lần chuyển quân này được phía Hoa Kỳ trực tiếp cung cấp vận tải cơ hạng nặng C130 và vận tải hạm chở chiến xa từ Sài Gòn ra phi trường và hải cảng Ðà Nẳng. Vẫn Thủy Quân Lục Chiến và Nhẩy Dù như lần trước, cộng thêm lực lượng Thiết Giáp. Và rồi diễn tiến cuộc "hành quân" giải tỏa tình hình hỗn loạn tại Ðà Nẳng được thực hiện rất thuận lợi, không một cuộc nổ súng nào xảy ra giữa lực lượng chánh phủ với lực lượng chống đối, ngoại trừ tại một ngôi chùa nhỏ có vài phát súng bắn ra nhưng không gây thiệt hại nào. Tại Huế cũng trong một tình hình tương tự như vậy. Ðại Tá Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Phó Nhẩy Dù, được cử ra phía bắc Huế tiếp xúc với một Trung Ðoàn của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh ủng hộ trung ương, tiến vào thành phố Huế với nhiệm vụ giải tỏa lực lượng chống đối. Nhiệm vụ hoàn thành trong yên tịnh.

Sự kiện gần như trái ngược với dự đoán của giới truyền thông cũng như của nhiều thành phần khác trong xã hội khi được biết trung ương lại đưa quân ra Ðà Nẳng. Bởi vì trước đó một tháng, trung ương đã chuyển quân ra Ðà Nẳng, và đã thất bại nên rút quân về. Rõ ràng là có một điều gì khó hiểu, vì lực lượng chống đối đang bừng bừng khí thế, bỗng dưng tịt mất hoàn toàn như ngọn đèn đang sáng thì tắt phụt khi có người ngắt dòng điện vậy. Phải chăng khi không khí mít tinh biểu tình lên đến cường độ nào đó thì có thêm ngọn đèn xanh, và đến lúc này thì đèn xanh tắt và đèn đỏ được "ai đó" bật lên hay không? Xin quí vị nhớ lại cuộc chuyển quân ngày 15/4/1966, Hoa Kỳ khước từ yểm trợ phương tiện vận tải hàng không với lý do không bàn cãi vào đâu được, thế nhưng cuộc chuyển quân lần này cũng cùng mục tiêu như lần trước, lại được yểm trợ đầy đủ theo nhu cầu. Liệu quyết định như vậy có liên quan đến "ai đó" nói trên hay không?

Xin lược lại vài sự kiện gần như có mối liên hệ với nhau để dẫn đến tình hình vừa nêu.

Thứ nhất, là sau ngày lực lượng chống đối nêu yêu sách đòi tiến đến sinh hoạt dân chủ mà bước đầu là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo Hiến Pháp, thì Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia tuyên bố chấp nhận tổ chức bầu cử quốc hội vào tháng 9/1966. Tôi nghĩ, chắc là Hoa Kỳ có ảnh hưởng nếu không nghĩ là họ áp lực đến quyết định này.

Thứ hai, là Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trước đó ông không có ý kiến gì về những quyết định của những vị lãnh đạo quốc gia, nhưng bất ngờ ông đưa đề nghị biện pháp quân sự và cuộc hành quân đã diễn ra thật tốt đẹp. Ðúng ra khi nói đến hành quân phải nói đến chiến thắng, nhưng tôi thấy không ổn nếu dùng chiến thắng để chỉ cuộc hành quân này, vì "phe ta đánh phe mình" với lại "bất chiến tự nhiên thành". Về đề nghị của Trung Tướng Viên, liệu ông có biết là đèn xanh cho phía chống đối đã tắt và đèn đỏ đã bật lên chăng? Cho dù các câu hỏi có đặt ra hay không thì những sự kiện cùng những quyết định nói trên đã diễn tiến rất nhịp nhàng, và những ai quan tâm đến đất nước, có thể đã tự hỏi như vậy, hay hơn thế nữa.

Và thứ ba, cũng có thể là vị nào đó, khi thấy Trung Tướng Thi bị cách chức liền nhập cuộc với những thành phần ủng hộ Trung Tướng Thi, và dần dần nắm quyền lãnh đạo cuộc chống đối trung ương, từng bước đòi hỏi tiến đến xây dựng cơ cấu dân chủ trong sinh hoạt quốc gia, khi được trung ương chấp nhận bầu cử Quốc Hội Lập Hiến thì xem như mục tiêu đấu tranh đạt được nên ra lệnh chấm dứt chăng? Nhưng trong trường hợp này, có phải là Trung Tướng Viên đã mạo hiểm trở lại quyết định của Thủ Tướng Kỳ đã không thành công cách đó một tháng không? Nếu đúng như vậy, quả là Trung Tướng Viên rất dũng cảm cho cuộc mạo hiểm của ông nhưng tình cờ lại đúng thời cơ.

Nhìn lại chuỗi biến cố.

Và tôi cũng tự hỏi: "Liệu từ cuộc đảo chánh lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ngày 1/11/1963 của Trung Tướng Dương Văn Minh, cuộc Chỉnh Lý ngày 30/1/1964 của Trung Tướng Nguyễn Khánh với Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, rồi cuộc Biểu Dương Lực Lượng ngày 13/9/1964 của Trung Tướng Dương Văn Ðức, đến Thiếu Tướng Lâm Văn Phát đảo chánh Trung Tướng Nguyễn Khánh ngày 19/2/1965, rồi quân đội nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia ngày 19/6/1965, và cuộc khủng hoảng này từ ngày 9/3/1966, có liên quan với nhau trong một chuỗi biến cố chính trị, hay chỉ là những sự kiện riêng lẻ?

Nếu riêng lẻ, thì tại sao trong cuộc "Ðảo Chánh" Tổng Thống Ngô Ðình Diệm có một người Mỹ (Trung Tá Conein) trong phòng Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm, bản doanh của Hội Ðồng Quân Nhân lãnh đạo đảo chánh từ lúc bắt đầu đến khi Tổng Thống Diệm và ông Cố Vấn Nhu bị giết chết? Tại sao trong cuộc "Chỉnh Lý" của Trung Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Trần Thiện Khiêm, và Ðại Tá Cao Văn Viên, cũng có một người Mỹ tại bản doanh ngay trong tư dinh của Trung Tướng Nguyễn Khánh từ đầu đến cuối? Tại sao viên chức tình báo tại tòa đại sứ Hoa Kỳ ra lệnh cho Trung Tướng Dương Văn Ðức (ngang qua Trung Tá Tạ thành Long), người đứng đầu cuộc "Biểu Dương Lực Lượng" phải rút quân về vị trí? Tại sao Trung Tướng Nguyễn Khánh yêu cầu ông Ðại Sứ Taylor giúp đỡ khi bị Thiếu Tướng Lâm Văn Phát "Ðảo Chánh" thì ông trả lời là không can thiệp vào nội bộ chính trị của Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời khuyên Trung Tướng Nguyễn Khánh nên ra ngoại quốc? Rồi tại sao Hoa Kỳ chuẩn y không văn bản cho Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ sau khi Tướng Tư Lệnh Không Lực Hoa Kỳ có lời ủng hộ? Và tại sao Hoa Kỳ không giúp không vận và hải vận chuyển quân và chiến cụ ra Ðà Nẳng lần thứ nhất trong khi lực lượng chống đối trung ương với khí thế rất mạnh, đến cuộc chuyển quân và chiến cụ lần thứ nhì chỉ cách đó một tháng thì Hoa Kỳ yểm trợ hoàn toàn, cùng lúc với sự tê liệt (hoặc hiểu theo cách nào đó cũng tương đương như vậy) của lực lượng chống đối tại Ðà Nẳng cũng như tại Huế?

Hoặc tất cả những sự kiện đó là một chuỗi biến cố chính trị liên quan với nhau? Vì Tổng Thống Ngô Ðình Diệm không đồng ý để Hoa Kỳ thiết lập căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam theo chiến lược Domino của họ, nên ông bị các Tướng Lãnh của ông lật đổ với ngọn đèn xanh của ông Ðại Sứ Hoa Kỳ, nhân chính sách không bình đẳng tôn giáo lên cao điểm. Rồi họ không muốn vương vấn chút ảnh hưởng nào của Pháp trong giới Tướng Lãnh Việt Nam nên nhóm Tướng thân Pháp (Trung Tướng Minh, Trung Tướng Ðôn, ...) bị hạ bệ, đồng thời gầy dựng nhóm Tướng cầm quyền thân Mỹ (Trung Tướng Khánh, Trung Tướng Khiêm). Khi Trung Tướng Khánh "lên ngôi", chỉ thỏa mãn nhu cầu chiến lược Domino mà không thực hiện chế độ dân cử, để rồi cuộc biểu dương lực lượng của Trung Tướng Ðức là một cảnh cáo của Hoa Kỳ đối với Trung Tướng Khánh phảng phất tính độc tài. Tiếp đến là Thiếu Tướng Phát với Sư Ðoàn 25 Bộ Binh trong tay nhưng không đủ bản lãnh lật đổ, lại là cơ hội tốt giúp cho Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, đẩy luôn Trung Tướng Nguyễn Khánh lưu vong. Vài tháng sau đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, và Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, nhân danh quân đội nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia theo yêu cầu của chánh phủ dân sự Phan Huy Quát. Ðây là lời yêu cầu trên văn bản, nhưng văn bản còn có mặt trái hay không thì tôi không rõ. Nhưng vẫn chưa thực hiện chế độ dân cử (theo tôi, là do yếu tố an ninh hơn là yếu tố độc tài quân phiệt) cho đến khi cuộc "Khủng Hoảng Miền Trung" đòi hỏi mới chấp nhận. Liệu sự chấp nhận bầu cử Quốc Hội Lập Hiến có phải là sự thúc giục của Hoa Kỳ từ phía sau, hay thật sự là do phía chống đối đòi hỏi? Nhưng rõ ràng là đến lúc này thì Hoa Kỳ hài lòng và kết thúc chuỗi biến cố chính trị mà họ điều hướng trong 3 năm qua.

Nếu đúng như vậy thì tại sao Hoa Kỳ phải kiên nhẫn trong một thời gian khá dài với một thái độ âm thầm nhưng rất hiệu quả để hướng đến một chế độ dân cử? Ta biết rằng, cơ chế thượng tầng kiến trúc của Hoa Kỳ gồm Lập Pháp, Hành Pháp, và Tư Pháp, được tổ chức và điều hành theo quan niệm "Kiểm Soát và Cân Bằng", nhưng Quốc Hội có tiếng nói mạnh hơn về chính sách viện trợ ngoại quốc. Trong chính sách này, tiêu chuẩn có tính cách quyết định viện trợ hay không viện trợ là chế độ 'dân chủ hay không dân chủ' tại quốc gia mà họ cứu xét viện trợ. Vì vậy mà Hành Pháp Hoa Kỳ khi thực hiện chiến lược quân sự tại Việt Nam Cộng Hòa, vẫn phải trong khuôn khổ chính sách viện trợ của Lập Pháp. Ðiều đó có nghĩa là, khi Hành Pháp sử dụng các Tướng Lãnh lật đổ chế độ dân cử Việt Nam Cộng Hòa, thì họ phải bằng mọi cách xây dựng lại chế độ dân cử để tránh áp lực của Lập Pháp, ảnh hưởng đến chiến lược quân sự tại Á Châu của họ. Và họ đã thành công, tuy cũng gần 3 năm sau kể từ ngày lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm.

Trở lại tình hình Miền Trung.

Dưới quyền của Ðại Tá Nguyễn Ngọc Loan, các thành phần Cảnh Sát và An Ninh Quân Ðội lần lượt bắt giữ Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trung Tướng Tôn Thất Ðính, Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, và Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Riêng Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân đã theo lệnh về Sài Gòn họp và bị giữ từ hạ tuần tháng 4/1966. Ngoài ra, lực lượng an ninh còn bắt giữ nhiều người nữa, trong số đó có Ðại Tá Ðàm Quang Yêu, Tư Lệnh Quân Ðoàn Trần Hưng Ðạo của phía chống đối, và bác sĩ Mẫn, Thị trưởng Ðà Nẳng.

Song song với công tác bắt giữ một số nhân vật, là công tác bổ nhiệm các nhân vật khác thay thế:

- Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh, nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Quân Khu I.

- Ðại Tá Ngô Quang Trưởng, nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

- Ðại Tá Phan Hòa Hiệp, nhận chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.

- Trung Tá Lê Chí Cường, đang là Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu, nhận chức Thị Trưởng Ðà Nẳng.

Tiếp đó là nhiều chức vụ trưởng cơ quan đơn vị tại Ðà Nẳng và Huế đã tích cực tham gia lực lượng chống đối trung ương, đều bị thay thế.

Một quyết định đãi ngộ dành cho những sĩ quan được xem là có công được ban hành không văn bản, mà chỉ bằng điện thoại do văn phòng tôi phụ trách chuyển đến vị Tư Lệnh Nhẩy Dù, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến, và Chỉ Huy Trưởng binh chủng Thiết Giáp. Rằng, những sĩ quan do các vị Tư Lệnh và Chỉ Huy Trưởng chọn và đề nghị lên Tổng Tham mưu Trưởng, sẽ được du lịch Hong Kong một tuần lễ. "Sự vụ lệnh" do Bộ Quốc Phòng cấp với lý do "công vụ đặc biệt". Với lý do như vậy, các sĩ quan sẽ được ngân sách quốc phòng đài thọ tiền vé phi cơ khứ hồi cùng với khoản tiền trên căn bản tiền công tác ngoại quốc mỗi ngày nhân lên cho 7 ngày. Ngoài ra, vị trưởng đoàn được cấp thêm một khoản nữa gọi là phụ cấp ngoại giao. Có tất cả 4 danh sách và mỗi danh sách gồm 7 sĩ quan. Ðược quyền đưa vợ tháp tùng và trường hợp này thì Bộ Quốc Phòng chỉ đài thọ tiền vé phi cơ mà thôi. Danh sách khi được Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng duyệt y (thật ra Trung Tướng Viên không thêm bớt một sĩ quan nào) thì văn phòng chúng tôi làm mọi việc và mang tay lên Bộ Quốc Phòng trao cho chánh văn phòng. Tiếp đó là ông Tổng Trưởng ra lệnh cho Tổng Giám Ðốc Tài Chánh và Thanh Tra Quân Phí làm thủ tục ngay. Nghĩa là thủ tục rất nhanh chóng. Hai vị Tư Lệnh Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đứng đầu danh sách của binh chủng.

Ðầu tháng 7 năm 1966, Trung Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, gọi tôi vào văn phòng và ra lệnh:

"Chú mời các vị trong Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt về họp trong hai ngày 8 và 9 (7/1966) tại phòng họp số 2 (tức phòng họp Tân Sinh Nông Thôn). Chú liên lạc với An Ninh Quân Ðội tổ chức thu băng để làm biên bản. Không một ai được vào phòng khi đang họp. Chú lo thức ăn trưa tại chỗ".

"Thưa Trung Tướng, về an ninh phòng họp có cần tổ chức đặc biệt hay như thường lệ?

"Không cần đặc biệt lắm đâu, tùy chú xem tình hình mà thích ứng. Chú mời các vị Tướng bị giữ vào phòng bên cạnh, chú phải luôn luôn có mặt tại chỗ và lo ăn sáng ăn trưa cho các ổng. Chú lần lượt mời từng vị vào phòng họp của Hội Ðồng mỗi khi tôi thông báo".

Thành phần Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt, không phải là thành phần của Hội Ðồng Quân Lực, vì chỉ gồm các Tướng Lãnh mà thôi.

Ngày họp. Bàn ghế trong phòng họp được xếp theo hình chữ U, đáy chữ U là bàn của chủ tọa đoàn, gồm: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Trung Tướng Cao Văn Viên, và Trung Tướng Linh quang Viên trong chức vụ Thư Ký của Hội Ðồng, phụ trách đọc các bản cáo trạng. Còn trên đầu chữ U có bục gỗ dành cho vị Tướng "bị cáo", tạm gọi là "vành móng ngựa". Bên góc trái cuối phòng họp có cái phòng nhỏ được thiết trí máy thu băng và máy khuếch đại âm thanh. Chỉ có chuyên viên truyền tin và sĩ quan An Ninh được ra vào phòng này. Trước cửa có Quân Cảnh gác. Phía sau lưng phòng họp là một phòng khá rộng dành cho 5 vị Tướng "bị cáo" ngồi chờ đến lượt, đồng thời cũng là nơi mà văn phòng tôi lo ăn sáng ăn trưa cho quí vị ấy. Tôi được ra vào phòng họp lẫn phòng thu băng.

Buổi họp bắt đầu. Trung Tướng Thiệu, rồi Thiếu Tướng Kỳ, trình bày lý do với các vị Tướng Lãnh thành viên của Hội Ðồng, cũng là cách cung cấp cho các thành viên nắm được nguyên nhân và sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ đặc biệt trong hai ngày họp này. Khi phòng họp sẵn sàng, theo lệnh Trung Tướng Viên, tôi mời Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi vào trước và hướng dẫn đến bục gỗ. Ông bước vào "vành móng ngựa" với thái độ thản nhiên như một vị chủ tọa đã từng đứng lên bục gỗ này để ban huấn thị vậy. Trung Tướng Thiệu:

"Hôm nay, Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt họp để nghe Trung Tướng trình bày về những việc làm của Trung Tướng trong thời gian xáo trộn chính trị tại Miền Trung, vì có những điều mà Hội Ðồng chưa biết chắc là Trung Tướng có phải đã hành động như thế hay không, để Hội Ðồng có quyết định không nhầm lẫn. Mong rằng, Trung Tướng cho biết sự thật".

Sau đó, Trung Tướng Linh Quang Viên, với tư cách Thư Ký của Hội Ðồng đã đọc bản cáo trạng với từng lời tuyên bố cũng như những hành động của Trung Tướng Thi trong thời gian nói trên. Ðọc xong, Trung Tướng Thiệu mời Trung Tướng Thi biện minh về những lời cáo trạng vừa nêu.

Trung Tướng Thi, vẫn bình thản tự nhiên, và nói một cách mạnh mẽ rằng:

"Bây giờ tôi có nói như thế nào đi nữa thì quí vị cũng không tin tôi, do đó mà tôi không có điều gì để trình bày với quí vị. Quí vị quyết định như thế nào thì tùy quí vị".

Trung Tướng Thi dùng chữ rất hay. Ông nói "quí vị quyết định thế nào là tùy quí vị" chớ ông không nói "quí vị quyết định thế nào thì tôi thi hành thế ấy".

Thiếu Tướng Vĩnh Lộc -Tư Lệnh Quân Ðoàn II- nói gần như tha thiết với Trung Tướng Thi là nên trình bày sự thật để anh em trong Hội Ðồng hiểu rờ được sự việc. Trung Tướng Thi vẫn giữ nguyên câu nói của ông vừa rồi, và ông xin ra khỏi phòng họp.

Có thể thừa nhận là Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi có dũng khí của người làm Tướng, điều mà không phải vị Tướng nào cũng có được như ông. Nhưng cũng có thể là ông thấy không có cách nào để biện minh nên thà tỏ ra cứng rắn vẫn hơn chăng? Theo tôi, Trung Tướng Thi quả là có dũng khí của vị Tướng.

Vị kế tiếp là Trung Tướng Tôn Thất Ðính. Rất dễ dàng trông thấy Trung Tướng Ðính có cố gắng bình tĩnh nhưng ông đã không nén được nỗi lo âu trên nét mặt khi bước vào "vành móng ngựa". Trung Tướng Thiệu cũng nói những lời như đã nói với Trung Tướng Thi, và rồi Trung Tướng Viên đọc cáo trạng của ông.Trung Tướng Ðính dần dần lấy lại sự bình tĩnh, rồi bắt đầu ồn ào với những lời biện minh, nhưng là biện minh một cách gượng gạo nên không đủ lý lẽ để xóa bỏ được câu cáo trạng nào cả.

Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao là vị thứ ba vào "vành móng ngựa". Tiếp đến Thiếu Tướng Nguyễn Văn Chuân, và sau cùng là Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận. Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Viên (Linh Quang Viên), theo điệp khúc như đã đối với Trung Tướng Thi, Trung Tướng Ðính, nghĩa là một vị giới thiệu mục đích buổi họp và vị kia thì kê khai những "tội" của từng vị bị cáo. Bản cáo trạng của Trung Tướng Thi, Trung Tướng Ðính, và Chuẩn Tướng Nhuận rất dài, vì các vị này chống đối trung ương từ đầu, còn cáo trạng của Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng Chuân thì ngắn thôi, vì không chống nhưng cũng không làm tròn nhiệm vụ trong chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn I. Thiếu Tướng Cao với Thiếu Tướng Chuânkhá bình tĩnh khi biện minh và biện minh ngắn gọn, trong khi Chuẩn Tướng Nhuận khóc sướt mướt với những lời trình bày toàn kêu oan, chỉ vì ông một lòng lo giải quyết tình hình xáo trộn tại Huế.

Lúc bấy giờ tôi được lệnh cho phát lại đoạn băng thu cuộc đàm thoại giữa Chuẩn Tướng Nhuận (tại Huế) với vị Thượng Tọa tại chùa Ấn Quang (Sài Gòn). Trong đoạn băng đó có lời của Chuẩn Tướng Nhuận rằng: "..... Thưa Thầy, con quyết tâm đấu tranh đến khi nào ba tên Thiệu, Kỳ, Có từ chức mới thôi .....". Nghe xong, Chuẩn Tướng Nhuận òa khóc.

Thật lòng mà nói, tôi không hiểu tiếng khóc của ông có nghĩa là thú nhận lời của ông, hay đó lại là nước mắt kêu oan chỉ vì ông muốn lợi dụng những vị lãnh đạo Phật Giáo để giải quyết tình hình, chớ những lời đó không phải là thật lòng? Cho dù là như thế nào đi nữa, rõ ràng là phong cách của Chuẩn Tướng Nhuận không xứng đáng với cấp bậc mà Trung Tướng Nguyễn Khánh, nhân danh Quốc Trưởng trao gắn cho ông một năm trước đó.

Ngày hôm sau, Hội Ðồng Kỷ Luật thảo luận gần như suốt ngày để đạt đến một kết luận thống nhất, kết luận đó trở thành "bản án" và bản án này làm cho "một loạt những vì sao rơi rụng". Bản án trừng phạt mỗi vị "60 ngày trọng cấm" và giải ngũ bắt buộc. Riêng Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận bị giáng xuống cấp Ðại Tá, và giải ngũ. Trong khi thảo luận, Trung Tướng Cao văn Viên và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, có nhắc lại lời viết của Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao trong một phúc trình trình lên Tổng Thống Ngô Ðình Diệm sau vụ thất bại trận Ấp Bắc (Mỹ Tho) đầu năm 1963. Lời viết đó là ".......Khi tôi (tức Thiếu Tướng Cao) giữ chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, tôi đã từng trăm trận trăm thắng ......" Và đối với Chuẩn Tướng Nhuận, Thiếu Tướng Kỳ cho là chỉ xứng đáng làm một Thượng Sĩ thôi.

Hình phạt "trọng cấm" là hình phạt cao nhất đối với sĩ quan mà quy chế qui định. Thông thường một sĩ quan khi bị phạt một lần hay nhiều lần cộng lại lên đến 60 ngày trọng cấm thì bị giải ngũ, vì xem như sĩ quan đó có thành tích xấu, không xứng đáng là sĩ quan nữa. Hình phạt nhẹ hơn là hình phạt "khinh cấm".

Một tuần sau ngày họp nói trên, một biên bản được hoàn thành với 157 trang đánh máy quay ronéo một mặt, cỡ 21x27 phân, bìa màu xanh, được mang tay đến các vị thành viên của Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt. Xem xong, phải hoàn lại Cục An Ninh Quân Ðội. Riêng tôi được "tặng" một bản ngoài số bản quay ronéo, nhưng cuối cùng tôi phải đốt một phần cùng với nhiều tập tài liệu mà tôi đã ghi chép từ tháng 8 năm 1963. Khi tôi vào tù, nhà tôi bị lục soát một tuần lễ nên ban đêm vợ tôi đã lén đốt một phần nữa. Và phần còn lại thì bị quân cộng sản lục soát khám xét, chúng xé từng mảnh hoặc vứt từng trang tung tóe khắp nhà. Sau cuộc lục soát này, vợ tôi lượm lại từng trang từng mảnh cho vào bao, đến khi tôi ra tù mới góp nhặt dán lại, cũng bổ túc được một số chi tiết khi tôi lén lút viết lại và lần lượt nhờ người mang qua Mỹ. Phần viết lại này được 1600 trang giấy học trò.

"Cuộc khủng hoảng miền Trung" kết thúc bằng bản án nói trên, nhưng với nét nhìn chung cuộc thì các vị Tướng Lãnh lãnh đạo quốc gia đã phải chấp nhận tiến đến xây dựng cơ cấu dân chủ, mà bước đầu là bầu cử Quốc Hội Lập Hiến vào hạ tuần tháng 9/1966, Như vậy:

- Theo quí vị quí bạn, "ai thắng và ai thua" trong cuộc khủng hoảng này?

- Và cuộc khủng hoảng gần 3 tháng qua, phải chăng là một thử thách khả năng và bản lãnh của các vị Tướng Lãnh trong trách nhiệm lãnh đạo quốc gia thời chiến? Nếu là thử thách, theo quí vị quí bạn, thì các vị ấy như thế nào?
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 21:48 Collapse   Print  
- bảy -

Vài Sự Kiện Quan Trọng
(trong những năm 1967-1974)

*****

Tôi rời chức vụ chánh văn phòng Tổng Tham Mưu Trưởng vào những ngày cuối năm 1966 để nhận chức tại tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), nên không có điều kiện theo dời những sự kiện chính trị từ trong căn phòng nhỏ hẹp của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (Trung Tướng Viên thăng cấp Ðại Tướng nhân lễ Quốc Khánh năm 1967), nơi mà các vị lãnh đạo với tất cả quyền lực trong tay thường hội họp và quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia trong năm 1965 và 1966. Giữa năm 1968, tôi thuyên chuyển trở lại Bộ Tổng Tham Mưu, phục vụ trong bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận với chức vụ Chánh Sở Kế Hoạch Chương Trình. Năm 1972, nhận chức Cục Trưởng Cục Mãi Dịch. Năm 1974, nhận chức Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Trong thời gian này cho đến giờ thứ 25 của cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, tôi có cơ hội trực tiếp lẫn gián tiếp, theo dõi được tình hình quốc gia qua một số sự kiện quan trọng trong phần này và những phần tiếp sau.

1. 1. Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân.

Xin nhắc lại rằng, đầu tháng 6/1965, Thủ Tướng Phan Huy Quát gởi văn thư mật, yêu cầu Hội Ðồng Quân Lực nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, vì do bất đồng quan điểm với Quốc Trưởng khi thay đổi nhân sự trong nội các mà Quốc Trưởng từ chức, và Thủ Tướng phải từ chức theo. Văn thư nhấn mạnh, nếu Hội Ðồng Quân Lực không nhận trách nhiệm này thì tình hình có thể sẽ trở nên rối loạn. Sau hai ngày họp, Hội Ðồng Quân Lực quyết định chấp nhận lời yêu cầu của Thủ Tướng.

Ðể có khả năng đảm nhận trách nhiệm lãnh đạo quốc gia, Hội Ðồng Quân Lực đã tổ chức hai cơ cấu: Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu giữ chức Chủ Tịch, và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ giữ chức Chủ Tịch. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia hành sử chức năng Quốc Trưởng, và Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương tức Thủ Tướng chánh phủ.

Ngày 19 tháng 6 năm 1965, tất cả thành viên của hai Ủy Ban này đã ra mắt quốc dân đồng bào và ngoại giao đoàn. Trong năm 1965 và 1966, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia đã tổ chức hai lần "Ðại Hội Toàn Quân", để quyết định đường lối hành động trong trách nhiệm quân đội lãnh đạo quốc gia. Thật ra những thành viên của hai lần Ðại Hội này, tôi có tham dự cả hai đại hội, hằng ngàn quân nhân đại diện toàn quân về Sài Gòn tham dự để nghe quí vị thành viên của hai Ủy Ban trình bày về những chính sách của các ngành sinh hoạt quốc gia, và trong một chừng mực nào đó, có thể xem đây là một sách lược quốc gia.

Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ với tư cách Thủ Tướng, đã tuyên bố nội các của ông là "nội các chiến tranh" và là "chánh phủ của người nghèo". Sau đó ông có thực hiện một số chính sách giúp đỡ người dân cải thiện đôi chút cuộc sống, như:

- Bán xe Lambretta 3 bánh trả góp dùng chở khách trong thành phố. Ðây cũng là cách gia tăng phương tiện chuyên chở công cộng trong thành phố,

- Cất nhiều khu nhà liên kế, bán trả góp cho quân nhân viên chức.

- Bán xe gắn máy 2 bánh cho quân nhân trả góp.

- Tổ chức hệ thống Quân Tiếp Vụ, bán hàng tiêu dùng thông thường với giá miễn thuế cho quân nhân và gia đình.

- Và vân ... vân . . .

Năm 1967, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định tăng lương đồng đều cho tất cả quân nhân các cấp thuộc chủ lực quân, mỗi quân nhân 100 đồng. Lúc bấy giờ, quân số chủ lực quân khoảng 450.000 người (chưa kể quân số Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân). Chỉ 100 đồng thôi vì ngân sách không thể chi trả nhiều hơn nữa, mà 100 đồng thời điểm ấy cũng chẳng mua sắm được gì. Cũng không rõ là Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có chấp thuận cho Bộ Quốc Phòng hay không, về việc sử dụng 100 đồng đó để thành lập một quỹ gọi là "Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân", và chỉ áp dụng cho quân nhân chủ lực quân mà thôi. Mục đích của quỹ như tên gọi là "vừa tiết kiệm vừa tương trợ quân nhân và gia đình". Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng Trưởng Quốc Phòng, giữ chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Tôi không nhớ hết các vị thành viên trong Hội Ðồng Quản Trị, chỉ nhớ là có vị Tổng Giám Ðốc Tài Chánh Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng, và Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ) Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/Bộ Tổng Tham Mưu.

Tôi không rõ vị nào đã đưa ra đề nghị này, nhưng có điều là Quỹ này có hợp lệ hay không thì nhiều dư luận trái ngược nhau, mặc dù Quỹ đã được Bộ Nội Vụ cấp giấy phép hoạt động. Vì Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia quyết định tăng lương là trách nhiệm của cấp lãnh đạo đối với quân nhân, nhưng Bộ Quốc Phòng đã thay mặt quân nhân quyết định thành lập Quỹ. Ngay trong Bộ Tổng Tham Mưu, các quân nhân cũng phàn nàn quyết định này không ít, vì Họ là thành viên đương nhiên nhưng không hề được hỏi ý kiến về việc nên hay không nên thành lập Quỹ. Với lại trên nguyên tắc, Quỹ này không phải của quân đội mà lại do vị Tổng Trưởng Quốc Phòng nắm chức Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Các thành viên trong Hội Ðồng đều được lãnh phụ cấp. Các vị khác thì tôi không rõ, nhưng riêng Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên lãnh xong là ông hoàn vào quỹ. Chính mắt tôi thì không thấy, nhưng Thiếu Tướng Khuyên nói điều này trong những buổi họp tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận. Xin tạm gác sự kiện này sang một bên, để theo dõi dư luận đồn đoán xoay quanh nguyên nhân dẫn đến quyết định tăng lương mà là số tiền được tăng gần như chẳng đáng là bao so với vật giá thị trường.

Lúc bấy giờ, dư luận từ các nhà hoạt động chính trị cho rằng, Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia tăng lương chỉ nhằm mục đích lấy lòng quân nhân chuẩn bị cho liên danh quân đội ra ứng cử Tổng Thống-Phó Tổng Thống, chớ thật ra số tiền được tăng đó không có giá trị bao nhiêu về vật chất.

Và rồi quí vị Tướng Lãnh ra ứng cử thật. Không phải một liên danh mà đến hai liên danh: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu một liên danh, và Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ một liên danh khác. Sự kiện này đã đưa quân đội, cho dù có thản nhiên đến mấy đi nữa, tự nó đã hình thành ba khuynh hướng: Một khuynh hướng ủng hộ Trung Tướng Thiệu, một khuynh hướng khác ủng hộ Thiếu Tướng Kỳ, và một khuynh hướng khác nữa thì không quan tâm mấy đến việc phải ủng hộ liên danh nào. Nếu tình trạng hai liên danh vẫn quyết tranh đua trong cuộc bầu cử này thì sự phân hóa trong quân đội là điều không tránh khỏi, và đó là điều tệ hại cho quân đội, cho quốc gia. Cũng may, các vị Tướng Lãnh đã vận động hai vị đứng đầu hai liên danh đến sát cạnh ngày hết hạn nộp đơn ứng cử, thì Thiếu Tướng Kỳ bằng lòng đứng chung liên danh với Trung Tướng Thiệu, sau cuộc họp khá gay gắt tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Cũng trong "sự thành công" đó, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu có hứa nếu đắc cử Tổng Thống, ông sẽ tham khảo các vị như trong thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia về đường lối chính sách quốc gia. Ðồng thời ông cũng thỏa thuận với Thiếu Tướng Kỳ là sẽ mời giáo sư Nguyễn Văn Lộc -người đứng chung liên danh với Thiếu Tướng Kỳ lúc 2 liên danh riêng rẽ- thành lập chánh phủ.

Trở lại Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân. Khi quân số chủ lực quân gia tăng thì số vốn hằng tháng cũng theo đó mà gia tăng. Khi quân lực lên đến hơn 1 triệu quân thì chủ lực quân xấp xỉ con số 600.000 người, và như vậy có nghĩa là số vốn hằng tháng của quỹ ngoài các khoản lời khác, được tăng thêm đến 60.000.000,00 đồng. Có thể nói mà không sợ lầm lẫn, lúc bấy giờ chưa có cơ sở tài chánh nào tại Việt Nam mà số vốn gia tăng nhiều đến như vậy cả. Ðiều này ít nhất cũng là một trong hai nguyên nhân dẫn đến việc Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân "bị đánh sập" sau 51 tháng hoạt động. Nguyên nhân thứ hai, tôi sẽ thuật tiếp ở phần sau.

Trong thời gian thành lập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, tôi đang phục vụ tại tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ) nên không trực tiếp thấu hiểu, nhưng năm sau đó (1968) tôi thuyên chuyển về Tổng Cục Tiếp vận mới có cơ hội nghe Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên cho biết thêm về tổ chức và hoạt động của Quỹ này. Theo ông, số vốn ngày càng gia tăng nhanh chóng và Hội Ðồng Quản Trị quyết định thành lập một số cơ sở dịch vụ và kinh doanh, song song với gia tăng số vốn đầu tư vào các công ty dệt sợi, đặc biệt là Vimytex (Việt Mỹ Dệt Sợi Công Ty). Ðây là công ty dệt sợi lớn nhất lúc bấy giờ. Hằng năm, công ty này trúng thầu khoảng 50% đến 70% trong số 30 tỷ đồng (Việt Nam Cộng Hòa) cung cấp vải treillis thường và treillis ngụy trang dùng may quần áo trận cho quân nhân. Ngoài ra còn các nhu cầu vải sợi khác, như: vải may quân phục Không Quân, Hải Quân, vải may mùng, may võng, may mũ, vải che mưa, vải dùng lau chùi vũ khí, vải may quân phục đại lễ, quân phục mùa đông cho sinh viên Trường Võ Bị Quốc Gia, quân phục cho sinh viên Trường Bộ Binh Thủ Ðức, vải may quân phục cho quân nhân công du hoặc du học ngoại quốc, ..v..v.. Theo thời gian, các cơ sở sau đây được thành lập:

- Kỹ thương ngân hàng.

- Công ty bốc dỡ hàng hóa tại cảng Sài Gòn.

- Công ty vận tải.

- Công ty sản xuất vật liệu xây dựng.

- Xây cất tòa nhà nhiều tầng tại số 8 đại lộ Nguyễn Huệ khu trung tâm thủ đô, dự trù sử dụng cho văn phòng ngân hàng, cho các công ty do Quỹ thành lập, và cho thuê. Tòa nhà này thường được gọi là "cao ốc số 8 Nguyễn Huệ".

Quan điểm táo bạo nhất là Hội Ðồng Quản Trị sẽ tiến đến xây dựng nhà máy sản xuất đạn bắn thẳng mà khởi đầu là tân trang. Quan điểm này càng trở nên mạnh mẽ khi Trung Tướng (đã được thăng cấp) Ðồng Văn Khuyên được cử giữ chức Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Không biết do đâu mà quan điểm này lọt ra ngoài, và phía Hoa Kỳ bắn tiếng xa gần là sẽ không hỗ trợ mục tiêu này nếu như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thực hiện. Rất có thể đây là nguyên nhân thứ hai mà tôi vừa nói ở trên. Hoa Kỳ cho rằng, họ sẽ cung cấp đầy đủ đạn dược với phí tổn nhẹ hơn so với giá thành sản xuất tại Việt Nam. Ðúng hay không thì chưa rõ, vì phải nắm được giá thành sản xuất tại Hoa Kỳ mới so sánh được, với lại trong nghiên cứu chiến lược lắm khi những vị lãnh đạo phải chấp nhận phí tổn cao về kinh tế để đạt được mục đích khác cao hơn như mục đích chính trị chẳng hạn. Giả thuyết rằng, một viên đạn sản xuất tại Việt Nam cùng phẩm chất mà giá thành cao hơn giá thành sản xuất tại Hoa Kỳ, chánh phủ vẫn chấp nhận được vì cái cốt lõi của mục đích là khả năng tự lực, còn giá thành không phải là yếu tố quyết định cho dù đó là yếu tố đáng quan tâm. Nhưng điều đó cho phép ta nhận định là Hoa Kỳ không muốn Việt Nam Cộng Hòa dần dần ra khỏi tầm kiểm soát của họ, mà đây là bước đầu Hội Ðồng Quản Trị muốn thử nghiệm. Và theo tôi, đây là nguyên nhân thứ hai góp phần dẫn đến quyết định đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà lại là quyết định từ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu!

Số tiền thanh trả cho quân nhân và gia đình ra khỏi Quỹ, ngày được gia tăng nhiều hơn lúc đầu nhờ vào số lời thu được từ các nguồn đầu tư.

Ðùng một cái, Tổng Thống chỉ thị Phó Tổng Thống Trần Văn Hương thành lập Ủy Ban Thanh Tra do Ðại Tá Trương Bảy (về sau là Chuẩn Tướng ngành Cảnh Sát) trách nhiệm, và Cục Mãi Dịch là cơ quan được nhắm vào như là trọng tâm. Ðại Tá Trương Bảy là sĩ quan ngành Tiếp Vận, và ông là vị Cục Trưởng thứ hai từ khi ngành Mãi Dịch trong quân đội thành lập năm 1964. Cơ quan này căn cứ vào thể lệ mãi ước hành chánh quốc gia, và căn cứ vào nhu cầu cùng những điều kiện kỹ thuật do các ngành liên hệ cung cấp, có trách nhiệm thiết lập hồ sơ đấu thầu và đệ trình Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận (nếu khế ước có trị giá đến 80 triệu đồng lúc thành lập ngành, và năm 1973 tăng lên đến 200 triệu) và Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu quyết định (nếu khế ước trị giá 80.000.001 đồng trở lên, và năm 1973 thì từ 200.000.001 đồng trở lên).

Khi thành lập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, không ít sĩ quan ngay tại quân trấn Sài Gòn tỏ ý than phiền việc thành lập Quỹ cũng như Hội Ðồng Quản Trị Quỹ này không nằm trong nguyên tắc hành chánh nào cả, vì tổ chức này không hoàn toàn quân sự cũng không hoàn toàn là dân sự. Nhưng khi Quỹ bị bắt buộc giải tán và chi trả tài sản cho quân nhân thì dư luận quay lại ủng hộ Quỹ, cho rằng Tổng Thống đã bị "tài phiệt Chợ Lớn" và Hoa Kỳ khống chế, đành tâm đánh sụp một cơ sở tài chánh mà "tài phiệt Chợ Lớn" rất sợ sẽ mất độc quyền về kinh tế tài chánh. Ðúng hay không, tôi không có được những bằng chứng xác đáng về việc này nên không dám đánh giá, nhưng rõ ràng là sự sụp đổ của Quỹ Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân đã dẫn đến bữa tiệc rất trọng thể của nhiều nhà "tài phiệt Chợ Lớn".

Sở dĩ Cục Trưởng Cục Mãi Dịch bị Ủy Ban Thanh Tra nhắm vào vì Cục Trưởng là một thành viên trong Ủy Ban Thực Hiện cung cấp máy móc dụng cụ cho cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ nói trên, đặc biệt là các thang máy chở đồ và chở người cho cao ốc này, trị giá chung là 60.000.000,00 đồng Việt Nam. Ủy Ban Thanh Tra kết luận, việc thực hiện hai loại thang máy nói trên là không đúng nguyên tắc, và hệ quả là vị Cục Trưởng bị phạt và bị cách chức.

Ủy Ban Thanh Tra cho rằng, đáng lẽ Ủy ban Thực Hiện phải mở cuộc đấu thầu công khai với các nhà thầu quốc tế lẫn trong nước, đằng này Ủy Ban Thực Hiện chỉ "gọi thầu trực tiếp" dù là với nhà thầu quốc tế, nghĩa là mời các nhà thầu mà Ủy Ban Thực Hiện xét thấy có khả năng thi hành khế ước để khảo giá trực tiếp rồi trình lên Chủ Tịch Hội Ðồng Quản Trị. Sở dĩ trình lên Hội Ðồng Quản Trị vì ngân khoản này không thuộc ngân sách quốc gia, mà là ngân khoản của Quỹ. Thật ra theo nguyên tắc mãi ước hành chánh do chánh phủ Pháp ban hành năm 1899 (chính xác là vậy đó), mà nền hành chánh Việt Nam Cộng Hòa vẫn áp dụng không mảy may thay đổi điều khoản căn bản nào cả. Cũng theo đó, "đấu thầu công khai" hay "gọi thầu trực tiếp", đều đúng nguyên tắc cả, có điều là mỗi nhu cầu tùy theo trường hợp và thực hiện theo cách nào cho là thích hợp nhất mà áp dụng, nhưng nhất thiết phải có lợi cho ngân sách. Xét cho đúng thì không có gì trái nguyên tắc cả, với lại lần thực hiện đó giảm chi được khoản tiền đáng kể mà lại được món hàng tốt nữa. Nhưng khi cấp thẩm quyền muốn cho nó sập thì kết luận phải cho nó sập, vì đó là lệnh của Tổng Thống mà!

Lúc ấy tôi đang phục vụ tại Bộ Chỉ Huy 4 Tiếp Vận (Cần Thơ), được cử thay thế vị Cục Trưởng nói trên. Bấy giờ là tháng 6 năm 1972. Tôi đương nhiên là thành viên trong Ủy Ban Thanh Lý tài sản của Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân. Ủy Ban Thanh Lý do Tổng Nha Tài Chánh và Thanh Tra Quân Phí/Bộ Quốc Phòng giữ chức Chủ Tịch, có nhiệm vụ thanh lý và hoàn trả những khoản còn lại trong thời gian thực hiện cao ốc số 8 đại lộ Nguyễn Huệ, mà trọng tâm là xác định mức độ công tác hoàn thành của nhà thầu Huỳnh Thi (?). Về họ thì tôi chắc chắn là đúng, nhưng về tên của nhà thầu thì tôi chưa dám xác định.

Trong thời gian tham gia Ủy Ban này, tôi được biết một số sự kiện, đồng thời Trung Tá Bùi Hy Trọng -Cục Phó Cục Mãi Dịch lúc thực hiện hàng cho cao ốc số 8 Nguyễn Huệ- cung cấp cho tôi những con số sau đây:

- Ðến khi bị cưỡng bách giải tán thì số vốn do đóng góp là 3.520.000.000,00 (3 tỷ 520 triệu) đồng Việt Nam.

- Trước đó, số tiền chi trả cho quân nhân giải ngũ, về hưu, hy sinh, từ trần hay mất tích, là 460.000.000,00 (460 triệu) đồng.

- Khi thanh lý tài sản, đã chi trả cho toàn thể quân nhân hội viên (gồm cả tiền lời) lên đến 3.500.000.000,00 (3 tỷ 500 triệu) đồng.

- Ðã chi ra 360.000.000,00 (360 triệu) đồng vào công trình xây dựng cao ốc Nguyễn Huệ.

- Số tiền còn lại trong ngân hàng là 500.000.000,00 (500 triệu) cùng với tài sản tại các công ty của Quỹ ước tính cũng đến vài chục triệu nữa.

Cao ốc số 8 Nguyễn Huệ gồm 12 tầng, cộng với sân thượng dự trù sử dụng một nửa phía đại lộ Nguyễn Huệ để cho thuê khai thác nhà hàng có ca nhạc, và một tầng hầm làm chỗ đậu xe (parking) với lối ra vào dành cho xe chuyên chở hàng hóa sử dụng chuyển vận lên các tầng trên, và hai máy phát điện đủ cung cấp điện năng cho cao ốc khi bị cúp điện. Ngay tầng trệt dành cho Kỹ Thương Ngân Hàng và phòng khách chung cho cao ốc như tại các khách sạn lớn vậy.

Cũng trong năm 1972, Bộ Tài Chánh thương lượng với Ủy Ban Thanh Lý mua lại cao ốc số 8 Nguyễn Huệ với giá sơ khởi do Ủy Ban Thanh Lý ra giá là 1.000.000.000,00 (1 tỷ) đồng. Khi tôi được cử vào chức vụ Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, tôi không còn trong Ủy Ban Thanh Lý nữa nên không rõ diễn tiến như thế nào mà đến tháng 4 năm 1975, cao ốc vẫn chưa bán được.

Hãy để mục đích thành lập cũng như mục đích đánh sập Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân đúng hay sai qua một bên, chúng ta thử kết toán một cách tổng quát sau 51 tháng hoạt động: Số vốn 3 tỷ 520 triệu, đã lên đến 4 tỷ 460 triệu, cộng với cao ốc số 8 Nguyễn Huệ trị giá 1 tỷ, cộng với tài sản tại Kỹ Thương ngân hàng và các công ty. Nếu không bị đánh sập, rất có thể Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, có khả năng góp phần đáng kể vào mục tiêu phát triển kinh tế quốc gia, cũng có thể góp phần quan trọng vào mục tiêu của quân đội từng bước tiến đến tự lực trong nền kinh tế quốc gia, đang đặt trọng tâm vào khả năng và tiềm năng tìm kiếm khai thác dầu hỏa dưới thềm lục địa Việt Nam, mà Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa đặt nhiều tin tưởng vào đó, ước tính từ năm 2000. Không phải là ảo tưởng khi Thiếu Tướng Ðồng Văn Khuyên (cấp bậc lúc bấy giờ), Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, năm 1969, giao cho tôi lúc tôi phụ trách Sở Kế Hoạch & Chương Trình/Tổng Cục Tiếp Vận, âm thầm nghiên cứu phác thảo một hướng đi cho ngành Tiếp Vận từng bước tiến đến tự lực các loại dụng cụ chiến tranh, mà một trong những nền tảng là khả năng và tiềm năng dầu hỏa. Trong năm 1970, Thiếu Tướng Khuyên đã chấp thuận dự thảo của tôi và ngay sau đó đã ban hành trong toàn ngành Tiếp Vận tập tài liệu nhỏ có tên là Ðường Lối Tiếp Vận 10 điểm với dự phóng từ năm 2000 có khả năng đạt đến nếu như những dự phóng phát triển của Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa không quá sai lệch. Sau đó, từng lãnh vực trách nhiệm được nghiên cứu phác thảo tổng quát. Và rồi tháng 4 năm 1975 chợt đến, tất cả trở thành giấy vụn.

2. Chuẩn bị phát triển quốc gia.

Hiệp Ðịnh ngưng bắn trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa ký ngày 27 tháng 1 năm 1973, đến tháng 3 năm 1973 Hiệp Ðịnh có hiệu lực. Sau đó là trao đổi tù binh, gồm cả tù binh Hoa Kỳ và tù binh Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản giam giữ. Hiệp Ðịnh bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam có tên là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vi phạm ngay khi Hiệp Ðịnh tưởng chừng chưa ráo mực. Nhưng không vì vậy mà chánh phủ đặt nhẹ nhu cầu phát triển đất nước. Với những sinh hoạt khá rộn rịp, chuẩn bị các dự án phát triển quốc gia thời hậu chiến, như:

Tháng 6 năm 1973, một phái đoàn chánh phủ gồm quí vị: Tổng Trưởng Giao Thông Bưu Ðiện, Tổng Trưởng Tài Chánh, Tổng Giám Ðốc Ngân Hàng Phát Triển Kỹ Nghệ cùng 3 vị Giám Ðốc trực thuộc, Chủ Tịch Phòng Thương Mại Sài Gòn, và nhiều công kỹ nghệ gia thuộc Phòng Thương Mại Sài Gòn. Phía quân đội được Thủ Tướng chỉ định đích danh 4 sĩ quan của ngành Tiếp Vận liên quan đến các dự án của chánh phủ, tham dự:

- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, Cục Trưởng Cục Công Binh.

- Ðại Tá Nguyễn Hữu Bầu, Cục Trưởng Cục Quân Nhu.

- Ðại Tá Trần Văn Lễ, Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ.

- Và tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Cục Trưởng Cục Mãi Dịch.

Một nửa phái đoàn sang Hawaii hội thảo với các nhà đầu tư Hoa Kỳ, rồi sang Singapore ráp vào một nửa kia từ Sài Gòn sang Singapore trước vài ngày, cùng nghiên cứu về phát triển chiều cao, phát triển kỹ nghệ chế biến, và xây dựng hải cảng dành cho loại tàu chở container.

Trước đó, một khóa hội thảo về đầu tư phát triển được tổ chức tại Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng kéo dài trong 3 tuần lễ, với sự tham dự đông đảo của công thương kỹ nghệ gia Việt Nam, và phái đoàn kỹ nghệ gia Hoa Kỳ. Tôi được Tổng Cục Tiếp Vận chỉ định tham dự hội thảo. Tóm tắt tổng quát các dự án đã trình bày, gồm:

- Dự án mở rộng Sài Gòn về phía Thủ Thiêm được xem như thủ đô chính trị.

- Biến vùng Rừng Sát ngập nước, lọt thỏm giữa Sài Gòn-Biên Hòa-Vũng Tàu, thành khu chế xuất lớn nhất Việt Nam mang dáng vấp khu kỹ nghệ Jurong Town của đảo quốc Singapore.

- Một phi trường quốc tế tọa lạc gần sông Ðồng Nai, cũng gần xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa. Phi trường Tân Sơn Nhất trở thành phi trường quốc tế thứ hai.

- Hầu hết những cơ sở cấp trung ương của quân đội chuyển lên hướng xa lộ Sài Gòn-Biên Hòa, nhường chỗ cho những dự án canh tân thủ đô.

Tất cả đều dự trù thực hiện trong khoảng 20 năm kể từ đầu thập niên 1980. Với những dự án này -trong một chừng mực nào đó- cho thấy chánh phủ vẫn tin tưởng vào Hiệp Ðịnh, dù rằng bị cộng sản vi phạm ngay sau khi Hiệp Ðịnh có hiệu lực.

Sở dĩ tôi được tham dự khóa hội thảo này vì tôi trách nhiệm liên lạc với Bộ Kế Hoạch lúc đầu, về sau là Ủy Ban Quốc Gia Dầu Hỏa, để nghiên cứu phác thảo một quan niệm tổng quát về khả năng ngành Tiếp Vận có thể từng bước tiến đến tự lực về dụng cụ chiến tranh, căn cứ vào khả năng và tiềm năng quốc gia mà dầu hỏa được xem là nền tảng cho công cuộc phát triển đất nước. Công tác đang diễn tiến, thì lần lượt Phước Long rồi Ban Mê Thuột thất thủ, rút bỏ Cao Nguyên, rồi những cuộc lui binh hỗn loạn từ tuyến đầu Quảng Trị cho đến Cam Ranh, ..v.. v.. thế là kết thúc.

Ngay trong năm 1973, trong phạm vi Tổng Cục Tiếp Vận, gồm 8 ngành chuyên môn: Quân Nhu, Quân Cụ, Quân Y, Quân Vận, Quân Tiếp Vụ, Công Binh, Truyền Tin, và Mãi Dịch quân đội, thực hiện chương trình cải tổ để thích nghi với viện trợ quân sự Hoa Kỳ sẽ giảm nhiều. Trọng tâm của chương trình cải tổ là giản lược hệ thống tổ chức về tồn trữ và sửa chữa quân dụng theo quan niệm tập trung, để giảm bớt số lượng tồn trữ trải mỏng theo quan niệm diện địa, vì số lượng dụng cụ chiến tranh không nhiều như trong thời chiến. Ðồng thời áp dụng khoa quản trị vào công tác quản trị toàn bộ dụng cụ chiến tranh bằng máy điện toán IBM 360/50, là loại máy có khả năng rất lớn so với quân đội của các quốc gia bạn trong khu vực Ðông Nam Á lúc bấy giờ, để giải quyết nhu cầu tiếp liệu, tồn trữ, vận chuyển, sửa chữa và tân trang, vừa chính xác vừa nhanh chóng. Tách hẳn kế toán với tồn trữ, quan niệm này có nghĩa là bộ phận giữ kho không hề biết trong kho có những món hàng nào, số lượng bao nhiêu, hay vị trí món hàng ở đâu. Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận là cơ quan kế toán, và Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân là cơ quan điều khiển.

Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng danh từ "khách hàng" để chỉ các đơn vị Tiếp Vận tại 5 Vùng Tiếp Vận, được chỉ định liên lạc trực tiếp với Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận ngang qua máy điện toán để xin tiếp liệu hay sửa chữa, nói chung là mọi nhu cầu về quản trị Tiếp Vận. Cũng xin giải thích thêm về 5 Vùng Tiếp Vận: Vùng 1 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn I/Quân Khu I, Vùng 2 Tiếp Vận và Vùng 5 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn II/Quân Khu II, vì lãnh thổ Vùng này trải dài theo ven biển và từ ven biển lên tận Cao Nguyên, Vùng 3 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn III/Quân Khu III, và Vùng 4 Tiếp Vận thuộc Quân Ðoàn IV/Quân Khu IV.

Kế hoạch cải tổ đã thực hiện xong phần căn bản về tổ chức, nhưng về máy điện toán của các khách hàng chưa thực hiện xong, thì chế độ dân chủ tự do chúng ta sụp đổ.

3. Viện trợ quân sự.

Tháng 3 năm 1973, Hiệp Ðịnh Paris Ngưng Bắn Và Tái Lập Hòa Bình có hiệu lực, nhưng ngay sau đó quân cộng sản mở cuộc bao vây tấn công vào đồn Tống Lê Chân trong phạm vi Quân Ðoàn III do Biệt Ðộng Quân trú đóng. Lần lượt nhiều đơn vị khác cũng bị chúng tấn công. Ðó là sự vi phạm Hiệp Ðịnh một cách trắng trợn mà Ban Quân Sự Liên Hợp 4 bên do Hiệp Ðịnh Paris qui định cũng không giải quyết được gì cả. Trong một tình hình ngưng bắn nhưng thật sự thì chiến tranh vẫn còn nguyên đó, súng vẫn nổ, người vẫn thương vong, nhưng mức độ viện trợ quân sự đã giảm nhiều. Từ 1.062.000.000 (1 tỷ lẻ 62 triệu) mỹ kim năm tài chánh 1972-1973 xuống còn 700 triệu cho năm tài chánh 1974-1975. Cũng trong năm tài chánh này, lần đầu tiên Cơ Quan Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ (gọi tắt theo tiếng Mỹ là D.A.O.) cho biết ngân khoản viện trợ trong một năm, và là lần đầu tiên cũng là lần duy nhất, cơ quan DAO yêu cầu Tổng Cục Tiếp Vận cho biết quan niệm sử dụng cùng với một kế hoạch chi tiết sử dụng số tiền viện trợ đó.

Trước khi đi sâu vào kế hoạch sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ, tôi xin lướt qua đôi nét về thủ tục viện trợ quân sự để quí vị quí bạn có khái niệm về "đồng đô la viện trợ quân sự" của Hoa Kỳ như thế nào. Cũng xin trình bày rõ thêm, đây không phải là viết theo tài liệu của Hoa Kỳ hay của Việt Nam, mà là tôi căn cứ vào những buổi họp tham mưu của toàn ngành Tiếp Vận mà đúc kết vào đây.

Từ khi Hoa Kỳ viện trợ quân sự trực tiếp cho Việt Nam Cộng Hòa chúng ta (1966-1967) đến cuối tài khóa 1973-1974, họ không cho chúng ta biết trước là họ viện trợ cho chúng ta bao nhiêu trong một tài khóa, mà họ căn cứ theo nhu cầu của chúng ta đưa sang và họ xét thấy phù hợp với chính sách của họ là họ cấp, dĩ nhiên là phải thông qua các buổi họp tham mưu chuyên môn giữa Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam. Quân lực Việt Nam nhận viện trợ quân sự trực tiếp từ quân đội Hoa Kỳ chớ không bị ràng buộc bởi đạo luật năm 1961 về viện trợ quân sự ngoại quốc (theo chế độ MDAP), nghĩa là không theo hệ thống Bộ Tổng Tham Mưu lên Bộ Quốc Phòng, rồi sang Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa. Từ Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa chuyển sang Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, lần lượt đến Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, sau đó mới đến Quân chủng liên hệ của Hoa Kỳ. Tôi nói nhận viện trợ trực tiếp (theo chế độ MASF, dịch sang Việt ngữ là Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự), có nghĩa là mỗi quân chủng Hải Lục Không Quân của Việt Nam Cộng Hòa, liên hệ trực tiếp với các quân chủng Hải Lục Không Quân của Hoa Kỳ, ngang qua các cố vấn tại các quân chủng để đưa yêu cầu viện trợ.Trong trường hợp này, Bộ Tổng Tham Mưu theo dõi chặt chẽ mọi diễn tiến, nhưng Bộ Quốc Phòng thì không nắm vững như vậy.

Bây giờ là công tác tham mưu soạn thảo kế hoạch sử dụng 700 triệu mỹ kim viện trợ quân sự tài khóa 1974-1975. Căn cứ trên quan niệm của Phòng 3/Tổng Tham Mưu, quan niệm của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, là muốn duy trì một khả năng phòng thủ trong phạm vi viện trợ giới hạn, cần:

- Phải có vũ khí, gồm cả phi cơ với chiến hạm, bom đạn và chất nổ.

- Phải di động nhanh, tức là nói đến phương tiện vận chuyển đường bộ, đường thủy, và hàng không, cùng với các loại nhiên liệu thích hợp.

- Phải duy trì tốt hệ thống chỉ huy liên lạc, tức là máy móc truyền tin vô tuyến lẫn hữu tuyến, diện địa lẫn chiến thuật.

- Và phải điều trị đúng mức cho thương bệnh binh, vì sau mỗi trận chiến thể nào cũng có tổn thất nhân mạng, cho nên chi tiêu cho các quân y viện cũng là nhu cầu thiết yếu.

Quan niệm cũng dứt khoát, không mua thêm bất cứ loại quân dụng chiến tranh nào, mà đặt trọng tâm vào kế hoạch săn nhặt cơ phận từ các quân dụng phế thải cùng chủng loại để tân trang sử dụng.

Từ quan niệm căn bản đó, bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận điều hợp với các Cục, soạn thảo kế hoạch như thế này:

Với nhu cầu thứ nhất là vũ khí thì không cần mua thêm bất cứ loại nào, cần sử dụng tân trang trong số 2 triệu khẩu súng các loại hiện có. Về bom đạn và chất nổ, bản thống kê trong 3 năm trước đó do Sở Ðạn Dược của Cục Quân Cụ thiết lập, đã cung cấp một loạt thống kê về mức tiêu thụ trung bình của từng loại vũ khí, từng loại đạn nổ, đạn chiếu sáng, đạn khói, ..v.. v.., từng loại bom, và từng loại chất nổ. Nhóm công tác tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận sử dụng những thống kê đó làm căn bản ước tính nhu cầu năm 1974-1975 theo tình hình chiến sự do Phòng Nhì và Phòng Ba/Tổng Tham Mưu ước tính. Xin nhớ rằng trong năm 1971 đến 1973, chiến sự dữ dội nhất là năm 1972, và mức tiêu thụ các loại quân dụng chiến tranh rất cao, với ngân khoản viện trợ quân sự năm đó lên đến 1.062.000.000 mỹ kim, và con số này là cao nhất trong suốt 20 năm Hoa Kỳ viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Khi chiết tính nhu cầu đạn dược, các sĩ quan tham mưu ngành Tiếp Vận đã phải tính riêng cho loại đạn bắn thẳng như súng trường, súng M16, súng trung liên, đại liên, đến các loại đạn bắn vòng cầu của súng cối, súng đại bác 105 ly, 155 ly, 175 ly, hỏa tiễn chống chiến xa, ..v.. v... Và rồi mỗi loại phải tính đến đạn chiếu sáng, đạn xuyên phá, đạn khói.

Tóm lại là phải tính đến từng chi tiết để mua đúng loại bom đạn thật sự cần thiết, đúng chủng loại vũ khí, đúng số lượng ước tính, và thích hợp với số tiền viện trợ. Ðó cũng là phương châm của ngành Tiếp Vận: "Ðúng lúc, đúng mức, và đúng chỗ". Không có gì cao siêu trong cách tính này cả, vì nó tương tự những bà nội trợ trước khi đi chợ phải ước tính xem nấu những thức ăn gì, để từ đó mới tính ra là mua những cá những tôm những hành những tỏi, mỗi thứ bao nhiêu để nấu đúng món và đủ cho số khẩu phần trong gia đình thích ứng với hoàn cảnh mới về "kinh tế" của gia đình. Tiếp Vận để duy trì cho một triệu quân nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, từ dạ dày đến thương tích hay bệnh hoạn, hy sinh hay từ trần, từ khẩu súng viên đạn, đến vận chuyển hay liên lạc, ..v..v.., trong một góc độ nào đó, tương tự như bà nội trợ bảo vệ hạnh phúc gia đình, dĩ nhiên là mức độ phức tạp khác nhau.

Áp dụng cách tính như vậy cho nhu cầu duy trì khả năng di động với phương tiện của Lục Quân, là xe vận tải từ 2.5 tấn trở lên, phương tiện của Hải Quân là Giang Vận Ðỉnh và Hải Vận Hạm, phương tiện của Không Quân là phi cơ vận tải C47, C130, ..v.. v... Chỉ riêng nhu cầu các loại nhiên liệu cho Hải Lục Không Quân đã ngốn hết 80 triệu mỹ kim rồi, nhưng mức chi tiêu này chỉ mới bằng 2/3 chi phí nhiên liệu của tài khóa 1973-1974 thôi.

Ðối với nhu cầu cơ phận sửa chữa các loại máy truyền tin trong hệ thống liên lạc diện địa cũng như hệ thống liên lạc chiến thuật, cũng theo cách tính trên. Nghĩa là loại nào cần thiết cho hai nhu cầu trên mới đưa vào kế hoạch sử dụng ngân khoản đó.

Cơ quan D.A.O. cũng thông báo chánh thức cho Tổng Cục Tiếp Vận biết rằng, chế độ viện trợ quân sự theo "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự" (MASF) sẽ chấm dứt vào cuối tài khóa 1974-1975, sau đó chuyển sang chế độ "Chương Trình Viện Trợ Quân Sự" (MDAP). Họ thông báo để Tổng Cục Tiếp Vận chuẩn bị cho kịp thời gian, vì hệ thống viện trợ này phải theo hệ thống vòng vo cần nhiều thời gian cho hành trình giấy tờ thủ tục, kèm theo một danh sách dài thật dài, ghi rõ từng loại quân dụng với từng số lượng đang sử dụng, tiếp đó là những danh sách cơ phận cần thực hiện cho từng loại quân dụng. Họ chấp nhận món quân dụng nào trong danh mục của Tiếp Vận quản trị, họ mới viện trợ "một đổi một" cũng như cơ phận thay thế nó. "Một đổi một" tức là "mất một cái hoặc phế thải một cái Hoa Kỳ viện trợ lại một cái", không làm gia tăng thêm khối lượng dụng cụ chiến tranh.

Cũng nên nói thêm về sự kiện vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có xin thêm ngân khoản 300.000.000,00 mỹ kim nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ không chấp thuận, và có dư luận cho rằng vì không có 300.000.000,00 đó mà chúng ta thua trận! Tôi không rõ việc đó có đúng hay không, nhưng có điều tôi biết là đến tháng 4 năm 1975 thì tài khóa 1974-1975 vẫn còn giá trị. Ðiều đó có nghĩa là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn nhận viện trợ theo chế độ "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự", tức là ngân sách Quốc Phòng Hoa Kỳ vẫn viện trợ trực tiếp cho chúng ta nếu họ muốn. Khi Hành Pháp chuyển sang Lập Pháp, nếu chưa có đạo luật hay nguyên tắc nào khác thay đổi sự điều hành "Quỹ Viện Trợ Dịch Vụ Quân Sự" trong hoàn cảnh bất thường đối với Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, tôi nghĩ, đó là cách "giã từ" của Hành Pháp Hoa Kỳ, chớ không phải Hành Pháp không có thẩm quyền viện trợ. Nhắc lại để có thêm chút chuyện xưa thôi, chớ "khi muốn" thì cách nào cũng được, còn "khi không muốn" thì cách nào cũng xong. Chuyện đời thường đã thế, chuyện chính trị thường khi cũng thế, chỉ đôi khi chẳng thế! Ngôn ngữ chính trị là thế!

Chẳng hạn như chương trình "Việt Nam Hóa Chiến Tranh" vậy thôi. Khi mắt xích tại Việt Nam chưa thực hiện được thì chiến lược Domino của Hoa Kỳ trong mục tiêu "be bờ" ngăn chận sự bành trướng của cộng sản quốc tế xuống khu vực Ðông Nam Á Châu, từ Ðại Hàn Dân Quốc, xuống Nhật Bản, vòng qua Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan), Phi Luật Tân, ngang qua Việt Nam Cộng Hòa, và dừng lại Thái Lan, xem như chưa hoàn chỉnh. Thế rồi cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 giết chết Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, không biết có phải vì Tổng Thống từ chối ý định của Hoa Kỳ thiết lập những căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay không, đến cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 1 năm 1964, dẫn đến Thông Ðiệp của Trung Tướng Nguyễn Khánh với tư cách Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, yêu cầu các quốc gia đồng minh giúp đỡ Việt Nam Cộng Hòa chống quân cộng sản, mà thật ra Thông Ðiệp đó chẳng khác chiếc chìa khóa dành riêng cho Hoa Kỳ mở cửa Việt Nam thôi. Từ đó, quân bộ chiến Hoa Kỳ lần lượt thiết lập các căn cứ Chu Lai, Cam Ranh, Plei Ku, An Khê, Ðồng Tâm (Mỹ Tho), ..v.. v.. cùng chúng ta chiến đấu chống quân cộng sản từ miền Bắc len lỏi xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Ðến khi chính trị nội bộ Hoa Kỳ có những biến chuyển không thuận lợi cho chánh phủ liên bang, vì quân đội đã can dự sâu vào cuộc chiến tranh chống cộng sản trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, lúc bấy giờ Hoa Kỳ cho rằng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đủ mạnh để đương đầu với quân cộng sản của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa miền Bắc, thế là Hoa Kỳ thực hiện chương trình rút quân có tên gọi là "Việt Nam Hóa Chiến Tranh". Ðích thực của Việt Nam Hóa Chiến Tranh là gì? Ðơn giản mà nói, chẳng qua là Hoa Kỳ triệt thoái quân đội về nước mà Hoa Kỳ đã thu được trong thỏa hiệp ngưng bắn Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 là cái màn che chắn danh dự cho Hoa Kỳ rút quân về nước. Còn thật sự cái Hiệp Ðịnh đó có phải là danh dự cho cuộc triệt thoái quân đội Hoa Kỳ về nước hay không, lại là chuyện khác!

Khi rút quân, Hoa Kỳ để lại cho quân đội chúng ta một khối lượng dụng cụ chiến tranh gồm đại bác 175 ly nòng dài, đại bác phòng không, xe tăng M48, các loại giang tốc đỉnh sử dụng tuần duyên tuần giang, phi cơ vận tải C130, ..v.. v.., là những loại thuộc vào hàng cũ kỹ kể cả số lượng nằm hư hỏng -đáng kể là phi cơ các loại- trong các cơ xưởng chờ sửa chữa, mà nếu chuyển vận trở về Hoa Kỳ không chừng phải tốn một ngân khoản tương đương với trị giá khối dụng cụ này nữa đó.

Báo chí của những đồng minh chúng ta, đã thật tàn nhẫn khi nói Việt Nam Hóa Chiến Tranh chẳng qua là "thay đổi màu da trên xác chết!" Chừng như bạn chúng ta cho là Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chúng ta chưa bao giờ chết trận, cho mãi đến khi quân đội Hoa Kỳ về nước chúng ta mới bắt đầu chết trận vậy!

Bài học cho chúng ta, tôi nghĩ: "Ðồng minh là đồng minh, nhưng quyền lợi quốc gia vẫn là trên hết. Vì vậy mà những vị lãnh đạo các cấp từ lập pháp, hành pháp đến quân đội, hành sử chức năng của mình phải xuất phát từ tư tưởng quyền lợi quốc gia Việt Nam hài hòa với văn hóa Việt Nam." Ðó là bài học thật sự cay đắng cho mọi người Việt Nam trong thế hệ đương thời, và là bài học quí báu cho thế hệ mai sau trên chính trường!
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 22:02 Collapse   Print  
- tám -

Những Tháng Cuối Cùng
của cuộc chiến 1954-1975

*****

Tỉnh Phước Long thất thủ ngày 7 tháng 1 năm 1975.

Tỉnh Phước Long ở phía Bắc Ðông Bắc Sài Gòn, sát biên giới Việt Nam-Cam Bốt, là một trong những tỉnh được thành lập dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, trong chiến lược phòng thủ quốc gia. Nơi đây là vùng đất chuyển tiếp của địa hình cao nguyên cuối dãy Trường Sơn xuống đồng bằng miền Nam. Vì vậy mà Phước Long núi không cao, rừng không rậm rạp như rừng già Cao Nguyên. Cư dân hầu hết là người miền núi thuộc nhiều bộ tộc khác nhau. Thời thực dân Pháp cai trị, địa phương này có cái tên mà bất cứ người dân bình thường nào cũng khiếp đảm khi nghe đến, đó là trại tù Bà Rá.

Sự ra đời của tỉnh Phước Long và tỉnh Bình Long trong phạm vi lãnh thổ Quân Ðoàn III/ Quân Khu III, do quan niệm của Tổng Thống Diệm chuẩn bị chống chiến tranh xâm lược của cộng sản miền Bắc dưới tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Bởi theo Hiệp Ðịnh Ðình Chiến mà thực dân Pháp, cộng sản Liên Xô, cộng sản Trung Hoa, và cộng sản Việt Nam ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại Genève, Thụy Sĩ, thì hai năm sau đó -tức năm 1956- sẽ tổng tuyển cử thống nhất Nam Bắc, nhưng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã chánh thức công bố là không chấp nhận tổng tuyển cử vì chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa không ký vào Hiệp Ðịnh đó. Mà thật ra, trong tình hình lúc bấy giờ, nếu tổng tuyển cử thì nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có cơ hội chiến thắng trong cuộc bầu cử đó, có nghĩa là khối Tự Do do Hoa Kỳ lãnh đạo nói chung và Việt Nam Cộng Hòa chúng ta nói riêng, bị trúng kế của khối cộng sản do Liên Xô lãnh đạo. Và như vậy, Việt Nam chúng ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ bị cộng sản cai trị bằng chế độ độc tài từ đó. Hẳn là Tổng Thống tin rằng nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ bắt đầu chiến tranh xâm chiếm Việt Nam Cộng Hòa, mà bước đầu là một lực lượng lên đến hằng chục ngàn cán bộ do chúng cài lại miền Nam bằng cách sống chen lẫn trong gia đình, hay trong đồng bào nông thôn miền Nam khi chúng tập kết chuyển ra Bắc theo Hiệp Ðịnh Ðình Chiến qui định. Ðây sẽ là lực lượng nòng cốt gây chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chúng ta.

Mục tiêu thành lập các tỉnh tại những vùng mà trong cuộc chiến tranh giữa Pháp thực dân với Việt Minh cộng sản 1946-1954 mà quân Pháp không kiểm soát được, để có các cơ quan hành chánh lẫn quân sự hoạt động vừa bảo vệ dân vừa ngăn chận quân cộng sản thiết lập hạ tầng cơ sở cho cuộc chiến tranh ước tính là rất có thể sẽ xảy ra. Một đoạn trên quốc lộ 14 từ thị trấn Chơn Thành thuộc tỉnh Bình Long, chạy ngang thị trấn Ðồng Xoài -tức quận Ðôn Luân- thuộc tỉnh Phước Long lên hướng Ðông Bắc sẽ đến tỉnh lỵ Ban Mê Thuột của tỉnh Darlac. Ban Mê Thuột được xem là thủ phủ Cao Nguyên Miền Trung. Từ đây thẳng lên hướng Bắc sẽ đến Plei Ku, và tiếp tục thêm khoảng 40 cây số nữa sẽ đến Kon Tum, tỉnh cuối cùng của quốc lộ 14 trên dãy Trường Sơn. Do vậy mà tỉnh Phước Long có tầm quan trọng về mặt chiến lược quân sự lẫn chính trị trong chiến tranh chống cộng sản, một loại chiến tranh mà nhà cầm quyền không dễ gì nhận ra địch quân vì chúng sống trà trộn trong đồng bào, thậm chí là chúng có thể chen vào trong các cơ quan nữa.

Từ khi vùng rừng núi này trở thành tỉnh, dân số gia tăng dần lên với số người từ Sài Gòn cũng như các tỉnh khác đến đây khai phá đất ba-dan trồng các loại cây kỹ nghệ, và buôn bán làm ăn với đồng bào sắc tộc. Tuy chưa phải là nhộn nhịp như các tỉnh vùng đồng bằng Cửu Long hay dọc miền duyên hải, nhưng cũng tạo được bộ mặt đầy đủ của một tỉnh lỵ cũng như các thị trấn quận và xã.

Ðầu năm 1957, quân cộng sản gài lại trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa -nhiều nhất là các tỉnh cực Nam đồng bằng Cửu Long- bắt đầu quấy rối trên toàn lãnh thổ. Lúc ấy, tỉnh Phước Long cũng trong tình trạng như vậy. Những năm đầu, hoạt động của cộng sản tập trung vào phạm vi kinh tài và đấu tranh chính trị với những cuộc biểu tình lẻ tẻ ở nông thôn, hoặc vùng ngoại ô các thị trấn hay tỉnh lỵ, phản đối những cuộc hành quân bình định, hoặc yêu sách những tên cộng sản bị bắt. Cuối năm 1960, quân cộng sản bắt đầu hoạt động với lực lượng du kích cấp Trung Ðội trang bị thô sơ, và từng bước chúng tiến lên hoạt động cấp Ðại Ðội. Trong những năm 60, lực lượng cấp Trung Ðoàn, rồi Sư Ðoàn, được cộng sản Liên Xô và cộng sản Trung Hoa trang bị nhiều loại dụng cụ chiến tranh được xem là thế hệ mới. Từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa phía Bắc vĩ tuyến 17, luồn theo dãy Trường Sơn xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa, và thực hiện những trận đánh cấp Trung Ðoàn vào đầu những năm 70. Cho đến tháng 3 năm 1973, lực lượng cộng sản quanh quẩn trong vùng rừng núi của Phước Long và các tỉnh lân cận lên đến cấp Sư Ðoàn, nhưng chưa làm gì được Phước Long. Rồi ngay sau ngày Hiệp Ðịnh Paris (tháng 3 năm 1973) có hiệu lực, quân cộng sản vẫn tiếp tục chiến tranh, có nghĩa là chúng ngang nhiên vi phạm Hiệp Ðịnh này.

Ngày 13 tháng 12 năm 1974, một đơn vị có thể là cấp Tiểu Ðoàn trở lên, tấn công quận lỵ Ðôn Luân, vị trí án ngữ quốc lộ 14 lên Ban Mê Thuột hay xuống Bình Long, và liên tỉnh lộ 1 lên Phước Long, bị quân trú phòng đẩy lui. Nhưng cuộc tấn công kế tiếp thì Ðôn Luân thất thủ. Sau đó, một lực lượng khác của cộng sản đánh chiếm quận Bố Ðức (?) với quận Ðức Phong (có thể tôi nhớ không chính xác về tên Quận). Một lực lượng của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh được Bộ Tổng Tham Mưu điều động tăng cường tỉnh lỵ, trong khi yểm trợ hỏa lực không quân được tập trung cho Phước Long, kể cả điều động từ Sư Ðoàn 4 Không Quân ở Cần Thơ tăng cường.

Cuộc tiếp tế cho các đơn vị hành chánh, quân sự, lẫn đồng bào trong tỉnh lỵ trở nên khó khăn, thậm chí là rất khó khăn vì quân cộng sản sử dụng nhiều lực lượng nhỏ phục kích nhiều ngày mà chúng gọi là "đóng chốt" tại các đoạn đường hiểm trở dọc theo đường liên tỉnh số 1 dẫn lên tỉnh lỵ. Tình trạng này làm cho công tác chuyển vận các loại tiếp liệu bằng đường bộ không sử dụng được, trong khi tiếp tế bằng phi cơ rất hạn chế từ sau khi Ðệ Thất Không Lực Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam theo qui định trong Hiệp Ðịnh Paris. Trong cùng thời gian, quân cộng sản pháo kích mạnh vào phi trường Lai Khê -nơi hoạt động rộn rịp của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tiếp viện Phước Long- và phi trường Sông Bé, tỉnh lỵ Phước Long.

Ngày 24 tháng 12 năm 1974, chiếc trực thăng Chinook 47 chở chuyên viên từ Sài Gòn lên tỉnh lỵ Phước Long sửa chữa chiếc phi cơ vận tải C.130 bị hư đang nằm tại phi trường ngoại ô tỉnh lỵ, sau khi chở tiếp tế thực phẩm và nhiên liệu đến nơi. Lượt về, chiếc Chinook 47 đã bị hỏa lực phòng không của quân cộng sản bắn hạ sau khi cất cánh chưa đầy 5 phút. Các phi tuần khu trục phản lực A.37 được điều động từ Sư Ðoàn 4 Không Quân ở Cần Thơ lên tăng cường yểm trợ hỏa lực cho lực lượng phòng thủ Phước Long, một trong số các phi công phản lực A.37 -Thiếu Tá Trần Quốc Tuấn- đã nói với tôi rằng:

"… Em chưa bao giờ gặp hỏa lực phòng không dày đặc bố trí chung quanh tỉnh lỵ Phước Long. Phải nói rằng, một lưới lửa đỏ cả một vùng rộng lớn đã gây trở ngại đáng kể cho các phi tuần khu trục yểm trợ Phước Long …"

Ngay ngày đầu năm 1975, quân cộng sản pháo kích khá mạnh vào căn cứ không quân Biên Hòa, để ngăn chận những phi tuần khu trục của Sư Ðoàn 3 Không Quân cất cánh yểm trợ Phước Long. Cũng trong những ngày đầu năm 1975, các đơn vị cộng sản gia tăng áp lực chung quanh tỉnh lỵ với lực lượng ghi nhận là cấp Sư Ðoàn, đặc biệt sự ghi nhận về lực lượng phòng không của chúng rất mạnh. Ðang trong tình hình hết sức nguy hiểm cho lực lượng trú phòng, thì sự bất đồng quan niệm hành quân giải tỏa Phước Long giữa Trung Tướng Dư Quốc Ðống, Tư Lệnh Quân Ðoàn III/Quân Khu III, với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu trong phiên họp tại Phủ Tổng Thống, Trung Tướng Ðống xin tăng cường lực lượng tổng trừ bị nhưng không được chấp thuận. Xin nói thêm, lực lượng tổng trừ bị dưới quyền điều động của Bộ Tổng Tham Mưu, gồm: Sư Ðoàn Nhẩy Dù, Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù, và Liên Ðoàn 7 Biệt Ðộng Quân.

Sự bất đồng quan điểm này, tôi nghĩ, không phải là vấn đề lớn đến nỗi gây bất bình cho Trung Tướng Dư Quốc Ðống. Ông từng là Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhẩy Dù, từng được Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường cho Quân Ðoàn I, Quân Ðoàn II, trong những tình hình chiến sự tại đó, chắc ông dễ dàng thông cảm với Bộ Tổng Tham Mưu khi sử dụng lực lượng tổng trừ bị. Về phía Quân Ðoàn III, xin thì ông cứ xin, nhưng còn chấp thuận hay không còn phải tùy thuộc tình hình khắp các Quân Ðoàn mà chỉ Bộ Tổng Tham Mưu mới nắm vững. Trong thời gian Phước Long bị tấn công gần như toàn tỉnh, thì tình hình tại Quân Ðoàn I và Quân Ðoàn II cũng không phải là yên tĩnh, và cho dù có yên tĩnh đi nữa thì Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu là cơ quan có trách nhiệm cập nhật hóa "bản nghiên cứu và ước tính tình báo" cung cấp thường xuyên cho vị Tổng Tham Mưu Trưởng về tình hình tại các vùng lãnh thổ các Quân Ðoàn trách nhiệm. Nghĩa là vị Tổng Tham Mưu Trưởng, lúc nào cũng theo dõi thấu hiểu tình hình quân sự khắp nơi trên lãnh thổ. Chỉ nhìn từ bên ngoài thôi, lực lượng trú phòng vùng giới tuyến phải luôn luôn trong thế sẵn sàng chống trả những cuộc tấn công của một lực lượng cộng sản nhất thiết là mạnh hơn các vùng lãnh thổ khác, vì bất cứ lúc nào chúng cũng có thể từ bên trên vĩ tuyến 17 xua quân tràn xuống tấn công chúng ta. Có lẽ vì vậy mà Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường dài hạn cho Quân Ðoàn I, cả lực lượng của Sư Ðoàn Nhẩy Dù lẫn Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, trong khi Phước Long bị mất một số Quận nhưng vẫn không đưa ra quyết định rút một phần lực lượng tổng trừ bị từ Quân Ðoàn I về tăng viện cho Quân Ðoàn III, ắt phải có nguyên nhân chính đáng, trừ khi có nguyên nhân sâu xa nào đó đằng sau quyết định của Tổng Thống không chấp thuận đề nghị của Trung Tướng Tư lệnh Quân Ðoàn III.

Theo lời của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu nói lại trong buổi họp tham mưu của Tổng Cục Tiếp Vận, thì Trung Tướng Dư Quốc Ðống xin từ chức ngay trong buổi họp tại Phủ Tổng Thống, nhưng Tổng Thống không chấp thuận. Lý do mà Trung Tướng Ðống xin từ chức, theo lời của cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên thì sau khi trình bày tình hình quân sự tại Phước Long là ông xin từ chức ngay vì ông tự thấy không đủ khả năng.

Vậy, sự thật là Trung Tướng Ðống xin từ chức trước khi hay sau khi Tổng Thống không chấp thuận tăng cường lực lượng cho Phước Long theo đề nghị của Trung Tướng Dư Quốc Ðống? Nếu Trung Tướng Dư Quốc Ðống xin từ chức trước khi Tổng Thống không chấp thuận tăng cường lực lượng giải tỏa áp lực cộng sản tại Phước Long, thì tại sao ông không từ chức trước khi Phước Long thật sự bị áp lực của quân cộng sản mà chờ đến lúc Phước Long nguy ngập mới xin từ chức với lý do không đủ khả năng giải quyết tình hình trong vùng trách nhiệm? Chẳng lẽ ông sợ chiến trường Phước Long? Còn nếu Trung Tướng Dư Quốc Ðống xin từ chức vì không được Tổng Thống tăng cường lực lượng, tôi nghĩ, cũng không nên. Tại sao? Tại vì có thêm quân thì tiếp tục làm Tư Lệnh, không có thêm quân thì xin nghỉ, mà là xin nghỉ trong khi Phước Long với hằng chục ngàn quân lẫn dân, viên chức lẫn cán bộ các ngành, đang trong tình trạng gần như hấp hối, nỡ lòng nào xin từ chức để không còn trách nhiệm với hằng chục ngàn con người bằng xương bằng thịt mà ít ra trong chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, ông đã có đôi ba lần được Họ đón tiếp để nghe ông ban những huấn lệnh!

Xin nhắc lại là tôi rất ngưỡng mộ Trung Tướng Dư Quốc Ðống, lúc ông là Chuẩn Tướng, thành viên trong Hội Ðồng Kỷ Luật Ðặc Biệt họp ngày 8 và 9 tháng 7 năm 1966 tại Bộ Tổng Tham Mưu, để giải quyết 5 vị Tướng liên quan đến sự kiện khủng hoảng miền Trung từ ngày 9 tháng 3 (1966) đến 15 tháng 5 năm 1966. Chuẩn Tướng Dư Quốc Ðống đã dõng dạc nhận mình là người bỏ phiếu trắng, có nghĩa là riêng ông không chống lại Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi dù ông công nhận Trung Tướng Thi đã có lời phát biểu cũng như những hành động sai trái trong sự kiện khủng hoảng đó. Lý do mà ông trình bày vì ông kính trọng Trung Tướng Thi là bậc Thầy của ông. Ðồng thời ông xin Hội Ðồng quyết định về chức vụ Tư Lệnh Nhẩy Dù của ông.

Nhưng sao bây giờ lại như vậy? Chẳng lẽ một vị Tướng, lại là vị Tướng trong binh chủng Nhẩy Dù mà sợ trận chiến Phước Long này sao? Hay là đằng sau của lời xin từ chức của ông, có điều gì uẩn khúc?

Tôi nghĩ, cho dù Tổng Thống có chấp thuận hay không chấp thuận về đề nghị của ông xin tăng viện cho Phước Long, ông cũng không nên từ chức. Nói cho cùng, cho dẫu trận chiến Phước Long có đưa ông vào ngõ cụt, ông vẫn phải dấn thân. Ðơn giản, vì ông là Trung Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III, mà một phần lãnh thổ trách nhiệm của ông đang trong tình thế nguy ngập!

Ðến ngày 7 tháng 1 năm 1975, toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản!

Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù là một trong những đơn vị rất tinh nhuệ của quân đội, đã phải băng rừng tháo chạy với tổn thất khá nặng, vì được Bộ Tổng Tham Mưu tăng cường vào lúc tỉnh lỵ lâm nguy nhất. Với lại cho dù thiện chiến đến đâu đi nữa, thì quân số của Liên Ðoàn đặc biệt này cũng không sao chống nỗi một địch quân đông vào khoảng 2 Sư Ðoàn, cho nên trong trường hợp này sự thất bại trong nhiệm vụ của Liên Ðoàn là điều không thể tránh được. Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Dù do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy trưởng, đặc biệt nổi danh trong trận chiến khốc liệt mùa hè 1972 trong nhiệm vụ phòng thủ tỉnh lỵ An Lộc thuộc tỉnh Bình Long. Hồi ấy, báo chí gọi là "Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972" để chỉ 3 mặt trận chính: Ðông Hà/Quảng Trị, Tân Cảnh/Kon Tum, Lộc Ninh với An Lộc/Bình Long, và mặt trận phụ là Hà Tiên/Kiên Giang. Cả 3 mặt trận chính đều do những Sư Ðoàn quân chính qui của cộng sản từ lãnh thổ nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trên miền Bắc tràn xuống tấn công.

Trận chiến "mùa hè 1972" này làm tôi nhớ lại vào những năm cuối của thập niên 50, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang từ cấp Tiểu Ðoàn là cao nhất, được tổ chức lên đến cấp Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, rồi Quân Ðoàn. Trang bị thống nhất với toàn bộ dụng cụ chiến tranh do Hoa Kỳ cung cấp. Lúc bấy giờ là năm 1958, sau khi tôi học xong khóa Ðại Ðội Trưởng tại chi nhánh Trường Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt trở về Tiểu Ðoàn 2/Trung Ðoàn 35/Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 đồn trú ở Catecka, cách thị xã Plei Ku khoảng 8 cây số về phía Nam. Lại dự khóa huấn luyện bổ túc Ðại Ðội Trưởng tại Kon Tum do Ban Cố Vấn Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 tổ chức trong 3 tháng. Xong khóa học, tôi chuyển lên Bộ Chỉ huy Trung Ðoàn 35, giữ chức Trưởng Ban 3 kiêm Trưởng Ban 5 Trung Ðoàn. Toàn bộ Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 gồm Trung Ðoàn 34, Trung Ðoàn 35, và Trung Ðoàn 36, cùng các đơn vị yểm trợ đang trong giai đoạn cuối của chương trình huấn luyện, và chuẩn bị vào chương trình hành quân thao dượt để Bộ Tổng Tham Mưu trắc nghiệm kết quả huấn luyện.

Cuộc hành quân thao dượt diễn ra trong phạm vi tỉnh Kon Tum theo quốc lộ 14 xuống Plei Ku, với tình hình giả định là vào thời gian nào đó, quân cộng sản từ bên trên vĩ tuyến 17 mở cuộc tấn công vào Việt Nam Cộng Hòa với 2 mặt trận chính: mặt trận thứ nhất là vượt sông Bến Hải tấn công vào Ðông Hà và Quảng Trị, mặt trận thứ hai là từ lãnh thổ Cam Bốt -sườn Tây Việt Nam- tấn công vào Dak To và Kon Tum. Trung Ðoàn 34 và Trung Ðoàn 35 Bộ Binh, có nhiệm vụ "trì hoãn chiến" từ mặt trận Kon Tum xuống Plei Ku trong khi chờ lực lượng tổng trừ bị tăng cường phản công. Còn Trung Ðoàn 36 Bộ Binh là lực lượng trừ bị của Sư Ðoàn. Lúc ấy, các sĩ quan tham mưu chúng tôi cho rằng, quan niệm về một tình hình giả định như vậy là không thực tế với chiến trường Việt Nam, vì sở trường của quân cộng sản là đánh du kích, có quá lắm là lên đến vận động chiến cấp Trung Ðoàn thôi.

Nhưng 14 năm sau, tức năm 1972, chiến trường đã diễn ra gần đúng như tình hình giả định trong cuộc hành quân thao dượt của Sư Ðoàn Khinh Chiến 12 vào năm 1958 vậy.

Trở lại tình hình hậu Phước Long! Trong buổi chiều cùng ngày 7 tháng 1 năm 1975, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, mời tất cả các đơn vị trưởng trong phạm vi Quân Trấn Sài Gòn và vùng phụ cận đến câu lạc bộ/Bộ Tổng Tham Mưu, để nghe ông tóm tắt diễn biến tình hình toàn tỉnh Phước Long, và ông nói rằng: sự thất thủ của tỉnh này -Trung Tướng Khuyên không nói là điều may, mà ông nói- là giảm đi cái ung nhọt trên cơ thể, vì với khả năng không vận hiện này mà chiến trường Phước Long cần đến thì Bộ Tổng Tham Mưu không thể thỏa mãn nỗi. Câu kết của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, đã làm cho cả hội trường gần như đồng thanh "ồ" lên một tiếng, và tiếp đến là những âm thanh xì xào mà tôi chắc là các cử tọa đang bất mãn về lời sau cùng của Trung Tướng Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Chính bản thân tôi cũng nhận thấy Trung Tướng Khuyên đã không chuẩn bị trước cho buổi họp này, nên đã nói một câu tuy ngắn ngủi nhưng làm đau lòng những chiến sĩ trú phòng cũng như tiếp viện Phước Long còn sống sót, và làm tổn thương vong linh những chiến sĩ đã ngã xuống cho sự sống còn của Phước Long!

Xin nói thêm rằng, ngoài 4 năm phục vụ trong van phòng Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi có gần 7 năm phục vụ dưới quyền trực tiếp của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, thường khi bàn thảo với ông về những quan niệm cùng những kế hoạch cải tiến ngành Tiếp Vận, và qua đó, tôi nhận thấy Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên là vị Tướng rất có kinh nghiệm trong nhiều lãnh vực hoạt động của quân đội, và một số lãnh vực về kinh tế. Mỗi khi ông đề cập đến vấn đề nào thì ông diễn đạt được những gì ông nghĩ, nhưng có điều là ông nghĩ đến đâu trình bày đến đó chớ không hoàn toàn tuần tự từ A đến Z, nói chung là không mạch lạc. Ông vừa có kinh nghiệm và vừa có nét nhìn xa về tương lai của quân đội, nhưng là nghiêng về quản trị con người, quản trị hành chánh, quản trị tiếp vận, hơn là về chiến lược chiến thuật. Chẳng hạn như chương trình cải tổ sâu rộng về tổ chức và điều hành trong toàn ngành Tiếp Vận trong năm 1973-1974, ông đã dám nghĩ và dám làm trong hoàn cảnh vừa tái tổ chức vừa yểm trợ, và bước đầu được đánh giá là thành công. Nét nhìn xa của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên được thể hiện trong Quỹ Tương Trợ Và Tiết Kiệm Quân Nhân, mà tôi trình bày ở một đoạn trong chương bảy.

Vì Trung Tướng Khuyên nghĩ sao thì nói vậy, nói một cách chân thành về những điều mà ông nghĩ, nên tôi và những sĩ quan tham mưu trong Tổng Cục Tiếp Vận có mặt lúc bấy giờ, hiểu và thông cảm về câu nói mà lẽ ra ông không nên nói, cho dẫu điều ông nói có là sự thật đối với khả năng của Bộ Tổng Tham Mưu cũng vậy. Tôi có nghe nói đến "chứng lapsus" và được giải thích rằng, khi người nào có chứng này thì trong những lúc bất chợt "lời nói thường là không đúng như điều đang nghĩ trong đầu". Không biết có phải Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên trong trường hợp này vào buổi chiều ngày 7 tháng 1 năm 1975 trong câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu hay không?

Ðúng là khả năng chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị suy giảm, nhưng không phải suy giảm đơn thuần do tinh thần chiến đấu của Quân Nhân, mà do những nguyên nhân khách quan, trước mắt là khối lượng dụng cụ chiến tranh vào hàng tối tân do 500.000 quân Ðồng Minh sử dụng, đã bị Hiệp Ðịnh Paris đẩy ra khỏi chiến trường Việt Nam. Ðó là khối hỏa lực mà quân cộng sản từng khiếp đảm, bỗng dưng không còn nữa! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đang đánh giặc theo "kiểu nhà giàu" hay ít ra cũng là "dựa hơi nhà giàu", nay đánh nhau theo "kiểu nhà nghèo" thì ảnh hưởng đến tinh thần Quân Nhân là điều khó tránh khỏi!

Phải chi những vị lãnh đạo của chúng ta -nhất là thời Trung Tướng Nguyễn Khánh 1964- có bản lãnh chính trị vững vàng, thì biết đâu có thể đã thuyết phục được đồng minh Hoa Kỳ, thay vì đưa quân sang Việt Nam thì họ nhiệt tình giúp chúng ta các loại chiến cụ để chính chúng ta chiến đấu cho đất nước chúng ta, thì chính nghĩa trọn vẹn trong tay chúng ta. Trong trường hợp đó, rất có thể không có cái "Hiệp Ðịnh Paris 1973 kỳ cục", cùng với "sự bảo đảm cũng kỳ cục" của 13 quốc gia và tổ chức Liên Hiệp Quốc, chỉ nhằm hỗ trợ cho quân cộng sản đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta. Ðó là một thứ bảo đảm không công bằng, bởi vì khi quân cộng sản vi phạm Hiệp Ðịnh, thậm chí khi chúng xua quân chính qui từ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tràn xuống vĩ tuyến 17 đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, cũng chẳng có thành viên nào trong con số 13 thành viên đó phản đối cả!

Sau đó, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn thay thế Trung Tướng Dư Quốc Ðống, trong chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, tháng 12 năm 1974, bàn giao chức vụ Tư lệnh Quân Ðoàn II cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, vì theo Phó Tổng Thống Trần Văn Hương, Trung Tướng Toàn bị tố cáo tham nhũng. Trước đó, trong thời gian giữ chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh đồn trú tại Quảng Ngãi, Trung Tướng Toàn đã bị báo chí nói đến như là một Tướng Lãnh có quá nhiều tai tiếng không tốt. Nhưng sau khi rời khỏi Sư Ðoàn 2 Bộ Binh, ông được Tổng Thống cử giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II ở Plei Ku. Sau khi bàn giao Quân Ðoàn II, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn nhận chức Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Thiết Giáp. Và tháng 2 năm 1975, từ Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp, ông nhận chức Tư lệnh Quân Ðoàn III.

2. Tỉnh Darlac thất thủ ngày 13 tháng 3 năm 1975.

Tết Nguyên Ðán đầu năm 1975, quân nhân và công chức nghỉ chiều Ba Mươi Tết và trọn ngày Mồng Một Tết, thay vì nghỉ 3 ngày rưỡi như mọi năm, vì tình hình nghiêm trọng sau khi toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản ngày 7 tháng 1 năm 1975.

Trưa Mồng Hai Tết, nếu như ngày thường thì rất đông sĩ quan nhà xa dùng cơm trưa tại câu lạc bộ Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng bữa ăn trưa hôm nay, chỉ có Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, tôi -lúc bấy giờ là Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận- và Thiếu Tá Nguyễn Văn Tấn, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Khuyên. Vì dù cho tình hình có thế nào đi nữa, trong mái ấm gia đình vẫn còn hương vị ngày Xuân, nên hầu hết các sĩ quan về nhà dùng cơm với gia đình.

Với nét mặt thật buồn, Trung Tướng Khuyên lên tiếng phá tan sự yên ắng trong khoảng không gian trống rỗng của câu lạc bộ:

"Tôi nghĩ, chắc mình mất nước thật quá anh!

"Tại sao Trung Tướng nghĩ vậy?

"Anh nghĩ coi, có vấn đề hạ tuổi hoãn dịch trong các tôn giáo để có thêm một số thanh niên nhập ngũ, mà Thủ Tướng trình lên Tổng Thống, rồi Tổng Thống đẩy xuống Thủ Tướng, không vị nào dám nhận trách nhiệm vì sợ đụng chạm đến tôn giáo".

Ngưng một lúc, ông tiếp với giọng thật nhỏ:

"Ðã không đặt vấn đề thì không nói làm chi, mà khi đã thành vần đề thì phải thực hiện đến nơi đến chốn vì là vấn đề quốc gia mà, chớ dở dang như vậy chỉ làm mất uy tín của người lãnh đạo thôi".

Khi nêu câu hỏi với Trung Tướng Khuyên là tôi muốn nghe ông giải thích thêm, chớ thật ra thì trong một chừng mực nhất định, tôi hiểu được câu ông nói. Chuyện như thế này: Nhân lễ Giáng Sinh, tối 24 tháng 12 năm 1974, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên tổ chức bữa ăn thật đơn giản ở phòng trên lầu của câu lạc bộ/Bộ Tổng Tham Mưu, với các thực khách sau đây:

- Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên và phu nhân -

- Thiếu Tướng Smith, Trưởng Cơ Quan Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thực chất thì cơ quan này thay thế Bộ Tư Lệnh Viện trợ Quân Sự Hoa Kỳ tại Việt Nam (MACV) trong một quyền hạn thu hẹp -

- Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y -

- Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, Cục Trưởng Cục Công Binh -

- Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận, và phu nhân -

- Ðại Tá Pelosky, Phụ Tá của Thiếu Tướng Smith về Tiếp Vận -

- Tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận -

- Và Trung Tá Nguyễn Ðình Bá, chánh văn phòng của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên -

Thiếu Tướng Smith tiết lộ rằng:

"Bộ Quốc Phòng (Pentagon) Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300.000.000 (300 triệu) mỹ kim để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40.000 sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ".

Những lời nói ngắn ngủi này của một vị Tướng tuy không có hào quang của một nhân vật quyền lực như Thống Tướng William C. Westmoreland trước đây, nhưng là nhân vật tiêu biểu cho tiếng nói của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam chúng ta lúc ấy. Và lời nói này, tôi nghĩ, không có cách hiểu nào khác, ngoài cách hiểu là cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của chúng ta sắp kết thúc, và kết thúc với ý nghĩa thua trận! Vì nếu không thua trận thì làm gì có kế hoạch di tản sĩ quan và gia đình sang Hoa Kỳ!

Ðột ngột quá chăng? Có thể là với Hoa Kỳ, hay nói chung là với thế giới dân chủ tự do lẫn thế giới cộng sản độc tài, thì không có gì đột ngột cả vì họ là người ngoài cuộc. Có tốt lắm thì họ cũng chỉ nói lời thương hại, hoặc lời "phân ưu" trong một bài diễn văn nào đó, cho cái dân tộc bất hạnh này mà thỉnh thoảng họ nói Việt Nam Cộng Hòa là tiền đồn trắc nghiệm chiến tranh ý thức hệ, hoặc chúng ta là tiền đồn chống cộng sản cho họ thôi!

Nhưng với tôi quả là đột ngột, dù tôi có nghe những tin loan tãi đáng buồn trên làn sóng đài phát thanh BBC qua chương trình Việt ngữ! Rất có thể là tôi quá chủ quan khi tin rằng, chiến tranh đang trong giai đoạn khốc liệt nhưng phần đất tự do này không thể vào tay chế độ cộng sản độc tài được. Tại sao tôi chủ quan như vậy? Ðơn giản chỉ vì tôi tin rằng cuộc chiến đấu của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta là cuộc chiến đấu có chính nghĩa, mà chính nghĩa thì không thể thua được! Lúc bấy giờ, rõ ràng là tôi không thực tế khi tôi là một trong số rất ít cử tọa ngồi nghe "diễn giả Smith" truyền đạt một câu ngắn ngủi trong bữa ăn đêm Giáng Sinh năm 1974, nó chẳng có ý nghĩa gì về tôn giáo, nhưng rất có ý nghĩa về cuộc chiến tranh mà chúng ta buộc phải lâm trận!

Tôi hỏi:

"Chẳng lẽ đất nước mình đến hồi mạt vận sao! Có lúc nào Trung Tướng nghĩ như vậy không?

"Không đâu anh. Thật ra có lúc tôi cũng nghĩ như anh, nhưng cuối cùng tôi bác bỏ ý nghĩ đó, vì dù sao thì mình cũng có một quân đội chống cộng sản triệt để mà anh".

Vì ông nghĩ như vậy, nên khi thấy một việc nhỏ tuy rất tế nhị mà Thủ Tướng với Tổng Thống là hai vị lãnh đạo cao nhất nước với đầy quyền lực trong tay, nhưng không vị nào dám nhận trách nhiệm, nên Trung Tướng Khuyên mới thốt lên câu nói như một lời than bất lực của chính ông, và hàm ý cho số phận một quốc gia: Việt Nam Cộng Hòa!

Cũng trong bữa ăn trưa Mồng Hai Tết này, Trung Tướng Khuyên nhắc tôi ráng điều động và đôn đốc Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận (đồn trú tại Qui Nhơn), vận chuyển hàng tiếp liệu lên Plei Ku chuẩn bị chống trả cuộc tấn công của quân cộng sản thường khi là vào mùa hè.

Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đang thực hiện kế hoạch vận chuyển các loại hàng tiếp liệu loại 1, loại 3, và loại 5, từ Qui Nhơn lên dự trữ ở Plei Ku và Kon Tum. Các loại hàng tiếp liệu trong quân đội do ngành Tiếp Vận quản trị, chia làm 5 loại:

- Loại 1, là lương thực thực phẩm cho người và thú vật (quân khuyển = chó trận)

- Loại 2, là quân dụng trang bị cho tất cả các đơn vị quân chủng, binh chủng, binh sở, và các cơ quan phòng sở tham mưu, như: quân xa, vũ khí bắn thẳng, vũ khí bắn vòng cầu, xe tăng thiết giáp, xe đào đất ủi đất, chiến hạm, phi cơ, máy móc văn phòng, bàn ghế, ..v.. v.. có ghi trong bảng cấp số của từng đơn vị cũng như cơ quan phòng sở.

- Loại 3, là các loại nhiên liệu và các loại dầu mỡ bôi trơn.

- Loại 4, là những gì thuộc về vật liệu xây dựng và vật liệu phòng thủ.

- Và loại 5, là các loại bom đạn và chất nổ.

Số lượng dự trữ dự trù cho 20.000 quân trú phòng Plei Ku và Kon Tum chiến đấu trong 30 ngày không cần tiếp tế. Ðó là dự trù cho một tình hình tệ hại là không tái tiếp tế được, chớ thật ra trong kế hoạch của Tổng Cục Tiếp Vận có dự liệu khi chiến trận xảy ra thì từ ngày thứ 3, mà trong tham mưu quân sự gọi là ngày N + 2, bắt đầu tái tiếp tế bằng không vận để bổ sung mực độ dự trữ cho lực lượng phòng thủ.

Khi mất Phước Long, Trung Tướng Khuyên ước tính thời gian quân cộng sản mở cuộc tấn công vào Plei Ku và Kon Tum, có thể sớm hơn ước tính của Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu. Vì vậy mà ông cho tăng cường thêm quân xa ra Qui Nhơn để Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận có thêm khả năng vận chuyển. Hằng ngày, từng đoàn quân xa hằng trăm chiếc hạng nhẹ và hạng trung, lăn bánh trên quốc lộ 19 nối liền Qui Nhơn với Plei Ku - Kon Tum, và ngược lại.

Những ngày sau đó, tôi thường thảo luận với Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên trong những bữa ăn trưa tại câu lạc bộ, và câu chuyện chỉ xoay quanh nguồn tin từ Thiếu Tướng Smith, hòa trong những tin chiến sự ngày càng nghiêm trọng.

Ban Mê Thuột là thủ phủ Cao Nguyên Miền Trung. Từ đây, theo quốc lộ 14 về hướng Bắc khoảng 170 cây số sẽ đến Plei Ku, một thị trấn đất đỏ ba-dan, và tiếp tục hành trình thêm khoảng 40 cây số nữa sẽ đến Kon Tum, một thị trấn toàn cát trắng. Cũng từ Ban Mê Thuột, theo quốc lộ 14 xuôi hướng Tây Nam, sẽ đến thị trấn Chơn Thành thuộc tỉnh Bình Long rồi theo quốc lộ 13 về đến Sài Gòn. Nếu từ Ban Mê Thuột, theo quốc lộ 21 về hướng Ðông vượt đèo M'Drak sẽ xuống quốc lộ 1, rẽ phải sẽ đến Nha Trang và vào Sài Gòn, còn rẽ trái sẽ ra Tuy Hòa, Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Ðà Nẳng, rồi Huế, Quảng trị. Ngay trong thành phố Ban Mê Thuột và phi trường Phụng Dực, có Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, các đơn vị yểm trợ, và Trung Ðoàn 53 Bộ Binh đồn trú. Phần còn lại của Sư Ðoàn 23 đang bảo vệ Kon Tum và Plei Ku. Ban Mê Thuột trong phạm trách nhiệm yểm trợ của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, và Bộ Chỉ Huy này đồn trú tại bán đảo Cam Ranh, một bán đảo nổi tiếng trên thế giới từ đầu thế kỷ 20 khi Hạm Ðội của Nga chạy trốn sự truy lùng của Hạm Ðội Nhật Bản.

Trưa ngày 9 tháng 3 năm 1975, Ðại Úy Chỉ Huy Trưởng Kho Ðạn ở ngoại ô Ban Mê Thuột điện thoại tôi:

"Thưa Ðại Tá, theo lệnh khẩn cấp của Phòng 4/Quân Ðoàn II (đồn trú ở Plei Ku), tôi phải cấp phát giải tỏa toàn bộ số đạn dự trữ trong kho vì tình hình rất nghiêm trọng, và có thể sẽ bị quân cộng sản tấn công trong đêm nay. Chúng tôi sẽ cấp phát tối đa cho các đơn vị đồn trú trong và ngoài thị xã theo khả năng mà họ tiếp nhận được. Xin trình Ðại Tá rõ".

"Anh em cố gắng công tác khẩn cấp này và mong anh em hoàn thành nhiệm vụ".

Sở dĩ Quân Ðoàn II ra lệnh trực tiếp là vì các kho dự trữ của ngành Tiếp Vận tại các địa phương chịu sự chỉ huy của hai hệ thống: Dưới quyền của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận về hành chánh và chuyên môn của ngành, trong khi Quân Ðoàn chỉ huy về mặt yểm trợ tác chiến.

Trình Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận xong, tôi liên lạc sang Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu được biết, theo nguồn tin khả tín thì lực lượng cộng sản xuất hiện chung quanh Ban Mê Thuột vào khoảng 2 Sư Ðoàn, với một đơn vị Pháo Binh có thể lên đến cấp Sư Ðoàn, và chúng có khả năng tấn công trong thời gian sớm nhất, nghĩa là có thể ngay trong đêm nay. Ðại Tá Loan và tôi, lo ngại về các cuộc tấn công của quân cộng sản vào các tỉnh Cao Nguyên trong khi chúng tôi chưa hoàn tất mức độ dự trữ các loại hàng tiếp liệu cho Plei Ku và Kon Tum như lệnh của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên ban hành. Trong lúc này, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, được phép của Tổng Thống đã đưa thân phụ của ông sang Tokyo trị ung thư cổ, và Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó, xử lý thường vụ chức vụ Tổng Cục Trưởng.

Sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975, khi vào đến văn phòng thì điện thoai reo liên hồi:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Lễ đây anh. Tôi mới nghe nói là Ban Mê Thuột bị mất liên lạc hữu tuyến lẫn vô tuyến từ giữa đêm qua. Ðâu anh xem lại có phải vậy không?

Ðó là Ðại Tá Trần Văn Lễ, Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận, đồn trú trong căn cứ Long Bình, Biên Hòa.

Tôi gọi khắp các cơ quan phòng sở trong Bộ Tổng Tham Mưu, không cơ quan nào liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Ban Mê Thuột cả. Chợt nhớ ra bên Sở Liên Lạc có căn cứ của đơn vị Lôi Hổ trên đó để hoạt động dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt, có thể còn giữ liên lạc được. Và đúng như vậy, Trung Tá Trần Ðắc Trân, điện thoại gọi tôi sang để nói chuyện trực tiếp với nhân viên của Sở Liên Lạc trên đó. Trình Ðại Tá Loan xong là tôi chạy sang anh Trân ngay. Tôi hỏi:

"Chào anh. Anh đang ở đâu đó?

"Em đang ẩn trú ở đầu phi trường nhỏ trong thành phố Ban Mê Thuột. Chung quanh em tiếng súng nổ dữ lắm và xe tăng của tụi nó (quân cộng sản) đã vào đến cuối sân bay rồi Ðại Tá ơi!

"Theo anh thì tụi nó đã vào trung tâm thành phố chưa?

"Xe tăng của nó tấn công kho đạn đêm qua, và tụi nó tiến vào thành phố rồi. Khu vực Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn (23 Bộ Binh) và bên Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu đều có tiếng súng dữ lắm. Em chưa rõ lắm, nhưng em nghĩ là bị tụi nó chiếm hết rồi. Bây giờ em phải rút ra ngoại ô. Chào Ðại Tá".

"Cám ơn anh, và cầu nguyện cho anh cùng các bạn vượt thoát bình an. Chào anh và các bạn".

Trở về Tổng Cục Tiếp Vận trình lại Ðại Tá Loan. Ðại Tá Loan gọi ra Cam Ranh nói chuyện với Ðại Tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận, nhưng không thu thập được tin tức gì khả quan cả. Bên hệ thống Viba của Hành Chánh và Bưu Ðiện, cũng không liên lạc được với Ban Mê Thuột.

Tôi gọi lên Quân Ðoàn II nói chuyện với Ðại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn, được biết Quân Ðoàn II đã cho phi cơ không thám trên không phận ngoại ô Ban Mê Thuột chớ không vào sâu bên trong được vì hỏa lực phòng không của quân cộng sản mạnh lắm, nên những tin tức ghi nhận cũng không giúp được gì cho Quân Ðoàn khả dĩ có đủ dữ kiện nhận định tình hình một cách rõ nét, để có phản ứng thích nghi. Trong khi đó, Quân Ðoàn II sử dụng phi cơ chiến đấu của Sư Ðoàn 2 Không Quân và Sư Ðoàn 6 Không Quân, oanh kích dữ dội vào quân cộng sản ven ngoại ô Ban Mê Thuột, nhưng cũng không vào không phận trung tâm thành phố để oanh kích các mục tiêu trong thành phố, do hỏa lực phòng không của địch như những lưới lửa đan chéo cả không phận Ban Mê Thuột.

Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, có 2 Trung Ðoàn hoạt động trên Kon Tum, và 1 Trung Ðoàn giữ phi trường Phụng Dực, nên sự chống trả yếu ớt của lực lượng phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ gồm những đơn vị yểm trợ của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, và các đơn vị Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân của Tiểu Khu, trong khi lực lượng tăng viện của Quân Ðoàn trực thăng vận xuống giải tỏa, nhưng bị hỏa lực phòng không của cộng sản ngăn chận từ bên ngoài thành phố, không chống nỗi quân cộng sản quá đông tràn ngập chiến trường! Những trận đánh riêng lẻ -vì không có vị chỉ huy thống nhất- chẳng thể nào đảo ngược được tình thế, để rồi đến ngày 13 tháng 3 năm 1975, Ban Mê Thuột và toàn tỉnh Darlac vào tay quân cộng sản!

Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, hai tỉnh đã vào tay quân cộng sản!

****

3. Rút bỏ Cao Nguyên ngày 17 tháng 3 năm 1975.

Lúc bấy giờ các vị lãnh đạo quốc gia, lãnh đạo quân đội, và vài cấp chỉ huy liên quan đến những phản ứng sau đó, là:

- Tổng Thống: Nguyễn Văn Thiệu (Trung Tướng).

- Thủ Tướng: Trần Thiện Khiêm (Ðại Tướng).

- Tổng Tham Mưu Trưởng: Ðại Tướng Cao Văn Viên.

- Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận: Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên. Ông được phép đưa thân phụ sang Tokyo chữa bệnh ung thư, nên ông vắng mặt trong những ngày đầu cuộc rút quân.

- Tư Lệnh Quân Ðoàn II/Quân Khu II: Thiếu Tướng Phạm Văn Phú.

- Tư Lệnh hành quân triệt thoái: Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất.

- Xử lý thường vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận: Ðại Tá Phạm Kỳ Loan.

- Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận (Qui Nhơn): Ðại Tá Bửu Khương.

- Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II, Ðại Tá Lê Khắc Lý.

- Tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.

Ngày 14/3/1975, một buổi họp quan trọng tại Cam Ranh dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống, nhưng người bạn tôi ở Phủ Thủ Tướng không rõ nội dung mà chỉ áng chừng là vạch kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột. Rất tiếc là Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên chưa về, nên tôi với Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó, không biết gì hơn.

Ngày 15/3/1975, ngay đầu giờ buổi làm chiều, điện thoại reo:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Có ai ngồi gần anh không?

"Dạ không, thưa Ðại Tướng".

Ðó là Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông tiếp:

"Tuyệt đối là anh không cho ai biết lệnh này ngoài những sĩ quan trách nhiệm thi hành".

"Vâng, tôi rõ thưa Ðại Tướng".

"Tổng Cục Tiếp Vận có bao nhiêu phi cơ vận tải C.130 khả dụng?

"Thông thường thì sử dụng 2 hoặc 3 chiếc, nhưng trường hợp tối cần thiết có thể sử dụng được 8 hoặc 9 chiếc. Nhưng tôi sẽ hỏi bên Không Quân và sẽ trình lại Ðại Tướng con số chính xác hơn, thưa Ðại Tướng".

"Thôi được. Ðiều cần thiết là anh phải sử dụng tối đa vì đây là nhu cầu khẩn cấp. Anh liên lạc ngay với Quân Ðoàn II, xem họ cần bao nhiêu chiếc thì cho họ bấy nhiêu, còn sử dụng vào công tác gì thì tùy họ. Nhiệm vụ kể từ ngày mai. Anh rõ chưa?

"Thưa Ðại Tướng, tôi rõ".

"Phần anh, anh chuyển các quân dụng đắt tiền ra khỏi Pleiku và muốn đem về đâu thì tùy anh".

"Vâng. Tôi thi hành, thưa Ðại Tướng".

Tôi thuật lại cho Ðại Tá Loan nghe, và cả Ðại Tá Loan lẫn tôi, đều không ước tính được là chuyện gì sắp xảy ra mà chúng tôi không được phép biết. Nếu chuẩn bị đánh nhau với quân cộng sản thì tại sao không để quân dụng lại thay thế số tổn thất? Nếu không đánh nhau,..... mà không đánh nhau là thế nào? Thật không hiểu nỗi!

Tổ chức một quân đội, phải có hai yếu tố chính, là "con người và quân dụng". Quân dụng do ngành Tiếp Vận quản trị. Những gì trang bị cho mỗi quân nhân từ đỉnh đầu xuống đến gót chân, từ dinh dưỡng đến điều trị khi bị thương hay đau yếu, vấn đề mai táng và nghĩa trang, rồi doanh trại, phương tiện di chuyển, rồi súng đạn, xe tăng thiết giáp, đại bác hỏa tiễn,...... đều là nhiệm vụ của ngành Tiếp Vận. Ấy vậy mà Tiếp Vận lại không được quyền biết đến kế hoạch hành quân, ít nhất là đối với lệnh vừa rồi của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa !

Trong quân đội, chỉ có Trung Tướng Ðỗ Cao Trí và Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, là hai vị Tư Lệnh đại đơn vị đặt Tiếp vận vào đúng vị trí của ngành này mà thôi. Ðiển hình là Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, Tư Lệnh Quân Ðoàn III, đầu năm 1970 khi soạn kế hoạch hành quân sang lãnh thổ Cambodia tấn công các kho dự trữ tiếp vận của quân cộng sản sát biên giới Việt Nam, sau khi quyết định ngày N, Trung Tướng Trí nêu câu hỏi với Trung Tá Trương Bảy (sau này là Chuẩn Tướng Cảnh Sát) Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận:

"Theo kế hoạch hành quân đã trình bày, Tiếp Vận có chuẩn bị kịp không? Nếu không, Quân Ðoàn sẽ lùi ngày lại".

Khi vị Tư Lệnh hỏi như vậy, cho dù chuẩn bị gấp rút cách mấy cũng phải thực hiện cho xong chớ đâu thể xin lùi ngày được. Ðằng nào cũng phải vất vả, nhưng vất vả mà được biết đến vẫn vui lòng hơn.

Ðầu tháng 12 năm 1974, trước khi lên Plei Ku nhận chức Tư Lệnh Quân Ðoàn II, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú điện thoại tôi:

"Anh Hoa à, tôi sắp sửa lên Quân Ðoàn II, anh cho tôi mượn Trung Úy Thiêm một tuần để nó lên đó chọn hướng đặt bàn giấy giùm tôi nghe anh".

"Vâng. Tôi sẽ nói với anh Thiêm và Thiếu Tướng cứ liên lạc trực tiếp với anh ấy về những chi tiết cần thiết".

Lúc bấy giờ tôi là Cục Trưởng Cục Mãi Dịch (đồn trú ở Sài Gòn). Trong đơn vị tôi có Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm được nhiều người cho là giỏi tướng số, tử vi, và chữ ký. Và sau 5 ngày công tác riêng cho Thiếu Tướng Phú ở Plei Ku trở về, Trung úy Thiêm nói với tôi:

"Thưa Ðại Tá, tôi thấy vận số của Thiếu Tướng Phú hết rồi, nhiều lắm cũng chỉ tính bằng tháng chớ không tính bằng năm đâu".

"Anh có nói gì với Thiếu Tướng Phú không?

"Dạ không. Vì sợ Thiếu Tướng mất tinh thần. Với lại có nói ra cũng không có cách gì giải được, thà không nói vẫn hơn".

"Nghĩ như anh cũng phải".

(Năm 2004, khi sang Sydney, Australia, tôi có gặp cựu Trung Úy Nguyễn Xuân Thiêm, đang là Giám Ðốc một Công Ty của Hoa Kỳ tại Sydney). Tôi với anh thường liên lạc thăm hỏi nhau qua e-mail)

Tôi nhớ, có một hôm Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên nói với tôi rằng, "Thiếu Tướng Phú tuổi con rắn, nên Tổng Thống cử lên Quân Ðoàn II vì rắn thích hợp với núi rừng". Thật sự có thích hợp hay không, tôi nghĩ, quí vị đã rõ.

Trở lại lệnh của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Tôi gọi lên Plei Ku liên lạc với Ðại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn II:

"Tôi Hoa đây anh Lý. Tôi được lệnh cấp C.130 cho anh nhưng không được biết là Quân Ðoàn sử dụng vào công tác gì. Vậy anh có thể cho tôi biết để tôi tiện sắp xếp phi cơ theo đúng nhu cầu của anh không? Vì chắc anh cũng biết là số phi cơ khả dụng của chúng tôi giới hạn lắm".

"Anh cứ đưa lên đây cho tôi, còn sử dụng vào công tác gì thì không thể nói được đâu". Lời của Ðại Tá Lý.

"Ðành vậy. Nhưng anh cần bao nhiêu chiếc? Cần vào lúc nào? Và chuyển vận từ đâu tới đâu?

"Anh có bao nhiêu chiếc thì đưa lên tôi bấy nhiêu kể từ sáng mai (16/3/1975). Không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sàigòn".

"Sao lại là có thể mà không rõ nơi đến?

"Tôi không thể cho anh biết đâu".

"Vậy thì như thế này. Sáng mai tôi cho lên anh 2 chiếc, trong khi 2 chiếc kế tiếp túc trực tại phi trường Tân Sơn Nhất và anh cần là cất cánh ngay, vì một lúc anh đâu sử dụng được 4 chiếc. Ðược không?

"Ðược. 8 giờ sáng mai anh cho có mặt tại phi trường Cù Hanh nghe".

"Xong. Mình thỏa thuận như vậy".

Tôi trình Ðại Tá Loan là vẫn không biết được gì thêm ở Quân Ðoàn II. Tôi cũng nêu thắc mắc với Ðại Tá Loan, là tại sao Ðại Tá Lý nói "không trình có thể là từ Plei Ku đến Nha Trang hoặc Sài Gòn, mà không xác định điểm đến một cách rờ ràng". Ðiều này hẳn có gì bí ẩn bên trong.

Ðại Tá Phạm Kỳ Loan điện thoại hỏi Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, Chuẩn Tướng Thọ cũng không tiết lộ điều gì. Bên Không Quân xác nhận là có thể sử dụng tối đa 9 chiếc C.130, nhưng sau khi sử dụng như vậy thì các nhu cầu tiếp theo không thể thực hiện được ít nhất là một tuần vì phải tu bổ lại. Bộ Chỉ Huy Không Chiến, cơ quan điều động phi cơ, đồng ý về thỏa thuận giữa tôi với Ðại Tá Lê Khắc Lý, nghĩa là 2 chiếc C130 cất cánh lên Pleiku thì 2 chiếc kế tiếp túc trực tại căn cứ Tân Sơn Nhất.

Sáng ngày 16/3/1975, điện thoại reo:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Ðại Tá. Trưởng phi cơ C.130 đang trên không phận phi trường Cù Hanh (Plei Ku), cho biết là không thể nào đáp xuống phi trường được, vì người ta đông không thể tưởng tượng nỗi. Chẳng biết là chuyện gì xảy ra vì không liên lạc được dưới đất. Và hai chiếc C.130 đang chờ lệnh Ðại Tá".

"Anh chuyển đến Trưởng phi cơ là hãy chờ tôi vài phút để tôi liên lạc với Quân Ðoàn II xem tình hình ra sao".

Gọi Quân Ðoàn II, và tôi nói chuyện với Ðại Tá Lý:

"Phi cơ tôi đang trên không phận của anh đó, nhưng không thể đáp được. Nếu anh muốn họ đáp xuống thì anh phải giải tỏa sân bay giùm đi. Nếu chậm quá thì họ sẽ về lại Sài Gòn đó. Mà chuyện gì xảy ra vậy Anh?

"Tại vì người ta tranh nhau chờ lên phi cơ mới có chuyện tràn ngập đường băng như vậy. Ðể tôi cho Quân Cảnh giải tỏa, anh bảo phi cơ đáp xuống cho tôi đi".

"Thì phi hành đoàn đang chờ đường băng trống là đáp xuống, trừ khi anh không giải tỏa nỗi. Anh nhớ ưu tiên cho anh Liên Ðoàn Trưởng Yểm Trợ Tiếp Vận của tôi ở Plei Ku, chở một số kiện hàng quan trọng xuống Qui Nhơn hoặc Nha Trang à nghe".

Tôi lại nhờ Bộ Chỉ Huy Không Chiến chuyển đến phi hành đoàn C130. Và sau đó, phi cơ đáp xuống được tuy rất khó khăn vì đông nghẹt người là người hai bên đường băng. Ðể rồi một hình ảnh hỗn loạn chưa từng thấy -theo lời thuật của Trưởng phi cơ- là cả một rừng người chen lấn xô đẩy, thậm chí đạp lên nhau để tranh lên phi cơ, và hết sức khó khăn đến độ nguy hiểm, phi hành đoàn mới cho phi cơ cất cánh được.

Hóa ra là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II chuyển xuống Nha Trang. Tôi trình ngay cho Ðại Tá Loan vì ước tính là sắp đánh nhau với quân cộng sản rồi. Ước tính này không phải là vô căn cứ, bởi vì cộng sản đã chiếm Ban Mê Thuột, thủ phủ Cao Nguyên, bây giờ chúng tấn công vào Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II (ở Plei Ku) cũng là điều xảy ra trong quân sự thôi. Nhưng chúng tôi nhầm ...

Vì sáng ngày 17/3/1975, trong lúc 2 chiếc C130 trên không phận Plei Ku thì điện thoại nhà tôi reo, hôm nay là chủ nhật nên tôi đi làm muộn:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Bộ Chỉ Huy Không Chiến đây Ðại Tá. Trưởng phi cơ cho biết là toàn thị xã Plei Ku hôm nay không có bóng một sinh vật nào cả, và bây giờ phi hành đoàn xin phép về lại căn cứ".

"Anh hỏi lại phi hành đoàn giùm tôi, nếu sự thực hoàn toàn đúng như vậy thì tôi đồng ý phi cơ quay về. Xin nhớ, đây là trách nhiệm rất quan trọng nghe anh".

Tôi điện thoại qua nhà Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, và ngay sau đó Ðại Tá Loan liên lạc Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ (Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu) nhưng Chuẩn Tướng Thọ vẫn không nhỏ được một giọt thông tin nào về tình hình đó cả. Tôi và Ðại Tá Loan tức lắm, nhưng chúng tôi không có cách nào khác vì Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên đi Tokyo chưa về. Có vẻ như chúng tôi bị coi như là những sĩ quan không đáng tin cậy thì phải, ít nhất cũng là không được tin cậy trong cuộc hành quân này, dù rằng Ðại Tá Loan đang là cấp chỉ huy cao nhất của ngành Tiếp Vận với gần 100.000 quân nhân công chức chuyên ngành, và quản trị một khối lượng dụng cụ chiến tranh trên dưới 7 tỉ mỹ kim!

Tất cả các hệ thống liên lạc truyền tin bằng vô tuyến lẫn hữu tuyến của quân đội, cũng như hệ thống liên lạc bên hành chánh, đều không liên lạc được với bất cứ cơ quan đơn vị nào ở Plei Ku cả. Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận ở Qui nhơn, cũng không có tin tức gì khá hơn trong khi đoàn quân xa hơn 100 chiếc của Liên Ðoàn 2 Vận Tải (Qui Nhơn) vẫn còn kẹt trên Plei Ku vì quốc lộ 19 nối liền Qui Nhơn - Plei Ku bị quân cộng sản chiếm giữ nhiều chặng. Một tình hình không thể hiểu nỗi ít nhất là đối với ngành Tiếp Vận chúng tôi. Không biết tại sao lúc ấy chúng tôi không nghĩ đến giả thuyết nào khác, chẳng hạn như Quân Ðoàn II vờ rút quân ra ngoài để thành phố bỏ ngỏ cho quân cộng sản tiến vào, rồi bất thình lình quật lại tấn công chúng ngay trong thành phố. Còn về giả thuyết rút bỏ Cao Nguyên thì nhất thiết không thể có trong tư tưởng của bất cứ sĩ quan nào chớ chẳng riêng gì chúng tôi. Cho dù một giả thuyết như vậy thôi cũng không có trong hàng sĩ quan cấp dưới, nhưng nó lại là một kế hoạch thật sự của vị lãnh đạo đất nước 20.000.000 dân, trong đó có một quân đội hơn 1.000.000 người!

Cả hai chúng tôi -Ðại Tá Loan và tôi- không thông báo tình hình tệ hại đó cho bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận biết, trong khi chúng tôi hết sức lo lắng cho tất cả quân nhân nói chung và số phận của anh em trong ngành Tiếp Vận ở Plei Ku và Kon Tum nói riêng, vì chúng tôi không có bất cứ một thông tin nào về tình hình đó, kể cả nguồn cung cấp chính xác nhất là vị Tướng Trưởng Phòng 3 ngang hàng với cơ quan chúng tôi, và vị Tổng Tham Mưu Trưởng cấp trên của chúng tôi cũng vậy.

Chiều 18/3/1975, điện thoại reo:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Khương đây anh Hoa". Ðó là Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, đồn trú tại Qui Nhơn.

"Anh có tin gì về anh em mình trên Plei Ku chưa?

"Liên Ðoàn 2 Vận Tải mới liên lạc vô tuyến với đoàn xe bị kẹt trên Plei Ku rồi anh. Ðoàn xe này đang cùng với hằng ngàn quân xa và dân xa rút bỏ Plei Ku và Kon Tum, đang di chuyển trên đường liên tỉnh số 7 để xuống Tuy Hòa. Toàn bộ lực lượng gồm nhiều đơn vị chiến đấu, cùng với Pháo Binh, Thiết Giáp, bị sa lầy sau khi vượt qua Cheo Reo. Phần thì đường hư cầu sập làm nhiều chiến xa M.48 và pháo binh 175 ly cơ động xuống hố, gây tổn thất rất nặng cho cả quân đội lẫn dân sự, nhưng chưa thấy phản ứng của Quân Ðoàn. Anh em mất tinh thần lắm anh ơi!

"Ðược rồi. Bảo vệ đoàn quân và khi nào xuống đến Tuy Hòa, chắc chắn là trách nhiệm của Quân Ðoàn. Bây giờ anh nên chuẩn bị tổ chức nhiều toán do một sĩ quan của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận chỉ huy và đặt tại Tuy Hòa, mỗi toán phụ trách một công tác, để khi đoàn quân xuống đến Tuy Hòa thì cấp phát ngay cho bất cứ đơn vị nào mà không cần theo thủ tục tiếp liệu thông thường, chỉ cần viết tay và ký nhận là đủ. Hàng mang theo cấp phát là: Lương khô đủ ăn 3 ngày, 1 bộ quần áo trận, đổ đầy xăng dầu cho xe chạy bánh và xe chạy xích. Toán Quân Y thì cấp thuốc cho các bệnh thông thường và cấp cứu đầu tiên. Anh thấy được không?

"Ðược anh. Ðể tôi lo".

"Anh nói Liên Ðoàn 2 Vận Tải ráng giữ liên lạc và khi có bất cứ tin tức gì về đoàn quân này thì anh cho tôi biết ngay nghe anh Khương".

Sở dĩ có đoàn xe hằng trăm chiếc bị kẹt ở Plei Ku, là vì sau khi Phước Long mất, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên ra lệnh cho tôi thực hiện kế hoạch chuyển tiếp liệu loại 1 (lương thực thực phẩm), loại 3 (nhiên liệu), loại 5 (đạn dược chất nổ), lên Plei Ku dự trữ cho 20.000 quân phòng thủ trong 30 ngày mới bổ sung. Do vậy mà hằng ngày đoàn xe cả trăm chiếc đi đi về về giữa Qui Nhơn với Plei Ku để vận chuyển tiếp liệu từ Qui Nhơn lên Plei Ku.

Tôi sang văn phòng Ðại Tá Loan, và sau khi trình cho anh xong, tôi điện thoại lên văn phòng Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng:

"Tôi Hoa đây anh Nguyện (Ðại Tá Nguyễn Kỳ Nguyện, chánh văn phòng), anh cho tôi trình vấn đề gấp với Ðại Tướng".

"Anh chờ tôi một chút".

"Tôi đây".

"Thưa Ðại Tướng, tôi Hoa đây".

"Có việc gì vậy?

"Thưa Ðại Tướng, cách đây vài phút, Ðại Tá Bửu Khương, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 2 Tiếp Vận, cho tôi biết về đoàn quân rút bỏ Plei Ku và Kon Tum đang bị sa lầy ... (tôi thuật lại chi tiết mà tôi với Ðại Tá Khương đã nói với nhau).

"Anh có chắc là đúng như vậy không?

"Từ chỗ đoàn xe bị kẹt đến Ðại Tá Khương như thế nào thì tôi không dám chắc, nhưng từ Ðại Tá Khương đến tôi là hoàn toàn chính xác, thưa Ðại Tướng".

"Thôi được. Anh đừng nói với ai nữa nghe".

"Vâng".

Ðại Tá Loan và tôi đều ngẩn ngơ về câu sau cùng của Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng. Chúng tôi ngẩn ngơ vì không hiểu tại sao tình hình đến như vậy mà vẫn muốn giấu kín chúng tôi nữa! Vài phút sau đó, Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, điện thoại tôi:

"Cưng ơi (Chuẩn Tướng Thọ thường gọi tôi như vậy), cưng có liên lạc với đoàn xe trên đường số 7 hả?

"Tôi không trực tiếp liên lạc nhưng Liên Ðoàn 2 Vận Tải của chúng tôi đã liên lạc được với đoàn xe chở tiếp liệu lên Plei Ku và bị kẹt trên đó, nay thì cùng trong đoàn quân sa lầy mà vừa rồi tôi đã trình Ðại Tướng".

"Có. Ðại Tướng mới gọi anh đây. Cưng cứ biết vậy thôi nghe".

Cũng lại giấu nhau!

Tôi có biết chút ít về đường liên tỉnh số 7 này, từ đoạn Plei Ku vào đến Cheo Reo và xuống đến Cung Sơn. Vì cuối năm 1955 -lúc bấy giờ tôi là Thiếu Úy, Ðại Ðội Trưởng thuộc Tiểu Ðoàn Khinh Quân 510- toàn bộ Tiểu Ðoàn chúng tôi từ Vĩnh Long, cùng với Tiểu Ðoàn Khinh Quân 507, và Tiểu Ðoàn Khinh Quân 527 từ Trà Vinh, di chuyển lên Cao Nguyên và đồn trú tại Cheo Reo, để thành lập Trung Ðoàn 35 Bộ Binh trong hệ thống tổ chức Sư Ðoàn Khinh Chiến 12. Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đồn trú tại Plei Ku. Các Tiểu Ðoàn được cấp phiên hiệu như sau: Tiểu Ðoàn 507 thành Tiểu Ðoàn 1/35, Tiểu Ðoàn 510 chúng tôi thành Tiểu Ðoàn 2/35, và Tiểu Ðoàn 527 thành Tiểu Ðoàn 3/35.

Vì các đơn vị yểm trợ tiếp liệu và hành chánh tài chánh đồn trú ở Plei Ku, nên chúng tôi thường xuyên đi lại giữa Cheo Reo với Plei Ku bằng đường liên tỉnh số 7 và một đoạn quốc lộ 14. Sở dĩ đoạn đường từ ngã ba quốc lộ 14 với liên tỉnh lộ 7 -tên địa phương là Mỹ Thạch- vào đến Cheo Reo còn sử dụng được, là vì trong chiến tranh giữa thực dân Pháp với cộng sản 1946-1954 (lúc đó Cộng sản núp dưới tên Việt Minh), Cheo Reo là cứ điểm quân sự của Pháp, nên đường này được tu bổ vì nó là "con đường huyết mạch" của cứ điểm. Còn đoạn từ Cheo Reo xuống Cung Sơn và Tuy Hòa, quân đội Pháp không sử dụng nên không tu bổ gì cả. Khi Trung Ðoàn chúng tôi đến Cheo Reo, xác những chiếc thiết giáp của Pháp còn ngổn ngang tại đó, còn chiếc cầu bắc ngang Sông Ba thì tồi tệ hơn bất cứ chiếc cầu tồi tệ nào. Thuở ấy "rất là hòa bình", nên chúng tôi thường đi săn trên đường từ Cheo Reo xuống đến Cung Sơn, chỉ cần thận trọng một chút thì xe jeep vẫn bò qua chiếc cầu tồi tệ ấy được. Trên đoạn đường này, chiếc xe jeep của chúng tôi chỉ gọi là "bò" chớ không thể gọi là chạy được vì mặt đường giữa vùng rừng già heo hút này hầu như không còn gì để gọi là con đường nữa.

Giữa năm 1969, lúc ấy tôi là Ðại Tá, tháp tùng Trung Tướng Nguyễn Văn Là, đến thăm các đơn vị tại Cheo Reo và các quận lân cận, con đường bên kia Sông Ba được tu bổ đôi chút. Và nếu đoạn đường tiếp nối xuống Cung Sơn để ra Tuy Hòa (tỉnh Phú Yên) không được tu bổ thường xuyên, mà Quân Ðoàn II quyết định sử dụng cho đoàn quân hơn 10.000 người cùng với trên dưới 2.000 quân xa, dân xa, và chiến xa hạng nặng triệt thoái, quả là tạo được bất ngờ đối với địch, nhưng phải nói là quá liều lĩnh! Bất ngờ, nhưng con đường có sử dụng được hay không, lại là vấn đề trước mặt của Quân Ðoàn II nói chung, và của bộ chỉ huy hành quân cuộc hành quân lui binh này nói riêng.

Chiều tối hôm sau thì Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên từ Tokyo (Nhật Bản) về đến. Sau khi nghe chúng tôi trình bày về tình hình từ ngày ông vắng mặt đến nay, ông nói sáng mai sẽ trình diện Tổng Thống với Ðại Tướng, chắc là sẽ có tin tức rõ ràng hơn.

Và đây là những tin tức đó. "... Sau khi mất Ban Mê Thuột, áp lực của quân cộng sản rất mạnh. Tổng Thống nhận định là không đủ khả năng bảo vệ toàn bộ Cao Nguyên trong khi Ban Mê Thuột cần giữ hơn là Plei ku với Kon Tum, vì vậy mà Tổng Thống trong buổi họp tại Cam Ranh, đã quyết định rút bỏ Plei Ku, Kon Tum, Phú Bổn, để đem lực lượng về phản công lấy lại Ban Mê Thuột. Tổng Thống giao cho Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II, nhiệm vụ thực hiện cuộc hành quân triệt thoái khỏi 3 tỉnh đó, nhưng phải giữ bí mật tối đa và bảo vệ toàn vẹn lực lượng. Thiếu Tướng Phú trình kế hoạch là rút theo đường liên tỉnh số 7, dù rằng con đường này không sử dụng từ lâu nhưng đạt được yếu tố bất ngờ đối với lực lượng cộng sản. Với đề nghị của Thiếu Tướng Phú, Tổng Thống thăng cấp Chuẩn Tướng cho Ðại Tá Phạm Duy Tất. Lúc đầu, Tổng Thống không đồng ý, nhưng Thiếu Tướng Phú cố lặp lại đề nghị, và sau cùng thì Tổng Thống chấp thuận. Lúc bấy giờ, Ðại Tá Phạm Duy Tất đang là Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Ðoàn II. Khi mang cấp bậc Chuẩn Tướng, ông được Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn giao phó trách nhiệm Tư Lệnh cuộc hành quân lui binh.

Hết giờ buổi chiều khá lâu, bộ tham mưu Tổng Cục Tiếp Vận chỉ còn nhân viên trực hoạt động. Trung Tướng Khuyên gọi tôi lên văn phòng (ông ngồi ở văn phòng Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, trên tòa nhà chánh), và ông đưa tôi xem một xấp không ảnh (ảnh chụp từ trên phi cơ) đã được giải đoán đầy đủ. Toàn bộ xấp không ảnh cho thấy đoàn xe không phải theo một hình dài mà là một hình gần như tròn, vì khi phần đi đầu bị kẹt thì những chiếc sau cứ lấn qua bên trái hay bên phải với hy vọng tìm được lối đi, nhưng càng lấn vào rừng thì càng không lối thoát, và cứ như thế mà cả đoàn xe quá nhiều đó đã tạo nên dáng như vậy. Ghi chú bên cạnh những khoanh tròn bằng ngòi bút của chuyên viên giải đoán không ảnh, có gần 800 xe đã bị thiêu hủy. Nếu như giải đoán viên không ảnh chính xác hay ít ra cũng gần như vậy, thì chỉ mới 4 ngày dấn thân vào đường liên tỉnh số 7 mà số xe bị tổn thất trên dưới 1/3 trong tổng số xe các loại, quả là rất nặng. Trong số tổn thất đó có Tiểu Ðoàn Pháo Binh 175 ly cơ động và Trung Ðoàn Chiến Xa hạng nặng M48". Ðây là hai loại vũ khí mới được Hoa Kỳ viện trợ năm 1973 bằng cách các đơn vị pháo binh và chiến xa của họ chỉ rút người về nước và để toàn bộ chiến cụ đó lại cho quân đội chúng ta. Với chiến xa M48, nó là loại vũ khí đã cũ, thậm chí là quá cũ đối với Hoa Kỳ, nhưng với chúng ta nó là loại mới!

Những bài học chiến thuật trong trường Võ Bị cũng như trường Ðại Học Quân Sự (hậu thân của Viện Nghiên Cứu Quân Sự Ðông Dương của Pháp và là tiền thân của trường Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp) đều thừa nhận rằng, trong các cuộc hành quân thì hành quân rút lui (hay triệt thoái, hay lui binh) là nhiều hiểm nguy hơn các cuộc hành quân khác, vì đơn vị "đưa lưng" về phía địch. Khi tấn công thì trước mặt là địch và sau lưng là hậu tuyến, còn trong rút lui thì trước mặt lại là hậu tuyến mà sau lưng trở thành tiền tuyến. Nguy hiểm là vậy. Nguyên tắc căn bản của bài học "lui binh" là phải có một lực lượng hành quân giao tiếp để bảo đảm an toàn phía trước mặt (hậu tuyến), còn lực lượng lui binh thì tự bảo vệ phía sau lưng (tiền tuyến), ngoài ra phải được Không Quân quan sát và yểm trợ hỏa lực nữa.

Với cuộc hành quân giao tiếp chậm chạp từ Tuy Hòa lên, đoàn quân triệt thoái ngày càng tan tác trên đường lui binh vô cùng hỗn loạn vì bị quân cộng sản liên tục phục kích, tập kích. Khi về đến Tuy Hòa thì tổn thất đến nỗi không còn khả năng thực hiện kế hoạch phản công chiếm lại Ban Mê Thuột được nữa. Số dân thường bị chết dọc đường nhiều không kém số thương vong của quân đội. Chết vì súng đạn, chết vì xe cộ tranh giành lối đi mà gây tai nạn bừa bãi, chết vì tranh nhau miếng ăn nước uống, chết vì cướp giật, ..v.. v...

Rút bỏ 3 tỉnh Cao Nguyên là Plei Ku, Kon Tum, và Phú Bổn, những tưởng bảo toàn được lực lượng gồm một phần của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh, các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân, Pháo Binh, Thiết Giáp, Công Binh, Truyền Tin, và các ngành khác, để phản công chiếm lại thủ phủ Ban Mê Thuột, nhưng rồi toàn bộ Cao Nguyên miền Trung bỗng dưng rơi vào tay quân cộng sản một cách nhẹ nhàng. Tôi nói "bỗng dưng", vì rút bỏ Plei Ku từ đêm thứ bảy 16 rạng ngày chủ nhật 17 tháng 3 năm 1975, mà đến 3 giờ 15 phút chiều thứ tư 20/3/75 tín hiệu của Truyền Tin tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II mới ngưng hoạt động. Ðại Tá Cục Trưởng Cục Truyền Tin nói với tôi như vậy. Ðiều này có thể là lúc đó quân cộng sản mới đến và phá hủy máy móc hoặc tắt máy, cũng có thể là quân cộng sản chưa chiếm nhưng vì máy phát điện hết nhiên liệu nên cả hệ thống đều ngưng hoạt động. Cho dù ở vào trường hợp nào đi nữa, thì rõ ràng là quân cộng sản mà mình tưởng nó bao vây hay sắp sửa bao vây Plei Ku, nhưng thật ra chúng còn ở tận đâu đâu nên mãi 4 ngày sau -đó là thời gian sớm nhất- chúng mới vào chiếm Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn, trong khi những Sư Ðoàn của chúng ở càng xa Plei Ku về hướng Nam và Ðông Nam thì khoảng cách càng gần với đoàn quân triệt thoái hơn, do đó mà thiệt hại của đoàn quân nặng nề chưa từng thấy trong 20 năm chiến tranh! Một thất bại vô cùng đau đớn cho những người cầm súng, nhất là những người cầm súng dưới quyền chỉ huy của vị Tư Lệnh đã từng xông pha trận mạc!

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, khi còn là sĩ quan cấp Úy cấp Tá trong hàng ngũ quân đội Liên Hiệp Pháp lẫn trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, đã có tiếng là cấp chỉ huy can đảm, không lùi bước bất kể chiến trận gay go nghiêng ngả như thế nào. Nay, với chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn II, liệu có phải là hơi quá tầm lãnh đạo chỉ huy của ông không? Hay là quyền lực hoặc khả năng của ông bị điều gì đó giới hạn?

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã tự tử ngay ngày 30 tháng 4 năm 1975. Với chiếc xe đạp mới toanh, tôi đến chùa Vĩnh Nghiêm (Sài Gòn) vào sáng sớm ngày 2 tháng 5 năm 1975, trước quan tài ông, đứng nghiêm khá lâu, nhìn chung quanh trước khi đưa tay lên ngang trán chào ông đúng tác phong một sĩ quan cấp dưới. Tôi chào tiễn biệt Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, tiễn biệt Ông vào cõi vĩnh hằng giữa hoàn cảnh đau thương của đất nước, dân tộc!

Năm 1960, trong thời gian tôi học tại Trường Ðại Học Quân Sự, tôi đọc được một tập tài liệu, có nhận định rằng: "Trong chiến tranh Việt Nam, ai chiếm giữ được Cao Nguyên miền Trung, người đó sẽ nắm phần chiến thắng". Chắc chắn rằng, những vị Tướng của chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo quốc gia và lãnh đạo quân đội đều biết tài liệu đó, nhưng có thể các vị bị chính trị đẩy Cao Nguyên ra khỏi tầm tay chăng?

4. Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đã thu ngắn theo chiều Bắc Nam!

Ngược dòng thời gian, thượng tuần tháng 5/1954, Ðiện Biên Phủ do 13.000 quân của Pháp trấn giữ, đã thất thủ làm rúng động toàn bộ quân viễn chinh Pháp tại Ðông Dương và rúng động cả nước Pháp. Và hiển nhiên là sự thất trận này đã đưa nước Pháp đến tình trạng phải rời khỏi Ðông Dương gồm Việt Nam, Cam Bốt, và Lào.

Hơn 20 năm sau -tháng 3/1975- toàn bộ Cao Nguyên miền Trung vào tay quân cộng sản, làm rúng động toàn quân và toàn dân Việt Nam Cộng Hòa. Và liệu sự thất bại này có phải là nguyên nhân dẫn đến toàn bộ Việt Nam Cộng Hòa vào tay quân cộng sản từ ngày cuối tháng 4/1975 không? Dù gì đi nữa thì sự thể đã là như vậy rồi!

Tình trạng hỗn loạn bi đát trong cuộc hành quân lui binh trên đường liên tỉnh số 7, nếu chưa phải là nguyên nhân chính, cũng là khởi đầu cho sự hỗn loạn trong các cuộc hành quân lui binh của Quân Ðoàn I, và các Sư đoàn 1, 2, 3, 22, 23 Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Hải Quân, Không Quân, dọc các tỉnh duyên hải từ Quảng Trị , Huế, Ðà Nẳng, đến Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh.

Trước ngày cuối tháng 3/1975, từ Quảng Trị đến Cam Ranh đều bỏ ngỏ. Tôi nói "bỏ ngỏ" vì không có Tiểu Khu nào hay Trung Ðoàn, Sư Ðoàn nào, phòng thủ chống lại quân cộng sản, hoặc nếu có chống trả như Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại sườn Tây Ðà Nẳng cũng chỉ trong thời gian ngắn ngủi là rút lui, còn lại là rút đi trước khi quân cộng sản đến!

Trong số những vị Tướng Tư Lệnh đại đơn vị thuộc Quân Ðoàn I và Quân Ðoàn II rút khỏi vùng trách nhiệm của những vị đó, tôi luôn tự hỏi về thái độ của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Quân khu I. Tôi được tiếp xúc với ông qua những công tác "dự phòng chống đảo chánh" từ năm 1965 khi ông là Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Nhẩy Dù. Chính vì hiểu ông mà tôi tự hỏi như vậy. Bởi trong cuộc tấn công của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, Huế và nhất là trong khuôn viên thành nội, nơi có bản doanh cùng một số đơn vị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh đồn trú, đã bị quân cộng sản chiếm giữ trong 3 tuần lễ. Lúc bấy giờ, Chuẩn Tướng Ngô Quang Trưởng (cấp bậc lúc ấy) là Tư Lệnh Sư Ðoàn này. Cuộc phản công chiếm lại từng khu vực trong thành nội Huế rất cam go với tổn thất khá nặng, Chuẩn Tướng Trưởng đã chứng tỏ quyết tâm tiêu diệt quân cộng sản hay ít nhất cũng phải đánh bật chúng ra khỏi Huế trong thời gian ngắn nhất, khi ông đứng nghiêm chỉnh ở chân cột cờ với lễ phục và huy chương biểu tượng cho các chiến công của ông, Chuẩn Tướng Trưởng đã kêu gọi quyết tâm của quân sĩ dưới quyền ông hãy vì danh dự và trách nhiệm đối với tổ quốc dân tộc. Qua lời kêu gọi đầy trách nhiệm cùng với nhiệt tâm của ông, chính là quyết tâm của vị Tư Lệnh cùng quân sĩ chiến đấu, đã thúc đẩy cuộc phản công của Sư Ðoàn đến chiến thắng vẻ vang. Ðành rằng trong cuộc hành quân phản công này, có sự chiến đấu yểm trợ của quân lực Hoa Kỳ, nhưng Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Việt Nam vẫn là lực lượng chính.

"Mùa Hè Ðỏ Lửa" năm 1972, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (đã thăng cấp) đang là Tư Lệnh Quân Ðoàn IV/Quân khu IV vùng đồng bằng Cửu Long, được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cử giữ chức Tư Lệnh Quân Ðoàn I/Quân Khu I và tức tốc lên phi cơ ra Ðà Nẳng nhận chức. Một vị Tướng như thế, tôi nghĩ, ông không thể để Ðà Nẳng vào tay quân cộng sản gần như êm thấm như vậy! Xin nhớ, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng gốc là binh chủng Nhẩy Dù, và binh chủng này là một trong những binh chủng rất lì với chiến trận. Nhưng sự thể đã diễn ra như vậy, ắt phải có điều gì đằng sau quyết định rút bỏ thành phố cảng quan trọng của miền Trung. Và chỉ có Trung Tướng Ngô Quang Trưởng mới có thể hiểu đến tận cùng điều ấy mà thôi.

Xin mở ngoặc. Tối ngày 6/9/2003, khi vợ chồng tôi dự tiệc cưới tại Washington DC, chúng tôi ngồi chung bàn với cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, và cựu Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, tôi có ý định hỏi Trung Tướng Trưởng về điều thắc mắc của tôi, nhưng vì cựu Phó Ðề Ðốc Thoại lại đưa vấn đề cuộc đảo chánh ngày 1/11/1963 hỏi tôi nên mãi nói chuyện với ông, để rồi cuối cùng không còn thì giờ xin lời tâm sự từ cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng. Và đóng ngoặc.

Hai chục năm sau năm 1975. Ngày 14/1/1995, tôi gặp anh Nguyễn Thành Trí trong chợ Hong Kong ở Houston, bạn tôi. Anh là cựu Ðại Tá, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, và Sư Ðoàn này đặt dưới quyền sử dụng dài hạn của Quân Ðoàn I từ sau trận chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972. Xin mời quí vị lui lại 20 năm trước, và xin quí vị cứ tưởng như chúng ta đang sống lại những ngày cuối tháng 3 năm 1975 tại Ðà Nẳng, lúc ấy bộ chỉ huy hành quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến ở khu vực Non Nước, để nghe anh kể lại một góc nhỏ trong cuộc triệt thoái khỏi Ðà Nẳng:

''Khoảng 5 giờ chiều ngày 28 tháng 3 năm 1975, quân cộng sản tấn công vào Sư Ðoàn 3 Bộ Binh ở sườn Tây Ðà Nẳng, và chỉ chống trả trong thời gian ngắn là Sư Ðoàn 3 Bộ Binh rút lui, tạo khoảng trống bên sườn của Thủy Quân Lục Chiến, và các đơn vị co về bản doanh Sư Ðoàn (Thủy Quân Lục Chiến). Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, đã rời khỏi Sư Ðoàn và lên chiến hạm của Hải Quân (Việt Nam) từ lúc chiều. Nhưng trước khi đi ông có đến gặp Trung Tướng Ngô Quang Trưởng xin quyết định vì tình hình rất nghiêm trọng, nhưng Trung Tướng Trưởng không nói gì cả. Khi đến bộ chỉ huy hành quân Sư Ðoàn, có cả ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Ðà Nẳng cùng đi với Thiếu Tướng Lân. Ông Tổng Lãnh Sự có mang theo máy vô tuyến cầm tay loại nhỏ, chốc chốc ông ta thông báo vị trí của ông với ai ở đâu đó mà tôi (tức cựu Ðại Tá Trí) không rõ. Thiếu Tướng Bùi Thế Lân nói với tôi rằng: Ông Tổng Lãnh Sự khuyên ổng (tức Thiếu Tướng Lân) nên bảo toàn lực lượng, nhưng Thiếu Tướng Lân không nói điều này với Trung Tướng Trưởng.

''Khoảng nửa đêm 28 rạng 29 tháng 3 năm 1975, có tiếng động cơ trực thăng xuống bãi đáp bên cạnh, sĩ quan trực chạy ra đón và hướng dẫn phái đoàn vào bộ chỉ huy hành quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, gồm các vị: Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Khánh (tôi không biết họ) Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Không Quân (đồn trú tại Ðà Nẳng), Ðại Tá Phước (cũng không biết họ) Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn 51/Sư Ðoàn 1 Không Quân, Ðại Tá Nguyễn Hữu Duệ, Tỉnh/Thị Trưởng Thừa Thiên/Huế, và Ðại Úy sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Trưởng. Tại bộ chỉ huy hành quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến, sau khi Trung Tướng Trưởng liên lạc với các đơn vị và được biết đã rút lui an toàn (tức bỏ Ðà Nẳng), Trung Tướng Trưởng nói với các sĩ quan cùng đi theo ông:

"Bây giờ thì các anh hãy tự thoát, còn tôi , tôi đi theo Thủy Quân Lục Chiến".

''Trung Tướng Trưởng vừa nói xong thì gần như cùng một lúc, Chuẩn Tướng Khánh, Ðại Tá Phước, Ðại Tá Duệ, cùng chào Trung Tướng Trưởng và lên trực thăng cất cánh ngay.

''Khoảng 6 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975, sĩ quan trực vào trình tôi là chiến hạm đang tiến vào để đón các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Tôi đến trình Trung Tướng Trưởng:

"Thưa Trung Tướng, tôi không biết do lệnh từ đâu mà chiến hạm đang chờ đón tôi và các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến. Vậy Trung Tướng nên đi với chúng tôi ngay bây giờ, thưa Trung Tướng".

''Sau một lúc chần chừ như có ý không muốn rời Ðà Nẳng, ông đứng dậy cùng đi với tôi. Nhưng vì chiến hạm không vào sát bờ được, cũng không có tàu nhỏ để từ bờ ra chiến hạm, nên tất cả đều lội nước, và khi mực nước lên đến ngực cũng là lúc trèo lên tàu. Sau khi mọi người lên chiến hạm, lúc ấy tôi trông thấy Ðại Tá Hường (Nguyễn Xuân Hường), Tư Lệnh Lữ Ðoàn 1 Kỵ Binh đã có mặt trên tàu. Chiến hạm lui ra khơi nhưng chưa chạy, có vẻ như chờ lệnh hay chờ ai đó.

''Vài tiếng đồng hồ sau, chiếc trực thăng chở các sĩ quan rời khỏi bộ chỉ huy hành quân Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến lúc nửa đêm qua, đã quay trở lại, không rõ là do thời tiết xấu hay vì lý do gì đó, cả ba vị là Chuẩn Tướng Khánh, Ðại Tá Phước, với Ðại Tá Duệ, cùng lội nước ra chiến hạm. Vẫn là chiến hạm đang có Trung Tướng Trưởng trên đó. Tôi thấy sự chia tay đêm qua sao mà thản nhiên quá, thản nhiên đến mức không có vẻ gì có chút tình cảm đọng lại trong giây phút chia tay đó làm tôi cảm thấy khó chịu. (lời của Phạm Bá Hoa: Thuật chuyện đến đây đôi mắt anh Trí đỏ hoe, chực phát khóc! Rõ ràng là anh đang xúc động!)

Sau phút im lặng vì xúc động, cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Trí kể tiếp:

''Tôi nhờ ông Hạm Trưởng để 3 sĩ quan này ở phía trước hầu tránh cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trông thấy e không đẹp lòng nhau. Mãi đến quá trưa, chiến hạm mới rời vùng biển Ðà Nẳng và trực chỉ Cam Ranh. Giữa chiến hạm với Bộ Tư Lệnh Hải Quân giữ liên lạc vô tuyến chặt chẽ, nên khi chiến hạm vừa đến vịnh Cam Ranh thì nhận được công điện của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Theo đó, Tổng Thống ra lệnh cho tất cả lên bờ, chỉ riêng Trung Tướng Trưởng vẫn ở trên chiến hạm và về Sài Gòn ngay. Tôi thắc mắc nếu muốn Trung Tướng Trưởng về Sài Gòn ngay thì tại sao Tổng Thống hay Bộ Tổng Tham Mưu không cho phi cơ ra Cam Ranh đón mà lại bảo đi bằng tàu? Lúc đó Trung Tướng Trưởng nói là ông đi theo Thủy Quân Lục Chiến chớ không về Sài Gòn. Ðến khi Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II, từ Nha Trang vào Cam Ranh khuyên Trung Tướng Trưởng nên về Sài Gòn theo lệnh Tổng Thống. Sau đó, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I đã theo chiến hạm về Sài Gòn''.

Ðến đây là hết lời kể của cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Với lời thuật trên đây của cựu Ðại Tá Nguyễn Thành Trí, tôi nghĩ rằng: rất có thể là các vị Tư Lệnh đại đơn vị tại Quân Ðoàn I, từ binh chủng Bộ Binh, Nhẩy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, đến quân chủng Hải Quân, Không Quân, và cũng có thể ngay cả Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I nữa, đã nhận được lời khuyên "bảo toàn lực lượng" như Thiếu Tướng Bùi Thế Lân đã nhận của ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Ðà Nẳng cũng nên? Và không chừng chiến hạm vào gần bờ để đón Thủy Quân Lục Chiến cũng từ "lời khuyên" của ông Tổng Lãnh Sự nữa chăng! Vì rõ ràng là cựu Ðại Tá Trí không hề biết lệnh xuất phát từ đâu mà. Và phải chăng với "lời khuyên" đó đã dẫn đến các vị Tư Lệnh có quân có quyền trong tay lần lượt rời khỏi đơn vị hoặc chỉ huy đơn vị triệt thoái? Ðiều này tôi không rõ, nhưng có điều quí vị đều rờ là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn I và Ðà Nẳng đã vào tay quân cộng sản quá dễ như khi vào Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II ở Plei Ku vậy!

Bây giờ xin mời quí vị nhìn vào đoàn người đông đảo đã "bỏ của chạy lấy người" được các loại tàu quân sự lẫn tàu hàng hải, tàu của Việt Nam lẫn thương thuyền ngoại quốc thuê mướn, vận chuyển đồng bào từ Huế, Ðà Nẳng, và các tỉnh dọc duyên hải xuôi Nam, và đưa ra đảo Phú Quốc tạm trú. Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang mà tỉnh lỵ là Rạch Giá, nằm ngay cửa ngỏ vịnh Thái Lan. Số đồng bào chạy loạn này do Bộ Xã Hội phụ trách nuôi ăn trong khi chờ biện pháp giải quyết chung. Bộ Xã Hội yêu cầu Tổng Cục Tiếp Vận giúp họ tiếp tế mỗi ngày 20.000 phần cơm vắt và phi cơ đưa ra Phú Quốc cung cấp cho đồng bào. Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên bảo tôi lo giúp Bộ Xã Hội. Tôi điện thoại lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, xin tiếp chuyện với Thiếu Tướng Trần Bá Di, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm này:

"Hoa đây Anh. Có việc này xin nhờ Anh và hi vọng Anh tiếp tay được". Xin lỗi quí vị, tôi xưng hô như vậy với Thiếu Tướng Trần Bá Di, vì chúng tôi thân nhau từ lâu.

"Việc gì mà coi bộ quan trọng vậy anh?

"Tại Phú Quốc hiện có khoảng 20.000 đồng bào của các tỉnh miền Trung chạy vào tạm trú, bên Bộ Xã Hội nhờ quân đội nấu cơm, vắt lại từng vắt, và dùng phi cơ quân sự đưa ra Phú Quốc cho đồng bào. Chuyện này là chuyện hằng ngày nghe Anh. Gạo thì Bộ Xã Hội cung cấp. Anh liệu Trung Tâm có thể giúp bằng cách nấu cơm, vắt lại, cho vô thùng và đưa ra phi trường được không? Dĩ nhiên là chúng tôi lo phi cơ".

"Ðược chớ. Chuyện chung mà. Nhưng chừng nào tụi tui nấu?

"Ngay hôm nay, để mai là chuyến tiếp tế đầu tiên do quân đội nhận giúp. Vậy Anh cho mượn gạo hôm nay nghe, ngày mai chúng tôi chở gạo đến Anh đủ một tuần, sau đó mình tính tiếp".

"Ðược. Tôi cho nấu ngay. Khi xong, tôi cho anh hay".

"Cám ơn Anh rất nhiều".

"Cái gì mà cám ơn. Mỗi người mỗi đơn vị góp một chút vào trách nhiệm chung chớ!

Xin mời quí vị trở lại với chiến trường đang thu ngắn từ Bắc xuống Nam!

Trong khi vịnh Cam Ranh bỏ ngỏ, thì tại Biên Hòa, nơi có bản doanh của Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn gấp rút tổ chức Bộ Tư Lệnh Tiền Phương, và Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi tình nguyện nhận trách nhiệm chỉ huy Bộ Tư Lệnh này. Ngay sau đó, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương/Quân Ðoàn III di chuyển ra Phan Rang, đặt bản doanh ngay trong căn cứ Sư Ðoàn 6 Không Quân tại phi trường Bửu Sơn (Phan Rang hay là Ninh Thuận), với nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy tuyến phòng thủ tại đây. Phải nhận rằng, sự kiện Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi nhận chức vụ này trong một tình hình hết sức nguy hiểm, vì Phan Rang phút chốc trở thành tuyến đầu trước áp lực của quân cộng sản đang trên đà thắng thế, là một hành động xứng đáng được tuyên dương. Trung Tướng Nghi ngang hàng với Trung Tướng Toàn, mà ông chấp nhận dưới quyền Trung Tướng Toàn, quả là ông hành động vì sự lâm nguy của tổ quốc. Tôi nói "quân cộng sản đang trên đà thắng thế", nhưng không phải chúng thắng thế do thắng trận, mà chúng thắng thế vì các đại đơn vị của chúng ta lần lượt rút bỏ tuyến phòng thủ trước khi quân cộng sản đến. Còn tại sao các đại đơn vị rút bỏ như vậy, tôi nghĩ, chỉ có quí vị Tư Lệnh các đại đơn vị đó mới giải thích được. Nhưng có lẽ không nên loại trừ giả thuyết về nguyên nhân "bảo toàn lực lượng" tương tự như lời của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân -Tư Lệnh Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến- nói với Ðại Tá Nguyễn Thành Trí -Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến- là ông Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Ðà Nẳng đã khuyên ông (tức Thiếu Tướng Lân) như vậy.

Lực lượng dưới quyền Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi thật là phức tạp, vì lực lượng còn lại của Sư Ðoàn 2 Bộ Binh, Sư Ðoàn Nhẩy Dù, và Sư Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến quá mệt mỏi, trong khi tái trang bị cũng như những nhu cầu tiếp liệu khác chưa hoàn chỉnh. Ðiển hình là Sư Ðoàn 2 Bộ Binh từ Quảng Ngãi, và Sư Ðoàn 22 Bộ Binh từ Qui Nhơn, triệt thoái về Vũng Tàu- Bà Rịa, Tổng Cục Tiếp Vận đưa quân trang quân dụng từ Sài Gòn ra tái trang bị theo tiêu chuẩn: "Mỗi Sư Ðoàn tổ chức 2 Trung Ðoàn (thay vì 3), mỗi Trung Ðoàn tổ chức 2 Tiểu Ðoàn (thay vì 3), Pháo Binh Sư Ðoàn tổ chức 2 Tiểu Ðoàn (thay vì 3), mỗi Tiểu Ðoàn Pháo Binh tổ chức 2 Pháo Ðội (thay vì 3), mỗi Thiết Ðoàn Kỵ Binh tổ chức 2 Chi Ðoàn (thay vì 3)". Tất cả chỉ vì không đủ quân số, cũng không đủ quân trang quân dụng, vì số lượng quân trang quân dụng tồn trữ là dành cho nhu cầu thay thế chớ không dự trù để trang bị cấp đại đơn vị. Chỉ có các đơn vị của Thủy Quân Lục Chiến là được Sư Ðoàn này bổ sung quân số tương đối đầy đủ bằng số tân binh vừa huấn luyện xong. Sau khi tái tổ chức, tuy vẫn còn danh hiệu Tiểu Ðoàn, Trung Ðoàn, Sư Ðoàn, nhưng tổ chức đơn vị, trang bị, cộng với tinh thần, phải công nhận là sức chiến đấu các đơn vị chắc chắn sẽ sút giảm nghiêm trọng! Tái tổ chức và trang bị xong, Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh tức tốc chuyển quân ra Phan Rang, trong khi Chuẩn Tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh chuyển quân theo quốc lộ 4 xuống trấn giữ Tân An. Quốc lộ nối liền Sài Gòn với các tỉnh đồng bằng Cửu Long.

Và rồi tuyến đầu Phan Rang thất thủ. Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh chiến trường, và Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh Sư Ðoàn 6 Không Quân, cùng nhiều sĩ quan trực thuộc bị bắt làm tù binh. Tiếp đó là Ðà Lạt, Lâm Ðồng, Bình thuận (tức Phan Thiết), và Bình Tuy (tức Hàm Tân), đều bỏ ngỏ, lui về Vũng Tàu và thủ đô Sài Gòn. Sư Ðoàn 25 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lý Tòng Bá, từ Tây Ninh cũng lui về căn cứ Củ Chi, sát nách Sài Gòn.

Ngay trước ngày rút bỏ Nha Trang, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, chỉ thị tôi gấp rút nghiên cứu tái tổ chức toàn ngành Tiếp Vận và phối trí từ vĩ tuyến 13 (trên địa thế là Phan Rang) trở xuống. Với lệnh này, tôi hiểu là lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn lại từ Phan Rang xuống đến Cà Mau, ra Phú Quốc và Côn Sơn! Tôi chỉ kịp trình bản phác thảo kế hoạch thì Phan Rang thất thủ, và nhiệm vụ nghiên cứu chấm dứt từ đó. Xin nhắc lại là lúc bấy giờ có dư luận về một áp lực từ phía ngoại quốc, buộc Việt Nam Cộng Hòa cắt phần trên vĩ tuyến 13 đến vĩ tuyến 17 giao cho tổ chức gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch. Mặt Trận này là tổ chức ngoại vi của đảng cộng sản Việt Nam và khai sinh vào cuối năm 1960 trong khu rừng già biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Như vậy, dư luận đó không phải là không có cơ sở.

Lui xuống tuyến Xuân Lộc. Tại đây, Sư Ðoàn 18 Bộ Binh do Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo giữ chức Tư Lệnh, ước tính khoảng 2 Sư Ðoàn quân cộng sản mở cuộc tấn công vào Sư Ðoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh. Rất có thể là chúng cứ tưởng "chẻ tre" như từ sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) xuống đến đây, nhưng chẳng may cho chúng là sức kháng cự mãnh liệt của Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, cộng với quyết định sử dụng bom CBU -loại bom hút hết dưỡng khí trong một đường kính nhất định và những ai trong khu vực đó đều không có dưỡng khí để thở- và loại bom 10 tấn dùng khai phá bãi đáp cho trực thăng giữa rừng già, đã gây thiệt hại nặng nề cho quân cộng sản. Thiệt hại đến mức chúng phải rời mục tiêu Sư Ðoàn 18 Bộ Binh để vòng xuống tấn công Biên Hòa. Sau đó, Sư Ðoàn 18 Bộ Binh được lệnh Quân Ðoàn III rút về trấn giữ căn cứ Long Bình.

Về phía Tiếp Vận. Từ sau ngày mất Cao Nguyên đến lúc này, toàn bộ các kho của toàn ngành Tiếp Vận từ Huế vào đến Cam Ranh, hầu như nguyên vẹn khi những đoàn quân triệt thoái, vì Tổng Cục Tiếp Vận không nhận được bất cứ một mệnh lệnh nào phải phá hủy các kho tồn trữ trước khi các đại đơn vị rút lui cả. Mà thật ra nếu có lệnh cũng không chắc là các đơn vị trách nhiệm có đủ thì giờ để phá, vi hầu hết là rút lui trong hỗn loạn chớ có kế hoạch gì đâu mà phá hủy!
  Người Đăng: bomho - Feb 13, 2011 22:31 Collapse   Print  
- chín -

Những Ngày Cuối Cùng.
(ngày 21/4 đến 28/4/1975)

*****

Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đã thu ngắn theo chiều Bắc Nam!

Trong chính trị, không thiếu những cái khôi hài, nhưng khôi hài trong cái gọi là Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa vào cái lúc mà chính Hoa Kỳ muốn "con bệnh Việt Nam mau được tẩn liệm", quả là khôi hài đến rơi nước mắt!

Ðó là những ngày hạ tuần tháng 4 năm 1975, có những chuyến phi cơ vận tải C.130 và C.141 lác đác đáp phi trường Tân Sơn Nhất, mang theo một số đại bác 105 ly đã dùng rồi, một số mũ sắt không đồng bộ, nghĩa là chỉ có mũ nhựa bên trong mà không có mũ sắt bên ngoài, vài trăm túi cứu thương cá nhân,..... mà báo chí gọi là Hoa Kỳ vẫn viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa! Thật là tội nghiệp cho chữ nghĩa! Thật ra, đó chỉ là những chuyến phi cơ đến Sài Gòn với nhiệm vụ chính là chuyên chở những tài liệu và máy móc quan trọng của Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam.

Trong khi Việt Nam cần ngay trước mắt 300.000.000,00 mỹ kim bổ sung nhu cầu duy trì khả năng chiến đấu, thì phái đoàn này rồi phái đoàn khác của Hoa Kỳ lần lượt đến Việt Nam gọi là cứu xét để viện trợ, nhưng dường như họ muốn đến tận xứ sở bất hạnh này để xem chương chiến tranh ý thức hệ giữa cộng sản với tự do bao giờ thì bắt đầu xếp vào quá khứ, khi họ đặt những câu hỏi chẳng thiện cảm chút nào trong lúc họ xem "trưng bày" tại võ đình trường Bộ Tổng Tham Mưu, một số vũ khí tịch thu của quân cộng sản. Mà thật ra các giới chức Việt Nam cũng thừa hiểu là họ không có ý tích cực nào trong mục đích nghiên cứu thời sự cho vấn đề viện trợ bổ sung cả, nên Bộ Tổng Tham Mưu cũng chỉ trưng bày một số vũ khí tịch thu của quân cộng sản từ những chiến trường trước chớ không phải từ chiến trường nóng hổi mới đây. Xin nói thêm rằng, trong tài khóa 1974-1975, Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng Hòa 700.000.000,00 mỹ kim, và đây là lần đầu tiên họ cho biết số ngân khoản viện trợ cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời họ yêu cầu cung cấp cho họ kế hoạch nhận viện, gồm những loại quân dụng nào? Loại đạn nào? Bao nhiêu? ..v..v.. Và Tổng Cục Tiếp Vận đã cung cấp kế hoạch đó cho họ.

Nhớ lại hồi trung tuần tháng 1 năm 1975, tức sau ngày toàn tỉnh Phước Long vào tay quân cộng sản, một phiên họp mật được tổ chức tại phòng họp số 2 của Bộ Tổng Tham Mưu, thường gọi là phòng họp "Tân Sinh Nông Thôn". Tham dự, về phía Việt Nam có:

- Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.

- Chuẩn Tướng Trần Ðình Thọ, Trưởng Phòng 3/Bộ Tổng Tham Mưu, với 5 sĩ quan tham mưu của Phòng 3.

- Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận.

- Tôi, Ðại Tá Phạm Bá Hoa, Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, và 3 sĩ quan nữa của bộ tham mưu chúng tôi.

Phía Hoa Kỳ tham dự, có:

- Thiếu Tướng Smith, Trưởng Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ tại Việt Nam.

- Ðại Tá Pelosky, Phụ Tá Thiếu Tướng Smith về Tiếp Vận, và 2 sĩ quan tham mưu của họ.

Mục đích buổi họp là Văn phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ -chớ không phải do Bộ Tổng Tham Mưu- trình bày kế hoạch tái tổ chức Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (!)với quân số 472.000 người, và Hoa Kỳ dự trù viện trợ duy trì đội quân này mỗi năm là 600.000.000,00 mỹ kim. Họ yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nghiên cứu lại các bảng cấp số của từng loại đơn vị để quân số tham gia tác chiến được 65%. Tất nhiên là buổi họp còn thảo luận nhiều chi tiết nữa.

Xin được nhấn mạnh là họ đã có kế hoạch rút chân ra khỏi Việt Nam trước một tình hình cực kỳ nguy hiểm -bằng chứng là lời của Thiếu Tướng Smith đã nói trong bữa ăn tối nhân Giáng Sinh năm 1974- mà họ lại ra cái điều vẫn quan tâm đến tương lai Việt Nam khi họ đưa ra kế hoạch tái tổ chức quân đội, nghiên cứu kế hoạch viện trợ bổ sung. Ngôn ngữ chính trị là như vậy đó! Nói vậy, nhưng không nhất thiết là như vậy đâu, mà tùy thuộc nhiều yếu tố khác nhau để hiểu loại ngôn ngữ này.

Ðành rằng, những đòi hỏi cấp bách trong nội bộ Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ kết thúc sự can dự của Hoa Kỳ vào chiến tranh chống cộng sản tại Việt Nam, cho nên từ lời nói ngoại giao đến hành động cũng ngoại giao của Hoa Kỳ, chỉ là chuyện đầu môi chót lưỡi của những nhà chính trị cũng như quân sự thôi. Thủ đoạn của những nhà chính trị là điều cần thiết trong phòng thủ hay tấn công đối phương, thậm chí sử dụng ngay cả các quốc gia đồng minh nữa, nhưng thủ đoạn mà Hoa Kỳ sử dụng đối với Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, một quốc gia mà Hoa Kỳ thừa nhận là tuyến đầu chống cộng sản quốc tế tại Ðông Nam Á Châu, quả là thiếu liêm sỉ trong lãnh đạo!

Tôi nghĩ, đây là bài học lãnh đạo mà thế hệ chúng ta không bao giờ quên, bởi vì nó cay đắng quá, bi thảm quá! Và những thế hệ sau chúng ta, nên gìn giữ bài học chứa đựng quá nhiều xương máu của dân tộc trong hành trang vào đời, để nghiền ngẫm mà phục vụ nguyện vọng toàn dân dù ở bất cứ cương vị nào trong xã hội.

Xin mời quí vị quí bạn rời khỏi cái phòng họp gần suốt buổi sáng, nơi ẩn chứa một không khí đầy dối trá trong chính trị lẫn quân sự từ một cường quốc "đồng minh", để nhìn vào một thực tại bi thảm của chúng ta!

Với những cuộc rút lui hỗn loạn của Quân Ðoàn I, Quân Ðoàn II, và phần lớn của Quân Ðoàn III, trong khi toàn lãnh thổ Quân Ðoàn IV gồm 16 tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, chưa có những trận đánh quan trọng nào, và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV, đã ra lệnh báo động cho Sư Ðoàn 7 Bộ Binh, Sư Ðoàn 9 Bộ Binh, Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Sư Ðoàn 4 Không Quân, cùng với Hải Quân, và các đơn vị tác chiến khác -kể cả Ðịa Phương Quân Nghĩa Quân- sẵn sàng chống trả các cuộc tấn công của quân cộng sản. Và cũng đến lúc này (20/4/1975), chưa thấy chỉ dấu nào về một thảm trạng rút lui hay bỏ chạy trong phạm vi Quân Ðoàn IV cả. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, vốn dĩ là mẫu người hiền hòa nhưng rất cương quyết. Ông rất quan tâm và chăm sóc đời sống của quân nhân thuộc quyền. Tư cách và uy tín của ông, hoàn toàn chinh phục được những vị Tướng Lãnh và quân nhân thuộc quyền.

Tổ Quốc đang trong cảnh mất mát suy tàn, với vô vàn đau thương cho tất cả các tầng lớp trong xã hội, nhất là đối với những gia đình từ các tỉnh Cao Nguyên và Duyên Hải miền Trung, đã bỏ của chạy lấy người vào sống nhờ sống tạm trên phần đất mong manh còn lại này, thì tình hình chính trị nội bộ lại lung lay tận gốc rễ. Những tin đồn đoán nào là Ðại Tướng Dương Văn Minh đảo chánh, Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảo chánh, nào là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ chức, ..v..v.. được truyền đi từ người này sang người khác, nhưng thật sự thì chẳng mấy ai biết những tin đó xuất phát từ đâu cả. Thông thường thì những loại tin như vậy cũng không phải hoàn toàn vô căn cứ, nếu nó xảy ra thì trở thành sự thật nhưng nếu nó không xảy ra thì xếp vào loại câu chuyện làm quà hoặc câu chuyện lúc trà dư tửu hậu để tỏ ra mình nắm vững thời cuộc.

Trong loạt tin đồn đoán lần này, có một tin xảy ra đúng như vậy, đó là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống thứ nhì của Việt Nam Cộng Hòa và là Tổng Thống thứ nhất của nền đệ nhị Cộng Hòa, tuyên bố từ chức vào tối 21 tháng 4 năm 1975, sau khi ông mạnh mẽ cáo giác Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam (!) Và ông cũng tuyên bố đại ý rằng, "... quân đội sẽ có thêm một chiến hữu cầm súng chiến đấu ..." Ý nói là Trung Tướng (Thiệu) sẽ tiếp tục phục vụ trong hàng ngũ quân đội. Hơn hai tuần trước đó, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đã bàn giao chức vụ Thủ Tướng cho Dân Biểu Nguyễn Bá Cẩn, đương nhiệm Chủ Tịch Hạ Nghị Viện.

Lúc bấy giờ có dư luận cho rằng, Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm đang được quân đội ủng hộ để trong một tình huống nào đó sẽ thay thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, vì quân đội đang bị Tổng Thống Thiệu đưa chính trị vào "cướp quyền" lãnh đạo của các cấp chỉ huy, và đó là lý do Tổng Thống Thiệu cách chức Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm. Về phần tôi, tôi không thu thập được gì trong các cơ quan sở tại Bộ Tổng Tham Mưu về điều đồn đoán này, nhưng tôi tin là có điều gì đó tựa như "cơm không lành canh không ngọt" giữa Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm.

Xin nhắc lại. Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm lưu vong từ ngày 7 tuần tháng 10 năm 1964, sau đó giữ chức Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Hoa Kỳ. Chuyển sang nhiệm sở tại Trung Hoa Dân Quốc (Ðài Loan) tháng 10 năm 1965. Ðến tháng 5 năm 1968, về Việt Nam giữ chức Tổng Trưởng Nội Vụ. Ðầu năm 1969, giữ chức Phó Thủ Tướng. Và đến đầu tháng 9 năm 1969, thay giáo sư Trần Văn Hương trong chức vụ Thủ Tướng. Rồi khi Thiếu Tướng Nguyễn Văn Vỹ bị cách chức Tổng Trưởng Quốc Phòng năm 1972 vì vụ Quỹ Tương Trợ và Tiết Kiệm Quân Nhân, thì Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm kiêm nhiệm thêm chức vụ này.

Trong những năm chiến tranh chưa đến hồi khốc liệt và được viện trợ đầy đủ, Tổng Thống, Thủ Tướng, sát cánh với quân đội và toàn dân chiến đấu chống cộng sản, nhưng khi tổ quốc thật sự lâm nguy thì hai vị lãnh đạo cao nhất nước, đã kế tiếp nhau chuyển giao chức vụ cho hai vị khác trước cơn dầu sôi lửa bỏng của đất nước nhỏ bé và bất hạnh triền miên này! Sau đó, hai vị đã âm thầm bỏ tổ quốc Việt Nam, nơi mà quí vị được sinh ra và lớn lên. Quí vị bỏ quân đội Việt Nam, một quân đội đã từng đưa quí vị lên tột đỉnh quyền uy danh vọng. Và quí vị bỏ gần 20 triệu đồng bào mà chính Họ đã từng bỏ phiếu bầu một trong hai vị vào chức vụ Tổng Thống trong hai nhiệm kỳ để lo bảo vệ nước, lo chăm sóc dân. Nói chung là quí vị bỏ lại đằng sau tất cả, để rồi quí vị lặng lẽ rời khỏi Việt Nam trong đêm tối trước ngày dân tộc Việt Nam bị cộng sản độc tài cai trị! Còn gì để nói đây!

Nếu sau này quí vị có nói gì với dân tộc Viết Nam khốn khổ này, thì xin quí vị đừng nói rằng: quí vị từ chức chỉ vì Hoa Kỳ không còn viện trợ nên không đủ phương tiện để tiếp tục chống cộng sản nữa! Tôi nghĩ, quí vị đừng nói gì cả thì vấn đề sẽ không tệ thêm!

Theo đúng Hiến Pháp, Phó Tổng Thống Trần Văn Hương đã tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống hai ngày sau đó. Và trên làn sóng đài phát thanh Hà Nội, cộng sản nêu yêu sách và có vẻ như Hoa Kỳ đồng lõa với họ để gây áp lực buộc tân Tổng Thống Trần Văn Hương giao chức vụ này cho nhân vật không dự liệu trong Hiến Pháp 1967. Ðó là Ðại Tướng Dương Văn Minh. Và điều lạ là Ðại Tướng Minh sẵn sàng nhận chức Tổng Thống không hợp hiến từ tay Tổng Thống hợp hiến Trần Văn Hương.

Tân Tổng Thống Trần Văn Hương là một nhà giáo mẫu mực, liêm khiết, một nhà chính trị với tất cả nhiệt tình vì quốc gia dân tộc, và là một nhà lãnh đạo rất bình tĩnh thận trọng. Ông yêu cầu triệu tập Quốc Hội để có quyết định và ông sẽ tôn trọng quyết định đó. Ðiều này cho thấy Tổng Thống Trần Văn Hương không tham quyền cố vị, nhưng ông không thể tự mình chuyển giao chức vụ như vậy được, vì Hiến Pháp không dự liệu điều khoản nào cho trường hợp tương tự.

Ðêm 27 tháng 4 năm 1975, trong khi đường phố thủ đô đông nghẹt đồng bào bồng bế di tản về đây từ các tỉnh đã vào tay cộng sản, Quốc Hội lưỡng viện đã họp và quyết định Tổng Thống Trần Văn Hương bàn giao chức vụ này cho Ðại Tướng Dương Văn Minh. Quyết định này hẳn là hợp "khẩu vị chính trị" nên các vị lãnh đạo quyền uy thi hành ngay. Hoa Kỳ cũng không có ý kiến gì khác.

Nước Pháp đã thua trận trước đối thủ Việt Minh cộng sản được đánh dấu bởi Hiệp Ðịnh Ðình Chiến ký ngày 20 tháng 7 năm 1954 tại thành phố Genève, Thụy Sĩ. Sau đó đoàn cố vấn Hoa Kỳ vào Việt Nam thì quân đội Pháp triệt thoái toàn bộ khỏi Việt Nam trong những tháng đầu năm 1956. Ðến đầu năm 1964, quí vị Tướng Lãnh Việt Nam có khuynh hướng thân Pháp đều bị gạt khỏi vai trò lãnh đạo quân đội từ sau cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 thành công. Và bây giờ, trong tình thế Hoa Kỳ đang như "thua trận" trước đối thủ Việt Nam cộng sản, nước Pháp muốn đưa ảnh hưởng của họ trở lại chính trường Việt Nam với bước đầu là đảm nhiệm "vai trò con thoi" giữa tân Tổng Thống sắp nhận chức Dương Văn Minh với cộng sản Hà Nội. Người thay mặt nước Pháp tại Việt Nam Cộng Hòa trong vai trò đi tìm một giải pháp chính trị khả dĩ hai bên có thể chấp nhận được là Ông Ðại sứ Mérillon. Nhưng đến sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, mới vỡ lẽ rằng, nước Pháp đã bị cộng sản Hà Nội lừa, vì họ nhất quyết đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa chớ không nhằm mục đích tìm giải pháp gì cả. Những toan tính đầu môi của Hà Nội là loại chính sách "ngoại giao hàng tôm hàng cá" mà họ thường áp dụng trong bang giao quốc tế, ấy vậy mà nước Pháp -một trong những cường quốc Âu Châu- bị họ qua mặt dễ dàng. Ðó là "một cái tát đau" mà cộng sản Việt Nam tặng Pháp quốc. Liệu có nên chia xẻ "cái đau" ấy với cường quốc Âu Châu này đã hơn 80 năm đô hộ Việt Nam mình hay không?

Chiều 28 tháng 4 năm 1975, buổi lễ giao và nhận chức Tổng Thống giữa giáo sư và là nhà chính trị lão thành Trần Văn Hương với Ðại Tướng Dương Văn Minh, diễn ra trong không khí hỗn loạn trên đường phố thủ đô và không khí trầm lắng ngay trong Phủ Tổng Thống. Vị Tổng Thống 7 ngày Trần Văn Hương giới thiệu tân Tổng Thống Dương Văn Minh như là một người rất can đảm khi nhận chức vụ này, trong khi tân Tổng Thống Dương Văn Minh rất thận trọng chưa dám hứa là sẽ làm được gì, nhưng ông tin là ông có khả năng thương thuyết với Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam để thành lập chánh phủ liên hiệp, đem lại hòa bình cho quốc gia dân tộc. "Chánh phủ liên hiệp" được hiểu là chánh phủ quốc gia và cộng sản". Tổng Thống Dương Văn Minh không nói đến nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội, mà ông chỉ nói là sẽ thương thuyết với Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ Tịch. Tôi nghĩ, đó là cách dùng chữ của Tổng Thống Dương Văn Minh, nhưng bất cứ người dân nào cũng hiểu rằng, ông Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ hay Thủ Tướng Huỳnh Tấn Phát của cái Mặt Trận đó cũng chỉ là những cái loa của cộng sản Hà Nội thôi. Cho nên Cộng Hòa Miền Nam hay Cộng Sản Miền Bắc, cũng là cộng sản.

Cũng trong lễ bàn giao này, cựu Tổng Thống Trần Văn Hương đã nói một cách dõng dạc và rõ ràng rằng, "... nếu như trời hại mất nước thì ông quyết ở lại với mọi người chớ không bỏ quê hương tổ quốc...". Vị giáo sư mẫu mực và là nhà chính trị lão thành Trần Văn Hương, đã giữ đúng lời nói của mình. Vì sau cùng, ông đã chết ngay trên quê hương Việt Nam giữa muôn vàn đau khổ của đồng bào dưới chế độ cộng sản độc tài nghiệt ngã! Vị giáo sư già đó: ông Trần Văn Hương, xứng đáng được chúng ta ngả mũ cúi chào một cách trân trọng. Từ nơi hải ngoại nửa vòng trái đất xa xôi, xin gởi về một nén hương nhờ cắm trước mộ Giáo Sư Trần Văn Hương, với lời nguyện hương linh Ông siêu thoát nhẹ nhàng . . .

Về lời nói đầu tiên của tân Tổng Thống Dương Văn Minh, thì bất cứ người dân bình thường nào cũng hiểu rằng, kế hoạch hòa bình của ông nếu được cộng sản Hà Nội chấp nhận, chẳng qua là họ chấp nhận đầu hàng theo từng bước. Bước đầu là hòa giải hòa hợp và chỉ cần bước kế tiếp là toàn cõi Việt Nam trở thành cộng sản thôi. Nhưng nói đi cũng nên nghĩ lại, là biết đâu, nếu như "thời cơ" của ông đến thì ông cũng làm nên chuyện vĩ đại lắm chớ.

Nhận xét và suy nghĩ của tôi, Ðại Tướng Dương Văn Minh là một nhân vật dễ tạo cảm tình với nhiều người nhiều giới, nhưng là nhân vật không thích hợp với vai trò lãnh đạo chính trị, lại càng không thích hợp với một tình thế như vậy, vì ông không phải là người tháo vát, nhanh nhẹn, và dũng lược.

Di tản!

Tối 23 tháng 4 năm 1975, Ðại Tá Phạm Kỳ Loan, Tổng Cục Phó Tổng Cục Tiếp Vận, điện thoại đến nhà tôi, ông nói:

"Ðại Tá Pelosky, yêu cầu các sĩ quan Tổng Cục đưa tên gia đình sang bên đó (tức Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ=DAO) để ghi vào danh sách chuyến bay, và gia đình có thể rời Việt Nam vào tối mai hoặc đêm sau đó. Sĩ quan sẽ đi sau. Vậy anh liên lạc đưa danh sách gia đình ngay trong đêm nay cho tôi hoặc đưa thẳng cho Ðại Tá Pelosky cũng được".

Tuy đã biết về lời của Tướng Smith, cùng theo dõi chặt chẽ tình hình chiến sự và tình hình chính trị quốc nội quốc ngoại, nhưng tôi vẫn cảm thấy tin này quá đột ngột, tôi đáp:

"Ðây là vấn đề rất quan trọng đối với cuộc sống gia đình tôi và ảnh hưởng đến thân quyến tôi nữa, nên tôi cần thảo luận với gia đình mới quyết định được anh à. Nghĩa là tôi chưa thể trả lời trong đêm nay, và dù sao thì tôi cũng cám ơn anh".

Thế là từ đêm hôm sau, những gia đình của các sĩ quan trong ngành lần lượt lên phi cơ Hoa Kỳ rời Sài Gòn để đến đảo Guam tạm trú, chờ làm thủ tục và cũng là chờ người thân đến trước khi vào lục địa Hoa Kỳ định cư. Tôi xin nói thêm rằng, không phải gia đình của tất cả sĩ quan trong ngành Tiếp Vận đều ra đi, vì lệnh này không được phổ biến cho nên sĩ quan nào biết thì liên lạc với các sĩ quan trách nhiệm của Tổng Cục Tiếp Vận, các vị này giới thiệu với Ðại Tá Pelosky và được ghi vào danh sách lên phi cơ rời Việt Nam vào đêm sau đó.

Sáng 24 tháng 4 năm 1975, tôi lên văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, ông nói:

"Gia đình tôi không đi mặc dù danh sách đã đưa cho Ðại Tá Pelosky rồi".

"Sao vậy Trung Tướng?

"Anh nghĩ coi, gia đình tôi đâu có tiền, sang bên đó làm sao mà sống. Với lại tình hình quốc gia như thế này mà lại tính chuyện ra đi thì còn mặt mũi gì nữa!

Ngưng một lúc, ông tiếp:

"Mất nước đến nơi mà các ông cứ tranh nhau chức vụ quyền hành (ý nói đến chức vụ Tổng Thống!) Buồn quá!

"Tôi thì chưa tính gì, nhưng nếu Trung Tướng có tính đi thì nên cho gia đình đi ngay kẻo muộn, vì gia đình các anh đơn vị trưởng và các anh Chánh Sở tại Tổng Cục Tiếp Vận mình đã đi rồi".

"Tôi cũng chưa dứt khoát". Lời của Trung Tướng Khuyên.

Nói thì nói vậy, nhưng đêm sau đó -25 tháng 4 năm 1975- gia đình của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên cũng lên đường đi Guam. Theo lời Trung Tướng Khuyên thì Thiếu Tướng Smith thúc giục ông đưa gia đình đi càng sớm càng tốt.

Thật ra thì hành khách trên các phi cơ C130 và C141 rời phi trường Tân Sơn Nhất vào mỗi tối kể từ 24 tháng 4 năm 1975, không phải chỉ có gia đình sĩ quan mà còn có mặt của nhiều người nhiều giới trong xã hội nữa, vì bất cứ ai có bạn bè quen biết với Ðại Tá Pelosky, thì họ giới thiệu hay gởi gắm không có gì khó khăn cả.

Từ ngày bắt đầu di tản với những chuyến bay đêm, thì mỗi sáng tôi đều lên văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, thảo luận về chiến sự và thời sự trong tính cách tâm tình hơn là ra lệnh và nhận lệnh giữa Tổng Cục Trưởng với Tham Mưu Trưởng Tổng Cục. Tấm bản đồ trên vách trái bàn giấy của ông, những ước hiệu hình dáng như cái phong bì màu đỏ tượng trưng đơn vị cộng sản bao quanh Sài Gòn, và tương tự như vậy nhưng màu xanh lá cây tượng trưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phòng thủ thủ đô, thì màu đỏ nhiều hơn màu xanh. Thật ra đó chưa chắc là thực lực của quân cộng sản đến như thế, bởi chúng thường ngụy tạo bằng các sóng truyền tin loại trang bị cho đại đơn vị đặt ở đâu đó, để các sóng tình báo kỹ thuật của mình ghi nhận và ghi lên bản đồ vị trí các đại đơn vị của chúng. Trong số lực lượng cộng sản do Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu ghi nhận trên bản đồ, có thể một số là có thật, số khác rất có thể là chúng ngụy tạo thêm. Tôi nhận định như vậy, vì phi đoàn tình báo kỹ thuật của Phòng 7/Bộ Tổng Tham Mưu đã từng ghi nhận và phát giác sự kiện này.

Lệnh di tản không cho phổ biến đã gây nhiều phẫn nộ ngay trong hàng sĩ quan cao cấp đang phục vụ trong Quân Trấn Sài Gòn, và nhiều vị trong số này đều cho là Bộ Tổng Tham Mưu tắc trách, hoặc có ý gì khác. Tắc trách thì chắc chắn là không, nhưng có ý gì khác hay không thì tôi không rõ, nhưng hiển nhiên là có lời nặng tiếng nhẹ đối với Tổng Cục Tiếp Vận. Chẳng hạn như Y Sĩ Ðại Tá Hoàng Cơ Lân, Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Y là trường hợp điển hình khi ông đẩy cửa thật mạnh và sừng sững trước mặt tôi:

"Tại sao Ðại Tá không thông báo cho chúng tôi biết kế hoạch di tản? Như vậy là ý gì?

"Anh đừng nóng, tôi trả lời anh đây. Chúng tôi không thông báo cho bất cứ ai, vì đó là lệnh mà chúng tôi cũng chỉ là cấp thừa hành thôi. Ngoài ra, không có ý gì hết. Bây giờ xin anh cho biết là anh cần gì?

"Tôi cần đưa gia đình di tản".

"Có gì khó đâu mà anh phải to tiếng. Mời anh sang gặp Ðại Tá Tổng Cục Phó để cung cấp danh sách, và tối mai là gia đình anh đi thôi".

Trong tuần lễ cuối cùng của tháng 4 năm 1975, trên đường về nhà dùng cơm chiều để rồi vào ngủ đêm trong Tổng Cục Tiếp Vận, tôi sử dụng đường Cách Mạng 1/11, chuyển sang đường Hiền Vương và thẳng đường Trần Quốc Toản về cư xá Bắc Hải (cũng gọi là cư xá sĩ quan Chí Hòa). Nhìn đường phố thủ đô chưa đến nỗi gọi là hỗn loạn nhưng cũng không xa ý nghĩa đó bao nhiêu. Tiếng động cơ và tiếng còi inh ỏi của các loại xe, chen lẫn trong âm thanh của những đoàn người ngược xuôi giữa khói mù thải ra từ các xe lớn nhỏ, hòa vào bụi bậm phố phường, đã tạo nên một hình ảnh bi thảm của chiến tranh! Trong những đoàn người từ các tỉnh chạy về đây, người thì tìm nơi cư trú, kẻ tìm phương tiện chạy xa thêm nữa. Các đơn vị quân đội cũng tán loạn, dân không hẳn là dân mà lính cũng không hoàn toàn là lính. Quân phục không nghiêm chỉnh, súng đạn thì kẻ còn người mất, không biết cấp chỉ huy ở đâu mà tìm. Mặt khác, còn phải tìm thân nhân thất lạc sau cuộc di tản đầy hiểm nguy gian khổ! Trông nét thảm thương của các đồng đội, tôi mới thấy tôi còn nhiều may mắn hơn các bạn ấy. Nhưng tôi không làm được gì cả!

Vào phi trường Tân Sơn Nhất để tìm giúp gia đình người bạn và trao bức thư vì anh ấy không vào được, tôi lại chứng kiến cảnh tượng chia tay chưa biết ngày gặp lại thật là xót xa thương cảm! Ðó là những người chờ lên phi cơ mà hầu hết là phụ nữ và trẻ con. Tiếng trẻ con khóc đòi ăn, la đòi bú, những đứa khác thì chạy nhảy rất ngây thơ đến tội nghiệp! Người lớn thì kẻ ngồi người đứng, ưu tư, lo lắng, thậm chí đôi mắt đỏ hoe, và chốc chốc nhìn ra hướng cổng phi trường như mong ngóng người thân trong những giờ còn lại trên phần đất quê hương trước khi "di tản" sang Hoa Kỳ, một đất nước xa xôi đến nửa vòng trái đất! Bên cạnh hình ảnh đau thương đó, nhiều xe du lịch đậu sát lề đường hay trên sân cỏ, và trong số đó có những chiếc xe có sẵn chìa khóa cùng với thẻ chủ quyền có kèm theo mảnh giấy của chủ nhân: "Tặng xe này cho bạn nào ngồi vào tay lái. Xin chào". Tôi đã nhìn vào một chiếc xe như vậy. Trong khi bên ngoài cổng, một dòng xe xếp hàng từ cổng phi trường dài gần đến cổng Bộ Tổng Tham Mưu. Từng gia đình tụm năm tụm bảy trên chiếc chiếu nhỏ hoặc tấm vải trắng dưới cái nắng gay gắt của Sài Gòn tháng tư, và bên cạnh là những thức ăn nước uống ngổn nga, đó là cảnh chạy trốn thảm họa cộng sản!

Xuống bến Bạch Ðằng, nơi có những thương thuyền ngoại quốc lẫn thương thuyền Việt Nam sắp sửa kéo neo, cũng cái cảnh nhốn nháo, vội vã, tiếng gọi ơi ới với tiếng la tiếng khóc của trẻ con, và cả tiếng gào thét giữa người đi kẻ ở, ai ai cũng vội vã, cũng hấp tấp, sao mà bi thảm đến như vậy!

Trong thế kỷ 20 này, người dân sinh sống miền Bắc đã một lần chạy trốn thảm họa cộng sản hồi năm 1954-1955. Giờ đây -20 năm sau- lại một lần nữa, hằng chục ngàn người trong số đó cùng với nhiều chục ngàn người sinh sống miền Nam, đã và đang tìm cách chạy khỏi vòng tay cai trị của cộng sản. Nhưng lần này, họ phải chạy đến một nơi ngôn ngữ bất đồng, văn hóa khác biệt, phong tục tập quán hoàn toàn xa lạ. Nói chung là rất nhiều nỗi lo chồng chất phía trước, nhưng vấn đề cấp bách là phải chạy khỏi nơi đây rồi mọi việc sẽ bắt đầu . . .

Tổ quốc tôi, đất nước tôi, dân tộc tôi, đến thời mạt vận rồi sao!

Sau ngày cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm lên phi cơ sang Ðài Bắc (Ðài Loan), đến Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng một quân đội hơn 1.000.000 người, cũng lên phi cơ rời bỏ Việt Nam! Ông ra đi trong khi Chuẩn Tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, đang quần thảo với khoảng 2 Sư Ðoàn quân cộng sản tại Xuân Lộc và chung quanh. Với những tổn thất nặng nề nhưng quân cộng sản không hạ nỗi Sư Ðoàn 18, nên chúng rời chiến trường Xuân Lộc để chuyển quân xuống tấn công căn cứ Sư Ðoàn 3 Không Quân tại Biên Hòa. Các đơn vị thuộc Sư Ðoàn 1 Không Quân từ Ðà Nẳng, Sư Ðoàn 2 Không Quân từ Plei Ku, Sư Ðoàn 6 Không Quân từ Qui Nhơn và Nha Trang, tập trung về căn cứ Không Quân Biên Hòa, lại chuyển xuống Sư Ðoàn 4 Không Quân ở Cần Thơ, sau khi tham gia đánh chận lực lượng bộ binh và phòng không của địch.

Chiều 28 tháng 4 năm 1975. Từ cửa sổ văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, tôi đứng nhìn toàn cảnh khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, theo con đường chánh về phía phải là ra cổng số 1 tại giao lộ Võ Tánh nối dài với đường Cách Mạng 1/11, về phía trái là cổng số 3 ra đường Võ Di Nguy. Ngay trước tòa nhà chánh là võ đình trường rộng lớn, uy nghi, chính giữa là cột cờ cao vời vợi với lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đang tung bay trong gió. Vẫn những tòa nhà 2 tầng khang trang với dáng vấp kiến trúc Châu Âu, dùng làm văn phòng cho các Tổng Cục và Phòng Sở của Bộ Tổng Tham Mưu. Vẫn những hàng cây trang điểm màu xanh, cũng là buồng phổi của căn cứ quân sự đầu não mà tôi nhìn thấy gần như liên tục hơn 12 năm qua. Vẫn những chiếc quân xa trên những con đường ngang dọc đầy bóng mát. Và vẫn thấp thoáng những quân nhân qua lại giữa các tòa nhà, nhưng tôi tưởng như mình đang trơ trọi giữa khoảng trống mênh mông của một nghĩa trang chiến tranh nào đó! Vì rằng những vị Tướng Lãnh cùng nhiều sĩ quan cao cấp của cơ quan đầu não này đã ra đi, số còn lại cũng đang nói chuyện ra đi, chẳng còn ai nói đến chuyện chiến đấu nữa! Cho đến lúc này thì hầu hết những vị đầy quyền lực của chúng tôi nơi đây, đã cao bay (trực thăng) xa chạy (ra Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ) hết rồi!

Phải chăng, đây là giờ hấp hối của Bộ Tổng Tham Mưu, cơ quan đầu não của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?

Ôi! Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một quân lực vì lý tưởng tự do mà chiến đấu, nhưng lại bất hạnh bởi những vị lãnh đạo quyền lực đã không thi hành trách nhiệm khi tổ quốc thật sự lâm nguy!



- mười -

Giờ Thứ 25

*****

Từ sau ngày Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, hằng ngày, trước đầu giờ và sau cuối giờ làm việc, tôi thường lên văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên để theo dõi và trao đổi tình hình. Qua câu chuyện trao đổi mang tính cách tâm tình với nhau hơn là Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu ra lệnh cho Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận.

Xin mời quí vị quí bạn vui lòng trở lại ngày 27 tháng 4 năm 1975 trước khi vào giờ thứ 25. Tại tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu, đã hết giờ làm việc buổi chiều từ lâu, tôi vẫn còn ngồi trong văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, nghe ông tâm sự:

"Anh biết không, Thiếu Tướng Smith nói với tôi là cấp chỉ huy của ông ta từ Pentagon (lầu năm góc, tức Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) nói ổng đang ủng hộ một Trung Tướng cộng sản ngay tại Sài Gòn".

"Ông ta muốn ám chỉ Trung Tướng phải không?

"Tôi cũng nghĩ vậy".

"Trung Tướng có nói gì không?

"Không".

"Ðến lúc này, Trung Tướng có quyết định ra đi chưa?

Tôi hỏi như vậy là vì lúc sáng, Y Sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh, Cục Trưởng Cục Quân Y, lên hỏi thăm tình hình, Trung Tướng Khuyên yêu cầu Chuẩn Tướng Thanh cho ông 2 chai thuốc độc, và tôi cũng xin 2 chai (1 chai để trong túi và 1 chai trong cặp xách tay). Khi ông xin thuốc độc, điều đó cho thấy có thể là ông không bỏ chạy, hoặc xin thì xin nhưng chạy vẫn chạy. Nhưng tôi nghĩ, ít ra thì Trung Tướng Khuyên đang có hai giải pháp trong đầu. Im lặng một lúc, chừng như ông đang xúc động nên lời nói của ông thật nhỏ:

"Tôi đã hứa với ổng (tức Thiếu Tướng Smith), vì tôi cảm thấy sẽ không an toàn nếu như tôi khước từ di tản".

"Thiếu Tướng Smith có nói bao giờ thì đi không, thưa Trung Tướng?

"Ổng được lệnh từ Pentagon là sẽ đưa tôi đi".

"Thiếu Tướng Smith có nói là sẽ đi vào lúc nào không Trung Tướng?

Trung Tướng Khuyên buông thõng:

"Giờ thứ 25".

"Ổng có nói với Trung Tướng giờ đó là giờ nào không?

"Giờ đó sẽ được quyết định từ Pentagon".

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Dương Văn Minh cho phổ biến bản tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, theo đó thì Tổng Thống yêu cầu Hoa Kỳ lập tức rút toàn bộ các cơ quan và nhân viên Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam Cộng Hòa.

Ngay sau bản tin ngắn ngủi nhưng rất quan trọng đó, từng đoàn trực thăng của Hải Quân Hoa Kỳ vào Sài Gòn, chuyên chở những người "di tản" ra Hạm Ðội 7 ngoài khơi Vũng Tàu. Bãi đáp chính của trực thăng là khu vực Văn Phòng Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ ở Tân Sơn Nhất, và bãi đáp trên sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ, tọa lạc bên trái đại lộ Thống Nhất (từ Dinh Ðộc Lập nhìn về hướng Thảo Cầm Viên).

Tôi xin dừng ở đây để thuật tiếp phần cuối của câu chuyện ngắn (phần đầu tôi đã thuật trong cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963) do cựu Ðại Tá Nguyễn Linh Chiêu kể cho các bạn trong bữa ăn tại nhà ông ở Orange County, Nam California, vào ngày 15 tháng 11 năm 1991. Hôm ấy, tôi là một thực khách trong số đó. Chuyện mà cựu Ðại Tá Chiêu kể lại là nhân chuyến ông sang Paris đầu năm 1991, ông có mời cựu Tổng Thống Dương Văn Minh và cựu Trung Tướng Trần Văn Ðôn dùng cơm, để giúp giải tỏa mối bất hòa giữa hai vị mà cả hai vị đều là bạn thâm giao của cựu Ðại Tá Chiêu. Trong toàn bộ câu chuyện ngắn đó có đoạn cựu Ðại Tá Chiêu hỏi cựu Tổng Thống Dương Văn Minh:

"Tại sao anh mới nhận chức Tổng Thống mà anh ra lệnh đuổi Mỹ về nước?

"Moa" không đuổi Mỹ. Bản văn đuổi Mỹ là do Ðại Sứ Martin (Hoa Kỳ) đưa cho "Moi" và yêu cầu "Moi" phổ biến".

Phần cuối câu chuyện chỉ có thế, nhưng nó cho thấy là Hoa Kỳ đã "an bài chiến tranh chống cộng của Việt Nam Cộng Hòa chúng ta" đến tận cùng chi tiết. Vì vậy mà chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn "đuổi Mỹ" vừa phát đi trên làn sóng đài phát thanh Sài Gòn, thì từng đoàn trực thăng Hoa Kỳ thuộc Hạm Ðội 7 của họ từ ngoài khơi Thái Bình Dương, ào ào vào Sài Gòn, cứ như các trực thăng đó túc trực ứng chiến trên đường bay của Hàng Không Mẫu Hạm vậy. Thậm chí đơn vị Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất và tòa đại sứ từ nửa đêm 28 rạng 29 tháng 4 năm 1975, để bảo vệ cuộc vận chuyển di tản. Các sự kiện đó đã xác định rõ ràng chớ không phải ngẫu nhiên. Ngôn ngữ chính trị là như vậy mà. Nghe vậy, nhưng không phải vậy, mà đôi khi cũng có thể là như vậy.

Vẫn sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, như những ngày trước đó, tôi lên văn phòng Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, để theo dời tình hình, vẫn chưa nghe ông nói gì về giờ thứ 25 mặc dù Tổng Thống đã chánh thức yêu cầu Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 48 tiếng đồng hồ!

Trở về văn phòng, đứng ở lan can ngay trước văn phòng tôi, nhìn sang bãi đáp bên kia hàng rào kẽm gai ngăn cách giữa khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu với một góc của khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất. Từng chiếc trực thăng hạ cánh rồi cất cánh với đầy người chen chúc bên trong, một vài chiếc có cả người còn tòn teng ở càng chân trực thăng chớ chưa vào được bên trong. Lúc ấy tôi liên tưởng đến tấm ảnh với ghi chú ngắn trên những nhật báo phát hành tại Sài Gòn ngày 18 và 19 tháng 4 năm 1975. Tấm ảnh đó chụp lúc những giới chức của quốc gia Cam Bốt, đang chen lấn lên trực thăng Hoa Kỳ để di tản khỏi quê hương của họ, vì quân cộng sản đang tiến chiếm thủ đô Nam Vang (Phnom Penh). Nghĩa là họ thua trận trước Việt Nam Cộng Hòa, nhưng họ hơn ta ở điểm là họ còn chống giữ thủ đô Nam Vang được vài tuần. Câu ghi chú rằng: "Những người Cao Miên đứng bên ngoài rào, trông họ rất thản nhiên khi nhìn cái cảnh trốn chạy của những người từng lãnh đạo đất nước họ ...". Thật lòng mà nói, lúc ấy tôi không biết tôi đang nghĩ gì và phải làm gì khi trông thấy cảnh tượng như vậy diễn ra ngay trước mắt! Có vẻ như tôi chưa sẵn sàng chấp nhận hình ảnh đó là sự thật trong cuộc đời, mặc dù nó đang xảy ra trước mắt tôi!

Không biết có phải là khi một người có những suy tư lo nghĩ trong một mức độ nào đó thì họ còn kiểm soát được, có nghĩa là họ vẫn còn suy tư lo nghĩ, nhưng khi điều suy tư lo nghĩ vượt quá mức kiểm soát thì họ trở nên bình thản trước sự việc chăng? Nếu trong khoa tâm lý và khoa dịch lý có nói đến trường hợp như vậy, thì tôi đang trong tình trạng vượt quá mức kiểm soát đó. Ðứng nhìn cấp trên tôi và các đồng đội tôi đang bỏ chạy mà tôi không biết tôi đang nghĩ gì và phải làm gì nữa!

Trong khi cảnh di tản bằng trực thăng trong khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất ở phần đối diện với khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu vẫn diễn tiến, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên đẩy cửa vào phòng tôi, nhưng tôi bận điện thoại cung cấp nhiên liệu cho Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh đã từ Biên Hòa rút về Gò Vấp. Thấy tôi bận, ông quay trở ra và sang phòng vệ sinh. Ðiện thoại xong, tôi ra đứng cạnh lan can chờ ông. Dĩ nhiên là khi trở ra, Trung Tướng Khuyên trông thấy tôi, ông đi ngang tôi, rồi đi thẳng đến xe Jeep cách tôi chừng 5 bước. Ông lên xe, nhìn thẳng phía trước, và im lặng. Chưa bao giờ tôi thấy thái độ của ông như vậy, do vậy mà tôi nghĩ: "Phải chăng giờ thứ 25 bắt đầu?".

Ông không nói một tiếng nào trong khoảng 5 phút. Ông ra hiệu bằng tay, anh Hạ Sĩ Quan tài xế cho xe lăn bánh. Tôi đứng thẳng người, đưa tay lên trán, chào ông, rồi khoa tay từ biệt để ông hiểu là tôi đoán được chuyện gì đang xảy ra. Nếu tôi không lầm, thì Trung Tướng Khuyên sẽ rất xúc động nếu như ông nói với tôi bất cứ lời nào, vì vậy mà tôi không chút phiền muộn đối với Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên cho dù ông đã không một lời từ biệt, một lời từ biệt với biết bao nguy hiểm cho người đi lẫn người chưa đi!

Lúc đó là 11 giờ 30 phút sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, và tôi xem đây là giây đầu tiên trong 3.600 giây của Giờ Thứ 25!

Khoảng hai tiếng đồng hồ sau đó, Thiếu Tá Tấn, sĩ quan tùy viên của Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, điện thoại tôi:

"Trình Ðại Tá, Trung Tướng đã vào gặp Thiếu Tướng Smith rồi".

"Anh đang ở đâu vậy?

"Tôi đang ở nhà tôi".

"Ủa, anh không đi sao?

"Dạ không Ðại Tá".

"Anh có thể cho tôi biết là sau khi rời chỗ tôi thì Trung Tướng đi những đâu không?

"Rời văn phòng Ðại Tá, Trung Tướng hướng dẫn tài xế lái xe trên nhiều con đường trong Tổng Tham Mưu, rồi ra cổng số 3 (cổng số 3 ra đường Vờ di Nguy) và quanh vào cổng sau phi trường. Tại đây có sĩ quan tùy viên của Thiếu Tướng Smith đón và hướng dẫn vào. Ði được một khoảng thì lính gác Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ gọi tôi lại, bảo tôi tháo khẩu súng lục để lại cổng. Ði bộ vào đến Văn phòng Tùy Viên Quốc Phòng thì Thiếu Tướng Smith đứng chờ ở đó, cả hai ông vào văn phòng, tôi chào Trung Tướng rồi trở về nhà".

"Anh trông thấy nhiều người trong đó chớ?

"Ðông lắm Ðại Tá ơi! Ðông nghẹt người lận".

"Cám ơn anh, và mong là anh em mình còn liên lạc nhau được ngày nào mừng ngày ấy thôi. Chào anh nhé".

Vậy là, quí vị lãnh đạo vừa bàn giao chức vụ lãnh đạo quốc gia lẫn quí vị đương kiêm chức vụ lãnh đạo quân đội, đã lần lượt "rời bỏ Việt Nam" gần như theo hệ thống quân giai cho dù là hệ thống quân giai ngẫu nhiên cũng vậy:

- Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tướng đã hai lần đặt tay lên Hiến Pháp tuyên thệ "bảo vệ quốc gia dân tộc, bảo vệ Hiến Pháp" khi nhận chức Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Ðội, lên phi cơ đi ngoại quốc!

- Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, hơn 5 năm trong chức vụ Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng, lên phi cơ đi ngoại quốc!

- Rồi Ðại Tướng Cao Văn Viên, vị Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 15 tháng 10 năm 1965, lên phi cơ đi ngoại quốc!

- Ðầu giờ thứ 25, Trung Tướng Ðồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, cũng lên phi cơ đi ngoại quốc!

Và khi vị Tổng Tham Mưu Trưởng và Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu, rời bỏ chức vụ để "đi ngoại quốc", thì quí vị Tướng Lãnh cùng nhiều vị Trưởng Phòng của Bộ Tổng Tham Mưu, cũng ra đi!

Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lúc 12 giờ trưa ngày 29 tháng 4 năm 1975, không còn một vị nào có thẩm quyền quyết định bất cứ vấn đề gì hết, ngay cả công tác phòng thủ trại Trần Hưng Ðạo -tức Bộ Tổng Tham Mưu- cũng không ai trách nhiệm nữa. Quân nhân và công chức quốc phòng của Bộ Tổng Tham Mưu trên dưới 2.000 người, không còn cấp chỉ huy, nên họ đành phải quyết định: Tự động tan hàng!

Tôi điện thoại cho Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài (con rể của Tổng Thống Dương Văn Minh), nguyên là Chánh Sở Kế Hoạch/ Tổng Cục Tiếp Vận biệt phái về Phủ Tổng Thống:

"Anh Ðài. Anh vui lòng trình với Tổng Thống là cho đến lúc này, trong Bộ Tổng Tham Mưu không còn vị Tướng Lãnh nào hết, cũng không ai trách nhiệm bảo vệ bản doanh Tổng Tham Mưu nữa. Tôi trình xin Tổng Thống cử người vào chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Nếu hôm nay không có vị nào vào đây thì bộ tham mưu nhẹ của Tổng Cục Tiếp Vận chúng tôi sẽ sang Biệt Khu Thủ Ðô làm việc, vì khách hàng mà tôi yểm trợ chỉ còn Biệt Khu Thủ Ðô và một phần lực lượng của Quân Ðoàn III thôi".

"Ðược rồi, tôi trình "Ông Già" ngay và sau đó sẽ điện thoại anh".

Một lúc sau, Ðại Tá Ðài gọi tôi:

"Ông Già" cho biết, lúc 3 giờ chiều nay sẽ có phái đoàn Tướng Lãnh vào nhận chức trong Bộ Tổng Tham Mưu. Anh yên tâm".

Lúc 2 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, tôi mời các vị Cục Trưởng Cục Phó, Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân, Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận, Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận, đến họp gấp. Kiểm điểm lại chỉ còn Cục Trưởng Cục Quân Y (Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh), Cục Trưởng Cục Quân Vận (Ðại Tá Nguyễn Tử Khanh), Cục Phó Cục Quân Nhu, Cục Phó Cục Công Binh, Cục Phó Cục Quân Cụ, Cục Phó Cục Truyền Tin, Cục Phó Cục Quân Tiếp Vụ, và Cục Phó Cục Mãi Dịch. Tôi vào đề ngay:

"Trong trách nhiệm Tham Mưu Trưởng/Tổng Cục Tiếp Vận, tôi xin thông báo đến quí vị và các bạn về tình hình chung và tình hình nội bộ Tiếp Vận của mình. Về tình hình chung, hiện nay theo Phòng 2/Bộ Tổng Tham Mưu thì có khoảng 10 sư đoàn quân cộng sản bao quanh Sài Gòn và chúng đang áp sát ven ngoại ô. Ðiều đó cho phép dự đoán là chúng có thể tấn công chúng ta bất cứ lúc nào mà chúng cho là thuận lợi. Về lực lượng phòng thủ của ta thì không có đơn vị nào nguyên vẹn, kể cả Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Ngay cả Sư Ðoàn 106 Biệt Ðộng Quân mới thành lập với Ðại Tá Nguyễn Văn Lộc giữ chức Tư Lệnh, Ðại Tá Vũ Phi Hùng làm Tư Lệnh Phó, và Ðại Tá Cao Văn Ủy làm Tham Mưu Trưởng, cũng chỉ là sự kết hợp gấp rút các Liên Ðoàn Biệt Ðộng Quân cùng với vài đơn vị Pháo Binh và Thiết Giáp còn lại thôi. Về nội bộ Tiếp Vận, thì Trung Tướng Tổng Cục Trưởng và gần hết các sĩ quan cao cấp trong Tổng Cục Tiếp Vận, đã tự động rời khỏi nhiệm sở rồi. Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Tiếp Liệu Lục Quân và Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Ðiện Toán Tiếp Vận, cũng thế. Còn tại các Cục, tôi nghĩ là các bạn biết rõ hơn tôi. Thông báo một tình hình như vậy, tôi muốn quí vị và các bạn tùy nghi vì tôi không có thẩm quyền về bất cứ vấn đề gì vượt quá trách nhiệm và quyền hạn của người Tham Mưu Trưởng Tổng Cục. Tôi có bấy nhiêu lời, và nếu không có điều gì cần hỏi, tôi xin chào quí vị, chào các bạn, vì trong chúng ta không ai biết được những gì sẽ chợt đến với mình trong những ngày tháng sắp tới -

Sở dĩ phải nói lời chào ngay vì tôi thấy Ðại Tá Nguyễn Tử Khanh có vẻ như muốn rời phòng họp. Quả thật, hơn tiếng đồng hồ sau đó, Ðại Tá Cao Văn Phước, Cục Phó Cục Quân Vận cho tôi biết là Ðại Tá Khanh đã vội vã xuống Giang Ðoàn Vận Tải và đi rồi.

Lúc 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4 năm 1975, Trung Tướng Vĩnh Lộc -đã một thời là Tư Lệnh Quân Ðoàn II, rồi Chỉ Huy Trưởng Trường Cao Ðẳng Quốc Phòng- vào nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Cùng lúc, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nhận chức Tham Mưu Trưởng/Bộ Tổng Tham Mưu. Và một vài Ðại Tá nhận chức Trưởng Phòng. Ðại Tá Nguyễn Khắc Tuân, chánh văn phòng Trung Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng.

Ðại Tá Tuân gọi tôi lên trình diện Trung Tướng tân Tổng Tham Mưu Trưởng:

"Chào Trung Tướng".

"Chào anh. Những vị Tướng cầm quyền đã chạy hết rồi. Bây giờ chúng mình hãy cùng nhau cố gắng nhiệm vụ trọng đại của Quốc Gia. Vào giờ phút lâm nguy này mới thấy được giá trị của mỗi người như thế nào đối với Tổ Quốc".

"Thưa Trung Tướng, giờ này tôi có mặt ở đây và đang trình diện Trung Tướng, trong khi các cấp chỉ huy trên tôi đã rời khỏi nhiệm sở, và các cấp chỉ huy dưới tôi cũng vậy, có nghĩa là tôi vẫn tiếp tục trách nhiệm của tôi, thưa Trung Tướng".

"Nhiệm vụ yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị phòng thủ Sài Gòn, tôi trông cậy vào anh".

"Vâng. Tôi đã và đang làm tất cả những gì thuộc về trách nhiệm của tôi, và tôi vẫn tiếp tục như vậy. Và nếu không có vị nào khác thì xin Trung Tướng cử Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức vào chức vụ Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, vì tôi được biết Chuẩn Tướng Chức sẵn sàng nhận chức vụ này, thưa Trung Tướng".

"Anh sẽ có vị Tổng Cục Trưởng ngay hôm nay".

"Vâng. Chào Trung Tướng".

Lúc 5 giờ chiều 29 tháng 4 năm 1975, Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Chức, trước là Cục Trưởng Cục Công Binh, kế đến là biệt phái sang phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách khẩn hoang lập ấp, đến nhận chức Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận. Một chức vụ mà Chuẩn Tướng Chức đã hơn một lần tự ông đề nghị thẳng với Trung Tướng Khuyên đề nghị lên cấp trên bổ nhậm ông vào đó. Chuẩn Tướng Chức, trong thời gian sinh hoạt trong "Nhóm Ðời Mới" -tôi cũng là một thành viên trong Nhóm- của cụ Trần Văn Ân, có lần nói với tôi rằng "lên đến Tướng là phải hoạt động chính trị và ông cũng nói thẳng là ông muốn nắm giữ chức vụ cao hơn là Cục Trưởng nếu vẫn phục vụ trong quân đội, vì ông tự thấy khả năng của ông như vậy, và đó mới là tương lai sự nghiệp của ông. Chuẩn Tướng Chức là người rất hoạt động, khi ông tham gia công tác với đơn vị Công Binh của ông thì ông làm nhiệt tình như bất cứ người lính Công Binh nào, và trong những trường hợp như vậy ông rất thích được phóng viên báo chí tiếp xúc. Chuẩn Tướng Chức là mẫu người rất nhiệt tình trong trách nhiệm, và ông cũng rất muốn được xuất hiện trong sinh hoạt chính trường.

Tôi trình bày tình hình chung và tình hình riêng của ngành Tiếp Vận như đã cung cấp cho các vị chỉ huy Tiếp Vận trong buổi họp ngắn ngủi lúc 2 giờ, và tình hình yểm trợ Tiếp Vận cho các đơn vị chiến đấu. Chuẩn Tướng Chức viết tay lệnh bổ nhiệm Ðại Tá Trần Văn Lễ (đang là Chỉ Huy Trưởng Trường Tiếp Vận) trở lại chức vụ Cục Trưởng Cục Quân Tiếp Vụ. Các vị Cục Trưởng đã bỏ nhiệm sở thì ông cử các vị Cục Phó giữ chức Quyền Cục Trưởng.

"Bây giờ xin phép anh tôi về nhà dùng cơm rồi trở lại ngay. Trong thời gian đó nếu có đơn vị nào xin yểm trợ thì anh bảo họ điện thoại cho tôi và tôi giải quyết".

"Ðược rồi, anh về đi. Anh có cần xe mở đường không vì đường phố đông nghẹt người với xe cộ đó?

"Cám ơn anh. Không cần đâu anh".

Không chỉ là đường phố đông nghẹt người mà là hỗn loạn chưa từng thấy! Áng chừng 6 cây số mà phải gần 2 tiếng đồng hồ tôi mới về đến nhà. Dọc đường, tiếng gọi nhau chạy loạn vang vang cả một quãng dài, đúng là "loạn thì lạc!". Trời tối hẳn, những chiếc trực thăng Hoa Kỳ thả "hỏa châu" chiếu sáng liên tục, để từng đoàn trực thăng phụ trách "di tản" thi hành nhiệm vụ. Nhiều phi tuần khu trục phản lực cũng của Hoa Kỳ, gào thét trên không phận thủ đô để sẵn sàng tấn công các đơn vị cộng sản nếu như trực thăng vận tải của họ bị bắn hạ, trong khi đạn phòng không của cộng sản tua tủa vọt lên khoảng không gian bé nhỏ vừa tối lại vừa sáng!

Trong những năm chiến tranh dữ dội, nhất là trong trận chiến "mùa hè đỏ lửa năm 1972", ngày cũng như đêm, người dân Sài Gòn rất quen với tiếng động cơ phản lực chiến đấu, từng đôi từng đoàn, xé không gian lên đường đánh địch bằng hỏa lực mãnh liệt mà nó được các nhà chế tạo Hoa Kỳ nghiên cứu trang bị, và quen đến mức nếu như vắng âm thanh đó thì họ cho là chuyện không bình thường. Bẵng đi một thời gian khá lâu, đêm nay, âm thanh đó trở lại, nhưng là trở lại để đánh dấu một tình huống bi thảm của dân tộc Việt Nam sau hai thập niên chiến đấu vì Dân Chủ Tự Do!

Cơm xong tôi ra xe, nhưng đến 10 giờ đêm mà vẫn chưa ra đến đường Tô Hiến Thành mặc dù chỉ cách nhà tôi hơn 100 thước. Chừng như tất cả mọi người đều đổ xô ra khỏi nhà để tìm đường sống vậy! Tôi xuống xe và chen nhau từng bước giữa khối người là người mới trở vào được trong khu cư xá do các thanh niên trong cư xá canh gác bảo vệ, vì ngay ngoài cổng trước của cư xá đã có vài nhà bị cướp giật rồi. Tôi điện thoại sang Tổng Cục Tiếp Vận:

"Chào anh Chức, Hoa đây anh. Bây giờ tôi không có cách nào ra ngoài cư xá được vì hỗn loạn đến mức không sao tưởng tượng nỗi. Anh cho phép tôi ở nhà, tất cả điện thoại về nhu cầu Tiếp Vận anh chuyển sang cho tôi và tôi giải quyết ngay. Công việc của Tổng Cục mình bây giờ thu gọn lắm rồi anh. Hàng tiếp liệu cho các đơn vị chỉ gồm nhiên liệu và đạn dược, tôi cho lên xe sẵn sàng tại các kho để cung cấp thật nhanh theo yêu cầu. Anh an tâm".

"Ðược rồi. Có gì tôi gọi anh".

Vài trái đạn đại bác của quân cộng sản đã nổ bên ngoài khuôn viên cư xá nhưng chưa gây thiệt hại quan trọng nào. Phi trường Tân Sơn Nhất chắc là bị pháo kích nhiều, vì tôi nghe tiếng đại bác nổ liên hồi ở hướng đó. Trong cư xá có 1 đại đội Nhẩy Dù từ trên căn cứ Hoàng Hoa Thám (đầu phi trường Tân Sơn Nhất phía Hóc Môn) rút về đây, và cư dân an lòng đôi chút vì có lực lượng phòng thủ.

Gần nửa đêm, Ðại Tá Trương Ðình Liệu, Chỉ Huy Trưởng Tổng Kho Long Bình, điện thoại tôi:

"Trình anh là tôi đã cho triệt thoái toàn bộ về đây rồi. Chờ lệnh Tổng Cục hoài không thấy, đến khi các đơn vị trong căn cứ Long Bình rút lui, tôi liền cho anh em theo họ".

"Anh hành động đúng thôi. Chuẩn Tướng Chức nhận chức Tổng Cục Trưởng lúc chiều, ông ấy không ra lệnh thì tôi làm gì được. Về yểm trợ thì tôi lo được, nhưng ra lệnh rút lui thì tôi đâu có thẩm quyền. Anh hiểu tôi rồi hén".

Khoảng 2 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, điện thoại (nhà tôi) reo:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Trung Tướng Lộc đây anh. Lúc nãy, Lữ Ðoàn 3 Kỵ Binh có xin tiếp tế xăng và đạn, không biết là họ liên lạc với anh chưa?

"Chuẩn Tướng (Lê Trung Tường) Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn III có gọi tôi, và tôi đã cung cấp rồi, thưa Trung Tướng".

"Cố gắng nghe anh Hoa".

"Vâng. Tôi đã trình bày với Trung Tướng chiều qua rồi, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ của tôi cho đến khi nào tôi không thể tiếp tục được nữa, thưa Trung Tướng".

Khoảng 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, Thiếu Tá Ông Kim Miêng, chánh văn phòng Tổng Cục Phó, và từ chiều qua là chánh văn phòng Tổng Cục Trưởng, từ văn phòng Tổng Cục Tiếp Vận điện thoại tôi:

"Thưa Ðại Tá, Chuẩn Tướng Chức đã lên xe đi rồi".

"Chuẩn Tướng đi một mình hay đi với ai vậy anh?

"Dạ đi một mình. Chuẩn Tướng đi mà không xách cái cặp theo, và cũng không cho xe hộ tống (xe có còi hụ mà chiều qua ông mang đến) theo nữa".

"Thôi được. Sáng sáng một chút, tôi tìm cách đến Tổng Cục hẵng hay".

Tiếp đó điện thoại lại reo:

"Ðại Tá Hoa tôi nghe".

"Ðài đây anh (Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài). Lúc 10 giờ sáng nay (tức 30/4/1975) "Ông Già" sẽ công bố giải pháp chính trị, anh theo dõi trên đài phát thanh Sài Gòn nghe".

"Nhưng mà nội dung giải pháp là gì?

"Trung lập, như tôi nói với anh đó".

"Vậy là tôi chuẩn bị. Cám ơn anh".

Ðến đây tôi xin mở ngoặc để nói đến 2 điều cho vấn đề được rờ thêm.

Ðiều thứ nhất. Khoảng năm 1998, tôi có dịp gặp anh Nguyễn Hồng Ðài tại thành phố Houston, tiểu bang Texas. Sau khi thăm hỏi nhau, anh xác nhận lời anh đã nói với tôi là đúng như trong quyển Ðôi Dòng Ghi Nhớ, nhưng về thời gian thì sai. Anh nói không phải rạng sáng 30 tháng 4 mà là rạng sáng 29 tháng 4, vì tối 29 tháng 4 anh đang trên tàu ra biển. Trí nhớ của tôi vẫn ghi nhận lời anh nói vào rạng sáng 30 tháng 4, vì đây là đêm đầu tiên tôi "bị" ngủ tại nhà sau 3 tuần cắm trại ngủ tại văn phòng tôi (Tổng Cục Tiếp Vận) trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu, và tôi tiếp chuyện điện thoại với anh lúc tôi từ cửa sổ nhà tôi nhìn lên bầu trời với những âm thanh gào thét của những chiếc phản lực cơ Hoa Kỳ bao vùng yểm trợ cho trực thăng đưa người di tản. Vì vậy tôi vẫn viết lại đây theo trí nhớ của tôi.

Và điều thứ hai. Khi tôi nói "tôi chuẩn bị", tức là tôi chuẩn bị rời khỏi Việt Nam ngay sau khi Tổng Thống Minh tuyên bố trung lập. Nghĩa là tôi và gia đình dự trù rời khỏi Việt Nam nhưng không đi trước khi có giải pháp chính trị, mà ra đi trong lúc giao thời dù chỉ trong ngắn ngủi. Chúng tôi dự trù 6 gia đình, trong số này có 2 gia đình thuộc phi hành đoàn C130, dùng chiếc C130 sang Singapore để đi Australia, vì tôi được sự giúp đỡ của người bạn gốc Trung Hoa trong công ty INTRACO tại Singapore, nối liên lạc với cơ quan ngoại giao Australia tại đó và đã được đồng ý. Xin đóng ngoặc.

Vừa mờ sáng là tôi lên xe. Hướng ngã tư Bảy Hiền -nơi trở thành tiền tuyến- có nhiều tiếng súng trường và tiểu liên, nên không có người đi lại bao nhiêu, và tôi cho xe chạy ngang chợ ông Tạ rồi rẽ sang Võ Tánh nối dài. Quân cộng sản chưa xuống đến ngã tư Bảy Hiền, và tôi an toàn đến Tổng Tham Mưu. Ðến, nhưng không được phép vào.

Chuyện như thế này: Trung Tá Tòng, Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Bộ Tổng Tham Mưu đã tháp tùng Ðại Tướng Cao Văn Viên đi ngoại quốc từ mấy ngày trước, và Trung Tướng Vĩnh Lộc cử Ðại Tá Trần Văn Thăng -sĩ quan An ninh quân đội- giữ chức Chỉ Huy Trưởng Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đang khuyết. Ðại Tá Thăng ra lệnh cho toán Quân Cảnh gác cổng số 1 Bộ Tổng Tham Mưu, không cho bất cứ ai vào nếu không có thẻ an ninh do Sĩ quan an ninh Tổng Hành Dinh/Tổng Tham Mưu đã cấp. Tôi có thẻ, nhưng không bao giờ mang trên túi áo mà là để trong cặp xách tay, và cái cặp thì tối qua tôi vẫn để trên bàn viết ở văn phòng. Tôi làm như vậy là vì tất cả những quân nhân trách nhiệm ở cổng gác này, không ai là xa lạ với tôi cả. Sĩ quan Quân Cảnh nói:

"Ðại Tá thông cảm, vì lệnh của Ðại Tá Thăng như vậy nên tôi phải thi hành".

"Tôi hiểu. Bây giờ Ðại Tá Thăng ở đâu vậy anh?

"Dạ Ðại Tá Thăng dường như lên văn phòng Trung Tướng rồi Ðại Tá".

"Thôi được. Chốc nữa Ðại Tá Thăng về lại văn phòng, anh nói là tôi không có mang theo thẻ an ninh nên không vào được, và tôi sang Biệt Khu Thủ Ðô làm việc ở đó. Cám ơn anh nghe".

"Ðại Tá thông cảm cho tôi nghe Ðại Tá".

"Nếu tôi là anh, tôi cũng vậy thôi mà. Anh đừng bận tâm. Tôi đi đây".

Ðạn đại bác của quân cộng sản nổ nhiều ở Tân Sơn Nhất và bắt đầu nổ trong khuôn viên Bộ Tổng Tham Mưu trong lúc tôi đang nói chuyện với anh sĩ quan Quân Cảnh. Chúng tôi phải nép vào thân cây trước văn phòng Tổng Hành Dinh.

Sang trại Lê văn Duyệt, tôi ngồi tạm trong văn phòng Ðại Tá Ngô Văn Minh, Tham Mưu Trưởng Biệt Khu Thủ Ðô. Tôi báo cho Thiếu Tá Ông Kim Miêng bên Tổng Cục Tiếp Vận biết vị trí của tôi và dặn anh chuyển tất cả điện thoại sang tôi nếu có ai gọi.

Trung Tướng Vĩnh Lộc điện thoại cho tôi, ông đồng ý tôi ngồi ở Biệt Khu Thủ Ðô điều hành công tác yểm trợ Tiếp Vận. Và ông cho biết là ông phải xuống dinh Ðộc Lập để dự lễ ra mắt chánh phủ lúc 9 giờ (sáng). Sau đó tôi mới biết là Trung Tướng Vĩnh Lộc cũng bỏ chạy như những vị Tướng đã bỏ chạy, mà chiều hôm qua, khi ông ra lệnh cho tôi ráng lo về Tiếp Vận, ông đã khá nặng lời với các vị ấy. Nhưng nghĩ cho cùng, Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ ngồi ghế Tổng Tham Mưu Trưởng vỏn vẹn có 18 tiếng đồng hồ, và là 18 tiếng đồng hồ cuối cùng của cuộc chiến 20 năm 9 tháng 10 ngày -tôi nghĩ- ông không phải là vị Tổng Tham Mưu Trưởng có trách nhiệm về cái chết tức tưởi của một quân đội hơn 1.000.000 người!

Tại Bộ Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô. Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (có biệt danh là Minh đờn), Tư Lệnh, đã bỏ chạy rồi. Thiếu Tướng Lâm Văn Phát -người đảo chánh Trung Tướng Khánh ngày 19 tháng 2 năm 1965 thất bại- được Tổng Thống Dương Văn Minh cử giữ chức Tư Lệnh Biệt Khu. Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, giữ chức Tư Lệnh Phó. Thiếu Tướng Phát từ sáng sớm đã lên trực thăng quan sát tình hình, vừa đáp xuống là ông gọi Tư Lệnh Không Quân cho các phi tuần khu trục liên tục oanh kích quân cộng sản đang quanh quẩn dọc con đường từ phía trên ngã tư Bảy Hiền lên đến Hóc Môn. Vị Tư Lệnh Không Quân lúc bấy giờ là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Tần, vì Trung Tướng Trần Văn Minh (không phải là Trung Tướng Minh đã giữ chức Quyền Tổng Tư Lệnh quân lực sau khi Ðại Tướng Nguyễn Khánh lưu vong), Tư Lệnh Không Quân đã cao bay xa chạy rồi. Và Bộ Tư Lệnh Không Quân cùng các phi đoàn còn lại, từ căn cứ Sư Ðoàn 5 Không Quân Tân Sơn Nhất và căn cứ Sư Ðoàn 3 Không Quân Biên Hòa, rút xuống căn cứ Sư Ðoàn 4 Không Quân tại Trà Nóc, cách Cần Thơ khoảng 7 cây số. Tôi nói "các phi đoàn còn lại", là vì đã có nhiều phi công lái hằng trăm phi cơ các loại bay qua căn cứ Utapao của không quân Hoa Kỳ, về phía đông nam thủ đô Bangkok của Vương quốc Thái Lan, di tản.

Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vừa đáp xuống sân Bộ Tư Lệnh, Chuẩn Tướng Lê Văn Thân bảo Ðại Tá Ngô Văn Minh ghi lên bản đồ mà ông đang cầm trên tay, vị trí của các đơn vị bạn để ông bay quan sát và hướng dẫn các phi tuần khu trục tấn công các đơn vị địch. Khoảng một tiếng đồng hồ sau đó, chiếc trực thăng trở về nhưng không có Chuẩn Tướng Thân. Tôi hỏi ngay:

"Chuẩn Tướng Thân đâu rồi các bạn?-

"Chuẩn Tướng bảo tôi đáp xuống Cần Giờ, ổng xuống đó rồi bảo tôi về đi".

"Vậy là Chuẩn Tướng Thân cũng chạy rồi".

(Sáu tháng sau đó, tôi gặp lại Chuẩn Tướng Thân trong cùng trại tập trung Tam Hiệp, Biên Hòa, trại này người địa phương còn gọi là trại Suối Máu nữa)

Ðại Tá Ngô Văn Minh từ trong Trung Tâm Hành Quân gọi tôi:

"Anh Hoa, anh nói chuyện với Lê Minh Ðảo không? Hắn đang ở đầu máy bên kia nè".

Ðó là Thiếu Tướng (mới thăng cấp chưa kịp tổ chức lễ gắn cấp hiệu 2 sao) Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, đã quần thảo với 2 sư đoàn quân cộng sản ở Xuân Lộc và gây cho chúng tổn thất rất nặng. Vì áp lực của chúng quá mạnh, nên Quân Ðoàn III cho lệnh lui về căn cứ Long Bình.

"Chào anh Ðảo, Hoa đây. Anh đang ở đâu vậy?

"Tôi ở chỗ "nhà máy xi măng Hà Tiên" và đang tìm xuồng qua sông. Tụi cộng sản nó đuổi theo sau lưng tôi nè. Hết rồi anh ơi!

"Dù gì thì anh đã đánh nhau với tụi nó một trận ngon lành, anh oai hơn nhiều vị Tư Lệnh khác mà".

"Sao anh ở chỗ anh Minh?

"(Tôi mượn câu của anh để trả lời anh) "Hết rồi anh ơi"! Vì chỉ còn yểm trợ cho Biệt Khu thôi, và giờ này thì còn đơn vị nào nữa đâu. Thôi, chúc anh may mắn nghe, và mong rằng chúng mình vẫn còn gặp lại nhau là mừng rồi".

Sau đó -tức sau giờ Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố buông súng và bàn giao- Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo dùng giấy tờ giả xuống Rạch Giá để hy vọng vượt thoát ra Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ, nhưng anh đã không thực hiện được và trở về nhà trong cùng cư xá với tôi. Sau này, có những năm chúng tôi ở tù chung trong một trại nhưng khác buồng giam.

Lúc 10 giờ 15 ngày 30 tháng 4 năm 1975, từ máy thu thanh trong phòng Ðại Tá Ngô Văn Minh, có âm thanh "... ông nói đi...., nhanh lên,.... chờ gì nữa,....". Một giọng nói gần như quát: "Ông tuyên bố nhanh lên..." Và đại ý lời của Tổng Thống Dương Văn Minh như là một mệnh lệnh đối với quân đội ".... các đơn vị không được nổ súng, ở yên tại chỗ và bàn giao cho lực lượng giải phóng...". Ðối với phía cộng sản, ông yêu cầu đừng nổ súng và ông hứa sẽ bàn giao chánh quyền trong vòng trật tự.

Tôi xem đây là giây thứ 3.600, giây cuối cùng của giờ thứ 25, giờ cuối cùng của ngày thứ 7.583, và là ngày cuối cùng của một giai đoạn chiến đấu bảo vệ tự do dân chủ!

Thế là hết !!!

Tôi lặng lẽ rời nơi đây, theo đường Lê Văn Duyệt, rẽ sang đường Trần Quốc Toản, ép bên phải để ghé vào Cục Mãi Dịch, chào các cộng sự viên cũ của tôi. Trung Tá Nguyễn Văn Thình, Cục Phó, hỏi tôi cách bàn giao ra sao? Tôi bảo:

"Không bàn giao gì cả, các bạn nào muốn lấy gì thì lấy rồi thản nhiên ra về, ai muốn vào đây làm gì mặc họ".

Dọc đường về nhà, những nơi mà tôi vừa đi qua, có biết bao bộ đồ trận -những bộ quân phục từng là biểu tượng quân phong quân kỷ của quân nhân- những mũ những giày, vất vưởng ngổn ngang trên đường phố. Trong dòng người ngược xuôi vội vã, có rất nhiều người quần đùi áo lót mà tôi tin đó là những đồng đội của tôi tạm thời lẩn tránh bọn cộng sản. (Hình ảnh này là một phần trong bản nhạc ''Như Lá Chết Cành Khô'' do cựu Ðại Tá Phan Văn Minh -đã một thời là Ðổng Lý Văn Phòng của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ- sáng tác trong thời gian bị giam ở trại tập trung Hà Tây, tỉnh Hà Sơn Bình).

Quân cộng sản chưa thật sự có mặt trong thành phố, nhưng những tốp thanh niên nam nữ đeo băng tay đỏ với súng M16 trên tay và ngồi xe jeep chạy đó đây trong trên đường phố Sài Gòn. Ðó là những bọn mà chúng tôi gọi là "cộng sản 30 tháng 4". Dù trong một tầm nhìn hạn hẹp đó, tưởng cũng đủ nói lên một cảnh tượng trong biết bao cảnh tượng đau thương ngập tràn trái tim Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vì chưa tròn trách nhiệm với dân với nước!

Chốc chốc tôi sờ vào chai độc dược trong túi, dự định của tôi khi xin Y sĩ Chuẩn Tướng Phạm Hà Thanh là tôi sẽ sử dụng nếu như tôi bị cộng sản bắt hoặc chưa bắt nhưng chúng sỉ nhục tôi. Nhưng, chiều hôm ấy, tôi đã ném nó vào thùng rác và với khẩu súng lục 9 ly (do ông Johnson, trưởng toán tình báo vùng đồng bằng Cửu Long tặng tôi tại Cần Thơ năm 1968) vào cái giếng ngay sau nhà cô tôi ở đường Thành Thái, sau khi vợ tôi ngồi dưới chân tôi vừa khóc vừa nói như van lơn:

"Anh ơi, trong mọi trường hợp, anh đừng bỏ em và các con nghe anh!".

Tôi tin là vợ tôi không biết gì về chai độc dược trong túi tôi, nhưng có lẽ do cảm tính đặc biệt của người vợ thấu hiểu tính chồng trong hoàn cảnh nghiệt ngã mà nói với chồng bằng cả tâm hồn người vợ người mẹ!

Hơn một tiếng đồng hồ sau lời tuyên bố đầu hàng (không nổ súng có nghĩa là đầu hàng rồi!) của Tổng Thống Dương Văn Minh, đơn vị Thiết Giáp đầu tiên của cộng sản mới vào dinh Ðộc Lập. Và từ giờ đó, Việt Nam Cộng Hòa chúng ta bị nhà cầm quyền nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cai trị!

Trong lúc trên dưới 200.000 quân của Quân Ðoàn IV, chưa một trận đánh quan trọng nào, cũng chưa một vị Tư Lệnh nào bỏ chạy, đã phải buông súng đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống Dương văn Minh!

Trước đó, khi cuộc chiến chưa ngừng tiếng súng, có những vị Tướng đầy quyền lực, đã thật sự bỏ chạy ra nước ngoài. Và giờ đây, cuộc chiến thật sự đã tàn, và tàn trong ý nghĩa thua trận, bại trận, hay đầu hàng, hiểu thế nào cũng thế thôi. Nhưng trong cảnh bại trận này, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chúng ta, xuất hiện Những Vị Tướng Thật Sự Là Những Anh Hùng không kém những vị Anh Hùng trong lịch sử đã tuẫn tiết khi thành thất thủ. Ðó là hành động tự sát ngay nơi nhiệm sở chớ không chấp nhận đầu hàng, của:

- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Ðoàn IV. (Cần Thơ)

- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn IV. Chuẩn Tướng Hưng đã được vinh danh "Anh Hùng An Lộc" trong mùa hè đỏ lửa 1972 ở chiến trường An Lộc, tỉnh Bình Long.

- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. (Lai Khê, Bình Dương)

- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh. (Mỹ Tho)

- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Ðoàn II, tự tử tại nhà vì tên tuổi Quân Ðoàn II đã bị chôn theo những nấm mồ vô danh trên đường liên tỉnh số 7 từ giữa tháng 3 năm 1975 rồi.

Ngoài ra, còn biết bao Quân Nhân thuộc các Quân Chủng, Binh Chủng, Binh Sở, Cảnh Sát, Viên Chức Hành Chánh các ngành, đã tuẫn tiết! Ðó là "Những Anh Hùng Vô Danh" rất đáng cho chúng ta trân trọng.

Vào những ngày 30 tháng 4, tôi nghĩ, chúng ta nên dành vài chục giây đồng hồ, đứng hay ngồi ở đâu đó cũng được, cúi đầu, im lặng, để tưởng nhớ những vị Anh Hùng của chúng ta, những người đã cùng chúng ta cầm súng chống quân cộng sản xâm lược, nhưng vào giờ phút kết thúc bi thảm cuộc chiến đấu của chúng ta, thì những vị đó đã can đảm thực hiện tròn vẹn lời thề trước bàn thờ Tổ Quốc trong ngày tốt nghiệp trường võ bị: "... Quyết hy sinh thân mình để bảo vệ Tổ Quốc Dân Tộc ..."

Và theo tôi, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh, là người rất xứng đáng được vinh danh "Anh Hùng Xuân Lộc" trong trận đánh sau cùng. Thiếu Tướng Ðảo, dù bản doanh kế cận thủ đô Sài Gòn nhưng không bỏ chạy, mà trái lại, ông là vị Tư Lệnh duy nhất trong 3 Quân Ðoàn, đã chống trả mãnh liệt và gây tổn thất nặng nề cho 2 Sư Ðoàn quân cộng sản tấn công Xuân Lộc (thuộc tỉnh Long Khánh). Và Sư Ðoàn 18 Bộ Binh chỉ rút lui khi có lệnh của Quân Ðoàn III.

Một giai đoạn lịch sử do Tổng Thống Dương Văn Minh -vị Tổng Thống có nhiệm kỳ chỉ hơn 40 tiếng đồng hồ- vừa sang trang!

Dân Tộc Việt Nam, từ nay dưới sự thống trị của cộng sản độc tài nghiệt ngã!

Quê hương Việt Nam chúng ta,

dân tộc Việt Nam chúng ta,

sao mà bi thảm đến như vậy!

sao mà bất hạnh đến như vậy!
Page 1 of 2Previous page 12 Next page    
  Hình Ảnh
  Bài Cũ
«November 2019»
SuMoTuWeThFrSa
     12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930
  Hình Mới
 • New! Lể Truy Điệu 81 Chiến Sĩ Dù VNCH Ngày 26-10-2019
 • Phi Đoàn 546 Thiên Sứ Họp mặt Oct 17-2019
 • Đại Hội Trực Thăng Kỳ III tại Dallas- phần 2
 • Đại Hội Trực Thăng Kỳ III tại Dallas, Texas
 • Hội Không Quân Florida
  Phân Ưu 
• New! Thành Kính Phân Ưu cùng KQ. Giao Nguyễn .
• Thành Kính Phân Ưu cùng gia đình CH KQ Huỳnh Liên Last replied by tuthiennguyen255
• Thành Kính Phân Ưu cùng Gia Đình NT Nguyễn Đức Hớn
• Cáo Phó từ Gia Đình NT Nguyễn Đức Hớn
• Thiếu tá Nguyễn Hoàng Mai
  Tìm Bạn 
• New! Tìm bạn Nguyên Bình Phong và Lê Hồ Gia
• Tìm KQ Thiếu úy PHẠM NĂNG HƯNG, KHONG LUU Last replied by chocletkd
• Tìm Đ/Úy Mai Thành Tạo - Hoa tiêu trực thăng CH-47
• Cựu trực thăng IP Thomas F Morrissey tìm bạn...
• TÌM NGƯỜI THÂN KQ NGUYỄN CHÁNH TRỰC...
  Nhắn Tin 
• New! Tim dia chi cua Tran Ngoc Nguyen Vu Last replied by thuynguyen530
• Khóa 5/69
• Tìm tr/uy LÊ Thắng không phi hành TSN đừơng... Last replied by Saigonshade
• Tìm CT member: dinhnhi
• Tìm CT member: dinhnhi
  Sức Khoẻ 
• New! Nhớ chắc 8 huyệt vị sinh tử có thể...
• Mất 30 giây tự kiểm tra sức khỏe tại...
• 7 thực phẩm ăn sống cho lợi ích sức...
• Uống rượu vang có tốt cho sức khoẻ ?
• Lạc ngâm giấm – bài thuốc tuyệt vời...
  Hồi Ký 
• Hồi Ký Miền Nam | Người Lính Địa Phương... Click to watch this video from YouTube Last replied by TuDo Click to watch this video from YouTube
• Trại 5 - Mùa Cùm!
• Tôi đi thăm chồng ‘cải tạo’ Last replied by Openmind
• Hồi ký Lương Hữu Thế
• Operation Cobra: The untold story...
  Hội Ngộ 
• New! VNRAF A-37 Reunion 2020
• 69A 50 NĂM HỘI NGỘ
• Đại Hội Trực-Thăng Hải Ngoại kỳ III 30/8/2019 Last replied by huynhtk49
• Đại Hội Chinook 2020 và 50 năm Kỷ Niệm
• 3389th PTS Reunion - 2020 - Save The Date
  Cộng Đồng 
• New! Anh Hùng Không Quân Lý Tống Last replied by tmh
• Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hội... Click to watch this video from YouTube
• Hơn 18 ngàn Úc kim tương trợ 48 tù nhân...
• Tuổi Xuân Huy Hoàng, Tuổi Già Hiu Quạnh
• THẦY ƠI, ĐIỀU THẦY DẠY CHÚNG EM LÀ SAI HAY SAO?
  SVSQKQ 
• ĐẠI HỘI KHÓA 70A SVSQKQ NHA TRANG 50 NĂM
• 70a gặp nhau ở VA! Last replied by Tham237
• Tin buồn về SVSQ KQ Lê Trọng Sơn Last replied by dung
• 70a Mini Reunion 5/25/2019 in VA Last replied by dung
• Điếu văn: Lời tâm sự với KQ Đàm Quang Khánh Last replied by phitrang
  Thơ 
• New! Trăn Trối
• Vợ Chồng Già
• TUYÊN ÁN TÔNG TÔNG
• Các bà nghe tôi dặn đây ...
• TÔI VIẾT CHO ANH NGƯỜI TÙ CẢI TẠO
  Gia Đình F5 
• F-5 Pilot Commissioned Oil Painting Click to watch this video from CanhThepVideo
• F-5B Click to watch this video from CanhThepVideo
• Thử F-5 Chống Lại MiG-21 Click to watch this video from YouTube Last replied by tmh Click to watch this video from YouTube
• 522nd Pilots Click to watch this video from CanhThepVideo
• Before Flying F-5s Click to watch this video from CanhThepVideo
  Giúp Bạn 
• THÔNG BÁO VỀ VIỆC GIÚP ĐỞ CỰU HOA TIÊU...
• XIN GIÚP ĐỞ PHI CÔNG A-37 TRẦN VĂN THANH
• XIN GIÚP ĐỞ PHI CÔNG A-37 TRẦN VĂN THANH
• XIN GIÚP ĐỞ PHI CÔNG A-37 TRẦN VĂN THANH...
• XIN GIÚP ĐỞ PHI CÔNG A-37 TRẦN VĂN THANH... Last replied by bebau1
  Chúc Mừng 
• Chúc Mừng Năm Mới
• Chúc Mừng Năm Mậu Tuất 2018 - Ban Điều... Click to watch this video from YouTube Last replied by tmh Click to watch this video from YouTube
• Nhạc Tết 2018 - Xuân Mậu Tuất 2018 Click to watch this video from YouTube
• New Year 2018 Fireworks in Canada Click to watch this video from YouTube
• Happy New Year 2018 Click to watch this video from YouTube
  Mừng Xuân 
• Đón Xuân Kỷ Hợi 2019 Rộn Ràng Với Dàn... Click to watch this video from YouTube
• Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa Click to watch this video from YouTube
• Lễ gia tiên ngày Tết.
• Diễn Hành Tết Mậu Tuất 2018 tại Little Saigon Click to watch this video from YouTube
• ĐÓN XUÂN NÀY - NHỚ XUÂN XƯA
  Hướng Dẫn 
• Dấu "Hỏi Ngã" Trong Văn Chương Việt Nam Last replied by Toanorlando
• Đăng bài bằng smartPhone!
• Cứu Trợ Phế Binh Không Quân PHAN THÀNH CHÂU Last replied by admin
• Medicare và những ngày quan trọng
• Không có menu bar Last replied by admin
  Hỏi Đáp 
• New! Repost bài đã đăng về trang chinh Last replied by Thanchuy
• Change user name and password Last replied by admin
• Tại sao tôi đóng thuế ít năm nay ?
• Trước khi thuyên chuyển Last replied by dbuikhac
• Cảm ơn phucat532.
  Linh Tinh 
• New! Chó con có đuôi trên đầu ở tiểu bang Missouri, Mỹ
• Bỏ vợ nhà quê lấy con gái sếp, chết...
• Nghệ An: Lợn nái đẻ ra ‘voi’ con
• Họ... Họ Là Người Anh
• Chỉ có ở "Thiên Đường"
  Rao Vặt 
• Canh bay phi cong KQVNCH Last replied by t4nguyen2018
• ban 2 lo dat tai nghia trang quan doi
• Mua Hào Hóa Tàng ! Last replied by luong55
• Phù Hiệu 219 LONG MÃ Available Last replied by 72FLongma219
• Áo bay và áo Jacket, mua dư muốn bán. Last replied by by-83
  Góp Ý 
• Xin hãy... Last replied by phusinh
• To Openmind Last replied by thuytam123
• Góp ý với ông Openmind Last replied by Openmind
• Bài học cho người Việt nam tại Mỹ ?! Last replied by Openmind
• What is SOCIALISM and COMMUNISM ?! Last replied by Openmind
  Chuyện Phiếm 
• New! ĐƯỜNG ZÌA GUÊ ZỢ Last replied by jovinh_aussie
• Lý Do Người Việt Ăn Thịt Chó
• Chuyện Những Con Chó Trò Chuyện Với Nhau
• Chữ "ĐI" trong văn hóa Việt Nam Last replied by vnaf.kanga
• Chuyện tâm linh.
  Tiếu Lâm 
• New! Trời Sinh Như Vậy!
• Ngôn ngữ bất đồng.
• Mua quà tặng vợ.
• Chàng Rể Bắc Kỳ Ra Mắt Bố Vợ
• Coi Chừng Kiến Cắn! Ha Ha Ha..!
  Hình Đẹp 
• Đang bán vé số.
• Tượng-Đài Chiến-Sĩ Việt-Mỹ
• Tổ Quốc Không Gian
• Nhà sách Khai Trí (Sàigòn)
• Huynh đệ chi binh.
  VNAF Models 
• New! Golden Tổ Quốc Không Gian Last replied by phitrang
• Phi-trường Quôc-tế Bạc-liêu Last replied by dbuikhac
• A-37 Đà-Nẵng
• A-37 Phi-hổ PĐ-516 Đà-Nẵng
• L-19 PĐ 116
  Guest Menu
 • Forums
 • Recent Posts
 • Most Reads
 • Selected Posts
 • Games Room
 • Register
  Member Menu
 • My Account
 • Private Message
 • Photo Gallery
 • Chat Room
 • VNAF Reunion
 • Video Room
  New Members
nam868
cerrencedean
CoHg
nhutle
acanadaladies
  Who's Online
Guests:2067
Member:0
Total Online:2067
Total Members:11,927

All logos and trademarks in this site are property of their respective owner.
The comments are property of their posters, all the rest © 2000 - 2019 by Cánh Thép